QUẢN TRỊ TẬP ĐOÀN KINH TẾ – NHỮNG THÁCH THỨC LỚN

LG. VŨ XUÂN TIỀN – Tổng giám đốc Cty CP Tư vấn quản lý và đào tạo VFAM Việt Nam

Tập đoàn kinh tế (TĐKT) không có tư cách pháp nhân, không phải một doanh nghiệp. Vì vậy, đặt vấn đề quản trị TĐKT dường như là vô nghĩa. Song, xét cả về lý thuyết và thực tiễn, vấn đề không đơn giản như vậy. TĐKT hình thành, tồn tại và phát triển được là nhờ những liên kết giữa các doanh nghiệp độc lập với nhau. Do đó, quản trị TĐKT chính là quản trị những liên kết đó. Vậy, quản trị TĐKT có những đặc thù gì? Và từ những đặc thù đó, có những thách thức gì? Cần giải quyết những vấn đề gì để nâng cao năng lực quản trị trong các TĐKT ở nước ta hiện nay?

Đặc trưng của quản trị các TĐKT

“Tập đoàn kinh tế là một tổ hợp gồm nhiều doanh nghiệp có tư cách pháp nhân độc lập, hoạt động trong một ngành hay những ngành khác nhau, trong phạm vi một nước hay nhiều nước, tự nguyện liên kết với nhau theo những nguyên tắc và phương thức nhất định, nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường và tối đa hoá lợi nhuận trong kinh doanh”. Đó là một trong những khái niệm về TĐKT. Khái niệm trên cho thấy, đặc điểm quan trọng nhất của TĐKT là không có tư cách pháp nhân. Trong khi đó, theo Luật Dân sự,  một doanh nghiệp, một công ty độc lập có tư cách pháp nhân lại có và buộc phải có đầy đủ bốn điều kiện: Được thành lập hợp pháp; Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; Có tài sản độc lập với các cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; Nhân danh mình trong các quan hệ pháp luật một cách độc lập.
Vì vậy, quản trị một công ty – một pháp nhân, tức là quản trị một “tổ chức chặt chẽ”. Hơn nữa, chính việc hình thành một cơ cấu tổ chức chặt chẽ lại trở thành một trong những biện pháp quan trọng để quản trị pháp nhân đó. Ngược lại, TĐKT thiếu cả bốn điều kiện của một pháp nhân và nhân tố quan trọng nhất của một TĐKT là “tự nguyện liên kết với nhau theo những nguyên tắc và phương thức nhất định”. Dó đó, quản trị TĐKT hoàn toàn khác với quản trị một công ty. Đối tượng của quản trị TĐKT không phải là một tổ chức được thành lập theo những quy định chặt chẽ của pháp luật; không phải là những quan hệ ngang, dọc, trên, dưới trong một bộ máy tổ chức; không phải là một số vốn đầu tư của TĐKT và cũng không phải những quan hệ pháp luật của nó với các TĐKT khác. Quản trị TĐKT là quản trị các mối quan hệ liên kết tự nguyện giữa các pháp nhân độc lập. Vì vậy, đối tượng của quản trị TĐKT là một “tập hợp mờ” trong quản lý. Đó là đặc trưng cơ bản và quan trọng nhất của việc quản trị TĐKT.

Continue reading

BÀN VỀ THÀNH VIÊN ĐỘC LẬP CỦA CÔNG TY

I. THÀNH VIÊN ĐỘC LẬP ANH LÀ AI?

HẢI LÝ

Chúng tôi sẵn sàng trả lương cao và các ưu đãi đi kèm cho những người có thể đại diện cho chúng tôi làm thành viên độc lập trong hội đồng quản trị (HĐQT) những doanh nghiệp nơi chúng tôi góp vốn – tổng giám đốc một công ty quản lý quỹ cho biết. Tìm kiếm người làm thành viên độc lập trong HĐQT đang không chỉ là vấn đề đối với các tổ chức, quỹ đầu tư mà còn của nhiều doanh nghiệp niêm yết. Thành viên độc lập, anh là ai? Và vì sao thị trường tài chính lại cần đến anh vào lúc này?

