ĐẠI HỌC ĐI VỀ ĐÂU?

CAO HUY THUẦN – Giáo sư emeritus Đại Học Picardie (Pháp)

Năm ngoái, tôi đã có dịp trình bày về đề tài "Đại học là hàng hóa hay công ích".[1] Tôi đã nói nhiều về chủ nghĩa tân tự do, nguồn cội của những biến chuyển hiện nay trong đại học trên thế giới. Ở đây, tôi sẽ không trở lại với lý thuyết nữa, tôi chỉ triển khai những biến chuyển đó trong cụ thể. Đại học bất cứ ở đâu đều chịu ảnh hưởng của những biến chuyển ấy và dù muốn dù không đều sẽ bị lôi cuốn theo chiều hướng ấy. Đại học Việt Nam e cũng sẽ thế mà thôi.

Tuy nhiên, đại học, văn hóa của một nước, không dễ gì để đánh mất bản sắc quốc gia của mình. Văn hóa Việt Nam, nếu nói theo Khổng thì là trung dung, nếu nói theo Phật thì là trung đạo. Tôi hy vọng tinh thần đó sẽ hướng chúng ta trả lời câu hỏi chung đặt ra cho mọi đại học: đại học là gì ? Từ câu trả lời đó, ta sẽ biết đi về đâu vào thế kỷ mới.

Với sức hiểu biết hạn hẹp của tôi, tôi chỉ có thể trình bày những biến chuyển trong đại học Mỹ và Âu châu. Đại học Mỹ, vì đó là mẫu mực của thời đại tân tự do, khuynh hướng của thế kỷ mới. Đại học Âu châu, vì ở đây, cây đang ngã theo gió nhưng lại gắng gượng không để quỵ. Tình trạng chưa cong nhưng không còn thẳng ấy đưa đến khủng hoảng chưa bao giờ thấy trong đại học Pháp từ đầu năm nay. Dù ở Mỹ hay ở Pháp, tôi lại hạn chế vấn đề vào những tranh luận diễn ra trong lòng các đại học đó. Qua các tranh luận ấy, hy vọng ta sẽ tìm được vài ý cho câu trả lời của chính ta.

I. Tri thức và tiền: đại học Mỹ

Từ lâu, kinh tế tư bản đã đưa thị trường vào đại học Mỹ với cốt lõi của nó là cạnh tranh. Trên lý thuyết, muốn cạnh tranh phải quản lý tốt, quản lý tốt đưa đến hiệu quả. Cạnh tranh, hiệu quả: châm ngôn đó của đại học Mỹ bây giờ đã trở thành kinh nhật tụng của mọi đại học trên thế giới. Dù đàng sau hậu trường của châm ngôn ấy là chủ thuyết tân tự do mà không phải ai cũng chấp nhận, khắp nơi trăm miệng một lời song song: phải cải thiện hiệu quả của đại học và nghiên cứu để đạt cho bằng được lý tưởng "kinh tế tri thức", "xã hội tri thức".

Continue reading

LAO ĐỘNG CÓ KỸ NĂNG: LỖ HỔNG NGHIÊM TRỌNG TRONG PHÁT TRIỂN Ở VIỆT NAM

HỒNG LÊ THỌ

Con số 70% lao động chưa qua đào tạo và 80% chưa qua đào tạo nghề khi tham gia thị trường lao động (theo Báo cáo của Bộ Lao động-Thương binh-Xã hội) đang trở thành rào cản, kìm hãm tốc độ phát triển kinh tế-xã hội.

Phần 1: Từ con số điển hình ở Đồng bằng sông Cửu long (ĐBSCL)

Trong báo cáo về “Nguồn nhân lực ở Đồng bằng sông Cửu Long” (tháng 1/2005) của nhóm nghiên cứu do GS Võ Tòng Xuân làm trưởng đã công bố trên cơ sở những số liệu của Tổng cục Thống kê và khảo sát tại chỗ các tỉnh, kết luận rằng “nguồn nhân lực ở vùng nầy tương đối thấp, tỷ lệ mù chữ là 6%, 33% không học hết tiểu học; 14% tốt nghiệp bậc tiểu học là cấp học bắt buộc theo hiến pháp; 8% tốt nghiệp trung học cơ sở. Như thế, 77% đội ngũ lao động có trình độ học vấn căn bản (trung học cơ sở) trở xuống (!) và 83% lực lượng lao động không được đào tạo tay nghề” (xem Hộp 1 và 2). Chính con số nầy cho thấy đó một trong những yếu tố cản trở sự phát triển của nền kinh tế địa phương cũng như gây lo ngại đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước khi đặt chân đến làm ăn. Có người gọi đó là một trong “nút thắt” ngăn chặn dòng chảy của vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) về các địa phương.