“Độc lập” trên giấy

Hai năm trước ở một công ty sản xuất dầu ăn niêm yết trên sàn TPHCM đã xảy ra mâu thuẫn giữa HĐQT và ban tổng giám đốc. Hai thành viên độc lập trong HĐQT đại diện cho các quỹ nước ngoài, “đấu tranh” bảo vệ tổng giám đốc, nhưng đã không có kết quả vì chủ tịch HĐQT đại diện cho phần vốn nhà nước 51% có quyền phủ quyết tại đại hội. Cuối cùng các thành viên độc lập từ chức, quỹ đầu tư thoái vốn. Sự rút lui của họ cho thấy vai trò của thành viên độc lập chưa thể thể hiện hiệu quả trong những hoàn cảnh nhất định.

Khoản 1, điều 11, Quyết định 12/2007/QĐ-BTC ngày 13-3-2007 về việc ban hành quy chế quản trị doanh nghiệp áp dụng cho các công ty niêm yết, quy định số lượng thành viên HĐQT một đơn vị ít nhất là 5 người, nhiều nhất 11 người, trong đó một phần ba là thành viên độc lập không điều hành. Khái niệm về thành viên độc lập theo các văn bản pháp lý cho đến nay chỉ có thế. Ngoài ra không ở đâu, không văn bản nào định nghĩa thành viên độc lập là gì, họ phải đáp ứng những tiêu chí nào, trình độ, kinh nghiệm ra sao.

Không có tiêu chí, cũng chẳng có hướng dẫn, nhưng các công ty niêm yết vẫn phải bầu cho được thành viên độc lập vào HĐQT. Vì thế, trong các đợt tập huấn công ty đại chúng, nhiều doanh nghiệp đứng lên hỏi, song đại diện cơ quan quản lý cũng không biết trả lời ra sao. Hỏi không được trả lời, nhưng vẫn phải thực hiện quy định.

Ở nhiều nước, thành viên độc lập là một nghề, được đào tạo hẳn hoi và được trả lương xứng đáng. Việt Nam chưa có một nghề như vậy!

Continue reading

ĐẠI DƯƠNG VÀ LUẬT QUỐC TẾ HIỆN ĐẠI

LÊ VĂN BÍNH – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Tóm tắt. Tìm hiểu đại dương và chế độ pháp  lý của nó  từ góc cạnh của Luật quốc  tế hiện đại  là cần thiết. Điều đó không chỉ vì đại dương chiếm gần 3/4 diện tích bề mặt trái đất, mà nó còn là sự sống, là hiểm hoạ đối với con người. Chúng tôi chọn “Đại dương và Luật quốc tế hiện đại” để trao đổi cùng người đọc. 

1. Đại dương và những thách thức mới (1)

Từ cuối  thế kỷ XX đến đầu  thế kỷ XXI  là giai  đoạn  của  các  thành  tựu  về  khoa  học  kỹ thuật, về toàn cầu hoá các quan hệ quốc tế và về nền  kinh  tế  tri  thức.  Thế  giới  đã  hình  thành “khoảng không gian chung” về thông tin – pháp  lý  và  về  kinh  tế  -  tài  chính,  trong  đó  có  cách  nhìn tiệm cận chung về đảm bảo các quyền của  con người, của các dân tộc và của các quốc gia.

Chính  trong  các  điều  kiện  đó,  an  ninh  cộng đồng quốc tế cũng phải đối mặt với những mạo hiểm  mới,  những  thách  thức  mới  và  những  hiểm  hoạ  mới.  Các  vấn  đề  đó  có  thể  là:  các xung đột trong phạm vi của quốc gia hoặc trong  nội  khối  của  các  tổ  chức  quốc  tế;  khủng  bố quốc  tế;  các  hoạt  động  tội  phạm  có  tổ  chức; nguy cơ phổ biến vũ khí giết người hàng  loạt;  khủng  hoảng  kinh  tế-tài  chính  toàn  cầu;  hiểm hoạ môi  trường;  buôn  bán ma  tuý;  và  dịch  tả  trên  quy mô  lớn.  Tất  cả  các  sự  kiện  nói  trên, trong một chừng mực nào đó có  liên quan đến  đại dương và Luật biển quốc tế.

Khó  đánh  giá  hết  tầm  quan  trọng  của  đại dương  và  vai  trò  của  nó đối  với đời  sống  con người. Vì đại dương  là ngôi nhà chung,  là cầu nối giữa các  lục địa và  giữa các nền văn minh của nhân  loại,  là  tuyến đường giao  thông  thuỷ đặc biệt quan trọng được tạo thành từ các vùng biển với các  chế độ pháp  lý khác nhau. Trong  đó phần  lớn  là biển cả, vùng biển không  thuộc chủ quyền  của bất  cứ một  quốc  gia  nào. Điều đó  được  thể  hiện  trong  nguyên  tắc  tự  do  biển cả: tự do thuỷ vận; tự do hàng không; tự do lắp đặt dây cáp, ống dẫn ngầm; tự do đánh cá; tự do  nghiên  cứu khoa học;  tự  do  xây  dựng  các đảo và  lắp đặt các công  trình nhân  tạo. Tự do biển  cả không có nghĩa  là  tự do một cách  tuyệt đi, mà  tự do phải phù hợp với định chế của Công ước  Liên  hợp  quốc  (LHQ)  về  Luật  biển  năm  1982  (sau  đây  gọi  là Công  ước  năm  1982)  và các quy phạm khác của Luật quốc tế [1].

Continue reading

THỰC TIỄN XÁC ĐỊNH CHA, MẸ, CON: TRUY NHẬN CHA – TÒA HAY SỞ GIẢI QUYẾT

TIẾN HIỂU

Người mẹ nói không hề có chuyện tranh chấp con nên việc xác nhận cha thuộc trách nhiệm giải quyết của Sở Tư pháp.

TAND TP.HCM đã thụ lý đơn kiện của ông S. (quốc tịch Canada) đòi xác nhận cha cho con. Mẹ của đứa bé đã phản đối vì cho rằng việc công nhận này thuộc trách nhiệm của Sở Tư pháp chứ không phải của tòa.

Muốn kết hôn để con có cha

Người mẹ cho biết bà và ông S. quen nhau khi đi du lịch tại đồng bằng sông Cửu Long vào đầu năm 2003. Sau chuyến đi, hai người thường liên lạc rồi về sống chung. Được ít lâu, bà có thai.

Lúc này, cả hai chuẩn bị hồ sơ để làm thủ tục kết hôn. Thế nhưng thủ tục sắp hoàn thành thì ông S. đột nhiên từ chối, không muốn kết hôn nữa. Bị từ hôn, bà chịu nhiều áp lực về kinh tế cũng như những lời gièm pha từ gia đình, dòng họ khi phải sinh con một mình.

Tuy chịu nhiều sóng gió, bà vẫn cố níu kéo tình cảm của ông. Có bận bà đã lặn lội đưa con trai sang Canada thuyết phục ông kết hôn để trong giấy khai sinh của con không khuyết tên cha. Những tưởng khi đưa con sang, ông S. sẽ đồng ý nhưng bà chỉ nhận được sự hững hờ.

Nhận thấy mọi cố gắng của mình không thành, bà đưa con trai quay về nước và coi như chưa từng quen biết ông. Kể từ đó, bà đã một mình gồng gánh nuôi con học hành mà không nhận được bất cứ sự giúp đỡ nào từ phía ông. Thỉnh thoảng ông S. quay lại Việt Nam và xin phép bà cho đưa con đi chơi mấy ngày, bà vui vẻ đồng ý…

Continue reading

RẮC RỐI THỜI HIỆU VĂN BẢN

LG. VŨ XUÂN TIỀN – Chủ tịch Hội đồng thành viên Cty TNHH tư vấn VFAM VN

Thời hiệu của một văn bản được coi là vấn đề “rõ như ban ngày”. Thế nhưng, sự việc dưới đây lại không hẳn như vậy.

Câu chuyên Cty TNHH Thép Thành Long (Cty Thành Long) bị truy thu hơn 12,1 tỷ đồng tiền thuế NK xảy ra từ đầu năm 2009. TGĐ Cty này đã có đơn gửi Thủ tướng để kêu oan. Song, Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn cũng đã thực hiện hàng loạt biện pháp để đôn đốc, thu hồi nợ đọng thuế như: ba lần gửi thông báo yêu cầu Cty nộp đủ số thuế nợ và tiền phạt; thành lập đoàn công tác đến trụ sở Cty Thành Long dể thu nợ và ban hành Quyết định số 676/QĐ-HQLS ngày 22/7/2009 về việc áp dụng biện pháp cưỡng chế trích tiền gửi từ tài khoản ngân hàng đối với số nợ thuế của Cty  Thành Long. Tuy nhiên, sự việc đến nay vẫn chưa có hồi kết.