 

Hộp 1: Số người trong độ tuổi lao động

§ Năm 2006 số người trong độ tuổi lao động là 43-44 triệu người, số lao động trong độ tuổi thanh niên là 47% (từ 15-34 tuổi), cả nước mới có 25,4% số lao động qua đào tạo (trong đó 20% qua đào tạo nghề).

§ Số thanh niên tham gia lực lượng lao động bình quân tăng 200.000 người/năm, 50% là tốt nghiệp THCS, THPT.

Nguồn: Vụ LĐ-Việc làm (Bộ Lao động-Thương Binh & Xã hội, tháng 4/2007)

 

Hộp 2:  Thanh niên lao động

§ Cả nước hiện có khoảng 17 triệu thanh niên nông thôn trong độ tuổi 16-33, chiếm 74% tổng số thanh niên và 50% lực lượng lao động trong nông nghiệp.

§ Lao động thanh niên đô thị trong độ tuổi 15-30 chiếm khoảng 25% tổng số thanh niên cả nước và chiếm 43% dân đô thị, 90% thanh niên đô thị có việc làm, thất nghiệp khoảng 6 %.

Nguồn: Vụ LĐ-Việc làm (Bộ Lao động-Thương Binh & Xã hội, tháng 4/2007)

Continue reading

BÀN VỀ CHỨNG TỪ GỐC TRONG GIAO DỊCH THƯ TÍN DỤNG

PHẠM THỊ THANH NGA – Sở giao dịch VietinBank

Trong hoạt động tín dụng chứng từ, việc xác định một chứng từ là bản gốc (original) hay bản sao (copy) là một vấn đề hết sức quan trọng. Chính vì vậy mà trong các văn bản liên quan đến tín dụng chứng từ như UCP, ISPB,.v.v. đều có những điều khoản rõ ràng quy định việc xác định tính chất gốc của một loại chứng từ. Tuy vậy, trong thực tế giao dịch thư tín dụng, các quy định này trong nhiều trường hợp đã từng bị cáo buộc là kẻ tội đồ gây tranh cãi và kiện tụng nhiều nhất. Trong phạm vi bài viết này, tác giả sẽ điểm lại các quy định về chứng từ gốc tại UCP 500, ISBP và gần đây nhất là UCP 600 với mong muốn được chia sẻ kinh nghiệm, các tình huống thực tế với những người mà công việc hàng ngày gắn liền với các giao dịch thư tín dụng.

Quy định về chứng từ gốc tại điều 20(b) UCP 500

Điều 20(b) UCP 500 quy định về chứng từ gốc như sau: “ Trừ phi LC quy định khác, các ngân hàng cũng sẽ chấp nhận là chứng từ gốc (đối với) chứng từ được tạo lập hoặc thể hiện là đã được tạo lập:
(i)     Bằng hệ thống sao chụp, tự động hoặc được vi tính hóa;
(ii)     Là các bản sao bằng giấy than;
Miễn là chứng từ đó được ghi chú là bản gốc và thể hiện được ký ở nơi cần thiết. Chứng từ có thể ký bằng chữ viết tay, bằng chữ ký qua fax, bằng chữ ký đục lỗ, bằng con dấu, bằng biểu tượng, hoặc bằng bất cứ phương pháp xác thực bằng điện tử hay cơ khí khác.”
Quy định về chứng từ gốc như vậy tưởng là đã quá rõ ràng cho các bên thực hành LC. Nhưng trên thực tế đã có không ít tranh chấp liên quan đến vấn đề chứng từ gốc xảy ra. Hai vụ tranh chấp dưới đây đã được tranh luận rất nhiều trên các diễn đàn của cộng đồng những người thực hành thư tín dụng trên toàn thế giới.

Những phán quyết trái ngược của các tòa án khi xác định tính chất gốc của chứng từ.
Vụ tranh chấp 1: Glencore International AG v Bank of China, [1996]

Continue reading