Nguồn cơn câu chuyện

Vào tháng 11 và 12/2008, Cty Thép Thành Long (Hưng Yên) ký ba hợp đồng nhập khẩu thép hợp kim cán nóng từ Trung Quốc. Số lượng hàng nhập là 28.839 tấn. Cty Thành Long đã mở 17 tờ khai hải quan tại Chi cục Hải quan đường sắt quốc tế ga Đồng Đăng, Lạng Sơn để nhập khẩu số hàng trên và nộp 17,23 tỷ đồng thuế GTGT với thuế suất thuế NK được xác định là 0%. Lô hàng đầu tiên về VN ngày 10/1/2009. Song, ngày 28/2/200, Cty nhận được quyết định về việc ấn định thuế nhập khẩu cho các tờ khai hải quan mở từ ngày 7/2/2009 đến 13/2/2009 với số thuế phải nộp hơn 6,53 tỷ đồng. Ngày 14/3/2009, Cty Thành Long lại nhận thêm quyết định nữa về việc truy thu thuế nhập khẩu đối với các tờ khai hải quan mở từ ngày 1/1 đến 20/1/2009, số tiền thuế “truy thu” hơn 5,56 tỷ đồng. Tổng cộng, số tiền thuế nhập khẩu Cty bị truy thu là 12.147.649.670 đồng.

Một quyết định – hai thời điểm có hiệu lực

Việc Cty Thành Long  bị "truy thu" thuế NK có nguyên nhân chính là hiệu lực thi hành của Quyết định số 123/QĐ-BTC ngày 26/12/2008 của Bộ Tài chính về việc điều chỉnh thuế suất thuế nhập khẩu của mặt hàng thép hợp kim có hàm lượng Bo 0,0008% thuộc mã số hàng hóa 7227900010 từ 0% lên 5%. Việc thay đổi thuế suất thuế NK bằng một quyết định của Bộ trưởng là thuộc thẩm quyền của Bộ Tài chính và phù hợp với Luật Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật tại thời điểm đó. Tuy nhiên, rắc rối xẩy ra từ quy định về hiệu lực thi hành của quyết định này.

Continue reading

BỔ NHIỆM VÀ BÃI MIỄN TỔNG GIÁM ĐỐC: THẾ NÀO LÀ ĐÚNG?

PHẠM HUẤN

TGĐ là người đại diện theo pháp luật của một DN. Vậy, Hội đồng quản trị muốn bãi miễn chức vụ này cần có tiêu chí nào để không xảy ra tranh chấp ?

Cty cổ phần S là một Cty niêm yết. Theo Điều lệ Cty thì TGĐ là người đại diện theo pháp luật. Tháng 10/2007, Chủ tịch HĐQT Cty lấy ý kiến các thành viên HĐQT bằng văn bản về việc bãi miễn TGĐ cũ (là thành viên HĐQT) và bổ nhiệm TGĐ mới. Kết quả kiểm phiếu cho thấy có 3/4 phiếu biểu quyết đồng ý, 1/4 phiếu không có ý kiến (theo Khoản 5 Điều 31 Điều lệ mẫu thì việc bãi miễn TGĐ cũ phải được ít nhất 2/3 thành viên HĐQT biểu quyết tán thành và trong trường hợp này không tính biểu quyết của TGĐ). Sau đó, Chủ tịch HĐQT đã ký Quyết định bãi miễn TGĐ cũ và bổ nhiệm TGĐ mới.

Tuy vậy, TGĐ cũ tuyên bố việc bổ nhiệm TGĐ mới chưa có hiệu lực vì: Theo quy định tại Điểm e Khoản 2 Điều 14 Điều lệ mẫu thì việc bổ nhiệm TGĐ mới của HĐQT phải được Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) phê chuẩn. Ngoài ra, TGĐ là người đại diện theo pháp luật, mà việc thay đổi người đại diện theo pháp luật theo Khoản 3 Điều 29 Nghị định 88/2006/NĐ-CP cần phải có Biên bản và Quyết định của ĐHĐCĐ. Dựa vào các căn cứ pháp lý trên, TGĐ cũ nhất định không chịu bàn giao công việc, sổ sách, con dấu Cty.

Chủ tịch HĐQT lập luận rằng theo quy định tại Điểm i Khoản 3 Điều 25 Điều lệ mẫu và Điểm h Khoản 2 Điều 108 Luật DN 2005 thì HĐQT có toàn quyền bãi miễn TGĐ cũ và việc bãi miễn này không cần phải phê chuẩn của ĐHĐCĐ nên người bị bãi miễn không còn là TGĐ nữa. Còn đối với việc bổ nhiệm TGĐ mới cần phải có sự phê chuẩn của ĐHĐCĐ mới có hiệu lực thì trong thời gian chờ phê chuẩn của ĐHĐCĐ, người được bổ nhiệm giữ chức vụ quyền TGĐ.

Những vấn đề cần giải quyết

Vậy quyết định bãi miễn TGĐ cũ và bổ nhiệm TGĐ mới có hiệu lực khi nào? Tranh chấp xảy ra tại thời điểm Luật DN 2005 có hiệu lực, nên căn cứ để giải quyết là Luật DN 2005 và Điều lệ Cty.

Continue reading

BÌNH LUẬN TỪ VIỆC MEGASTAR BỊ KHIẾU NẠI

PHẠM HOÀI HUẤN

Vụ việc

Megastar là một trong những tên tuổi hàng đầu hoạt động trong lĩnh vực giải trí tại thành phố Hồ Chí Minh. Gần đây, theo các thông tin được đưa trên các phương tiện truyền thông, sáu doanh nghiệp ngành điện ảnh đã nộp đơn đến Cục Quản lý cạnh tranh để khiếu nại Megastar với lý do Megastar đã có hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường. Cụ thể, sáu doanh nghiệp trên đã khiếu kiện Megastar với các lý do như sau:

Thứ nhất, theo phân tích của các doanh nghiệp đứng đơn, hiện nay 90% các phim nhựa chiếu rạp là phim nước ngoài, được các doanh nghiệp nhập khẩu từ các hãng sản xuất phim nước ngoài. Với mỗi phim, hãng sản xuất phim nước ngoài ký hợp đồng với một doanh nghiệp để doanh nghiệp này nhập khẩu và phân phối lại phim cho các doanh nghiệp khác trong nước. Các doanh nghiệp này cũng thống kê rằng, Megastar thường chiếm khoảng 50% số phim nhập khẩu mỗi năm. Cụ thể, tổng phim nhập khẩu trong năm 2009 là 106 phim, riêng Megastar nhập 50 phim. Bên khiếu nại cũng cho rằng, doanh thu từ hoạt động phân phối phim nhựa nhập khẩu của Megastar trong thời gian qua dao động từ 34% đến 75% tổng doanh thu trên thị trường phân phối phim nhựa nhập khẩu tại Việt Nam

Thứ hai, bên khiếu nại cho rằng, Megastar đã vi phạm Luật Cạnh tranh khi có hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường. Cụ thể là việc Megastar áp đặt giá bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý gây thiệt hại cho khách hàng khi áp dụng chính sách định phí thuê phim tối thiểu trên mỗi người xem. Hiểu nôm na, với mỗi phim mà Megastar phân phối cho các doanh nghiệp khác chiếu, Megastar thu 25.000 đồng trên mỗi vé mà các doanh nghiệp này bán ra. Bên khiếu nại cho rằng, cách thu này của Megastar (áp dụng từ đầu tháng 6/2009) đã khiến các doanh nghiệp phải nâng giá vé để tránh lỗ và kết quả là khán giả bị thiệt hại do giá vé tăng.

Thứ ba, ngoài ra, bên khiếu nại cũng cho rằng Megastar đã áp đặt điều kiện trong quan hệ giữa các bên. Cụ thể, Megastar buộc các doanh nghiệp này phải thuê thêm phim khác kèm theo phim muốn thuê. Ví dụ, muốn có phim Transformers (một phim thuộc dạng “bom tấn”, hút khách) thì Công ty Cổ phần phim Thiên Ngân (Galaxy) phải lấy kèm phim Ice Age (là một phim hoạt hình).

Bên khiếu nại còn nêu việc Megastar đã buộc các doanh nghiệp này phải chiếu những phim do Megastar phân phối tại những phòng chiếu do Megastar chỉ định. Hành vi này bị bên khiếu nại cho là Megastar đã áp đặt điều kiện cho các doanh nghiệp.

Continue reading

TRANH CHẤP CHA, MẸ, CON: CÔ GÁI CÂM KIỆN ANH CHĂN VỊT

THANH THIÊN

Tòa đã ba lần mời anh chăn vịt đi giám định gien nhưng anh này đều không chịu đi nên có nghĩa đã mặc nhiên thừa nhận đứa bé là con mình?

Mới đây, TAND huyện Cai Lậy (tỉnh Tiền Giang) vừa xử sơ thẩm vụ chị H. (câm, điếc bẩm sinh) kiện đòi một anh thanh niên phải cấp dưỡng cho con. Dù không nghe, nói được nhưng chị này biết chữ nên đã viết kể tường tận mối quan hệ giữa hai người…

Tác giả là anh chăn vịt

Theo đơn kiện và trình bày của người đại diện cho chị H., khoảng đầu năm 1996, chị thường đi ruộng vào ban đêm. Một anh thanh niên cùng xóm, nuôi vịt gần nhà, thấy chị hay tới lui nên đến làm quen. Lâu dần hai người trở thành thân…

Mấy tháng sau, chị H. ra dấu chỉ vào bụng. Người nhà thấy dáng vẻ chị là lạ nên vội vàng chở đi khám. Kết quả chị đã mang thai khoảng năm tháng.

Người nhà ra dấu hỏi lại chị mang thai với ai. Dù bị tật nhưng chị này vẫn học được chữ nên đã lấy giấy bút viết ra tên người thanh niên chăn vịt. Biết được “thủ phạm”, người nhà chị này liền báo với ấp mời anh này đến hỏi nguồn căn. Tuy nhiên, anh này lắc đầu, không chịu hợp tác.

Sau đó, ấp đã mời nhiều thanh niên lại để cho chị H. nhận mặt ai là tác giả của cái thai. Không chút ngần ngừ, chị chỉ ngay vào anh chăn vịt! Chị cho biết đã quan hệ với anh chăn vịt bảy lần và bào thai trên là kết quả của những lần hai người gần gũi…

Phải có nghĩa vụ cấp dưỡng

Ít lâu sau, chị H. sinh em bé. Sau nữa, chị yêu cầu anh chăn vịt cấp dưỡng cho con nhưng anh này không đồng ý. Do vậy, chị H. phải khởi kiện ra tòa…

Continue reading

NHỮNG KHUYẾT TẬT CỦA CHUẨN MỰC

HỒNG PHÚC

Đã đến lúc nhìn sự phát triển của ta về chiều sâu thay vì chiều rộng. Bởi sự rối ren về chuẩn mực đang khiến có  rất nhiều việc không bình thường được coi là bình thường trong xã hội hiện nay.

Sự không bình thường đó là gì? Là những khuyết tật ngày càng bộc lộ trong đời sống hiện đại nhưng vẫn được xã hội chấp nhận, có khi còn cổ vũ vô  lối cho nó.

Người ta gặp sự bất thường đó ngay từ khi vào đời. Cha mẹ phải chen nhau để tìm chỗ cho con vào những trường tiểu học (rất tốn tiền) mà học sinh chưa học lớp Một đã phải thi đầu vào. Tiêu chuẩn đặt ra với một đứa trẻ chưa từng đến trường: không được ngọng, phải có IQ cao, phải biết tiếng Anh, biết đọc, biết viết… Phong trào mù quáng đó tạo nên sự nhầm lẫn về chuẩn mực cho trẻ lớp Một. Giáo dục khi ấy không giúp trẻ em khơi gợi những khả năng tiềm ẩn của mình như thiên chức của nó mà là một cỗ máy khắc nghiệt gò ép các em.

Chuẩn mực bị đảo lộn khi một thầy giáo hiệu trưởng có thể xâm hại tình dục ngay cả học sinh mới 9 tuổi của mình, một thầy giáo khác thì lạm dụng học trò nữ 13 tuổi; là việc một người từng làm mẹ có thể đâm kim vào thóp đứa trẻ mới hơn một tháng tuổi, một người phụ nữ nghe lời người tình giết con đẻ mình… 

Không riêng gì những vụ việc đau lòng, sự mất cân bằng về chuẩn mực biểu hiện ngay bên ta từ những việc nhỏ nhặt song nó hiển nhiên đến nỗi ít ai thắc mắc. Hai người giúp việc cho hai nhà cạnh nhau, một người Malaysia ăn lương 500 đô la Mỹ/tháng trong khi cũng công việc đó, bà giúp việc người Việt bên cạnh chỉ có lương hơn một triệu đồng. Tức là khi so sánh tiêu chuẩn hai người giúp việc theo cùng một chuẩn mực (về người giúp việc nhà) chúng ta từ lâu nay đã tụt hạng thê thảm. Đó là nỗi đau của người Việt Nam về chất lượng nguồn nhân lực, song nhiều người trong chúng ta đã quen nên không hề thấy xót xa.

Continue reading

TRAO ĐỔI VỀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

PHẠM THÁI QUÍ – Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Bình

Một trong những điểm mới của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) là đã phân tách và quy định hai trình tự thủ tục giải quyết khác nhau đối với vụ án dân sự (có tranh chấp) và việc dân sự (không có tranh chấp). Đây là một sự đổi mới cần thiết để phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn. Tuy nhiên, với quy định mới này qua hơn hai năm thi hành thực tế đã làm phát sinh những vấn đề vướng mắc cả về nhận thức lý luận lẫn thực tiễn…

1. Xác định tư cách người tham gia tố tụng còn mơ hồ

Tại Phần thứ năm của BLTTDS về thủ tục giải quyết việc dân sự không có quy định riêng về người tham gia tố tụng như các quy định về thủ tục giải quyết vụ án dân sự. Nhưng theo quy định tại Điều 311 của BLTTDS về phạm vi áp dụng thì Toà án phải áp dụng các quy định tại chương VI của BLTTDS để xác định tư cách người tham gia tố tụng cũng như các quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ. Tuy nhiên, các quy định tại Chương VI chưa bao quát được những vấn đề cần thiết nên việc xác định tư cách những người tham gia tố tụng khi giải quyết việc dân sự thực tế vẫn còn có sự mơ hồ về mặt pháp lý.

  Trong thời gian qua khi giải quyết các việc dân sự như: Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc hạn chế (sau đây viết gộp là mất hoặc hạn chế) năng lực hành vi dân sự, yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú, yêu cầu tuyên bố một người mất tích, tuyên bố một người là đã chết, đã có nhiều Toà án xác định người tham gia tố tụng gồm người yêu cầu và người bị yêu cầu hoặc biến tướng thành một bên là… với một bên là… Với cách ghi như vậy vô hình chung các Toà án đã xác định những người bị yêu cầu tuyên bố mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự, người vắng mặt nơi cư trú, người mất tích… là đương sự tham gia tố tụng tương tự như là một bị đơn. Ngoài ra, có Toà án lại xác định những người này là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Theo đó, một khi đã xác định họ là đương sự thì họ phải được thực hiện các quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng. Chẳng hạn như tại bản Thông báo kết quả giám đốc án số 01/GĐKT ngày 16/5/2007 của TAND tỉnh Q cho rằng “Quyết định giải quyết việc dân sự số 01/2007 ngày 13/2/2007 về việc thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú của TAND huyện QT không tuyên quyền kháng cáo của người bị yêu cầu là thiếu sót”. Vậy, với cách xác định và nhận định như trên liệu có đúng hay không?

Continue reading

BÀN VỀ CHẾ ĐỊNH CHỨNG MINH VÀ CHỨNG CỨ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

PHẠM THÁI QUÍ – Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và HĐND tỉnh Quảng Bình

Chứng minh và chứng cứ là yếu tố xương sống của pháp luật tố tụng nói chung trong đó có pháp luật tố tụng dân sự. Mọi hoạt động tố tụng đều tập trung làm rõ những vấn đề cần phải chứng minh bằng việc thu thập và đánh giá chứng cứ. Có thể nói rằng chế định chứng minh và chứng cứ của Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) không chỉ thay đổi về lượng mà còn đã biến đổi cả về chất so với pháp luật tố tụng dân sự trước đây. Đó là đã quy định và cụ thể hoá nguyên tắc cơ bản trách nhiệm cung cấp chứng cứ và chứng minh thuộc về các đương sự. Tuy vậy, một mặt do chế định này vẫn còn tồn tại những khoảng trống, mặt khác do trình độ nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật của mọi người còn hạn chế nên thực tế đã không phát huy được tác dụng của các quy định mới này.

1. Vướng do luật

BLTTDS quy định, nếu xét thấy chứng cứ chưa đầy đủ để giải quyết vụ án thì Thẩm phán yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung chứng cứ. Trong trường hợp đương sự đã áp dụng các biện pháp cần thiết mà vẫn không thể thu thập được chứng cứ thì có thể yêu cầu Toà án tiến hành thu thập chứng cứ. Như vậy, trong mọi trường hợp Toà án chỉ được phép yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ khi và chỉ khi đương sự có yêu cầu. Đây là một quy định có mặt tiến bộ là bảo đảm tính khách quan trong việc giải quyết vụ việc dân sự, tuy nhiên cũng đã tạo ra một khoảng trống pháp lý làm bó tay Toà án trong việc bảo vệ nền pháp chế. Vụ việc sau đây sẽ minh chứng cho điều này.

L.T.H là một đối tượng đã đã hai lần bị kết án về tội trộm cắp tài sản với hình phạt 18 tháng tù. Tuy nhiên, sau khi các bản án có hiệu lực pháp luật H đã liên tiếp sinh thêm hai người con, do đó TAND huyện T đã phải ra đến 4 quyết định hoãn và 3 quyết định tạm đình chỉ thi hành hình phạt tù chỉ với hai lý do là đang mang thai và đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi. Và cuối cùng thì thời gian hoãn và tạm đình chỉ thi hành án đã đủ để H được hưởng thời hiệu thi hành bản án. Không lấy đó làm bài học cảnh tỉnh để làm ăn chân chính mà ngược lại H lại chuyển sang chứa mại dâm. Với hành vi nhiều lần chứa mại dâm H đã bị TAND tỉnh Q và Toà phúc thẩm TAND tối cao tại Đà Nẳng xử phạt 6 năm tù. Vì đã có đến 4 mặt con nên không thể tiếp tục chiêu bài củ là sinh con để chạy thời hiệu nữa nên H đã nghỉ ra chiêu lách luật mới hữu hiệu hơn. Đó là, trong thời gian chờ tự nguyện thi hành án H đã nhanh chóng cùng chồng nộp đơn đến Toà án yêu cầu giải quyết việc thuận tình ly hôn, theo đó hai vợ chồng thuận tình ly hôn, tài sản chung không yêu cầu giải quyết, còn việc nuôi con sau khi ly hôn hai bên đã thoả thuận giao cho H trực tiếp nuôi ba người con, trong đó có hai cháu nhỏ sinh năm 1998 và sinh năm 1999. Sau khi hết thời hạn tự nguyện nhưng H vẫn không đi chấp hành hình phạt tù nên Công an tỉnh Q đã triển khai việc bắt nhưng H đã nhanh chân rời khỏi địa phương nên Công an phải ra lệnh truy nã. Sau khi có được quyết định công nhận thuận tình ly hôn, H đã dẫn theo 3 người con và không quên mang theo quyết định này đến trình diện tại cơ quan Công an. Trước tình cảnh này cơ quan Công an đã không dỏm ra tay vì không biết giao 3 người con của H cho ai nuôi nên phải đề nghị làm thủ tục hoãn thi hành án cho H (lý do là lao động duy nhất trong gia đình).

Continue reading

NÂNG CAO KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG CÁC QUY ĐỊNH VÀ TIÊU CHUẨN QUỐC TẾ VỀ MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI MỘT SỐ MẶT HÀNG XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

TS. BÙI HỮU ĐẠO – Vụ Khoa học – Bộ Thương mại

I. Giới thiệu chung

Việc thực hiện các hiệp định/công ước quốc tế về môi trường cũng như áp dụng hệ thống tiêu chuẩn quốc tế về môi trường trong bối cảnh tự do hoá thương mại đã góp phần tích cực hạn chế ô nhiễm môi trường giữa các nước, khuyến khích sản xuất và trao đổi sản phẩm thân thiện với môi trường. Tuy nhiên, trong bối cảnh tự do hoá thương mại, khi các rào cản thương mại được loại bỏ, các tiêu chuẩn và quy định về môi trường, trong nhiều trường hợp, đã trở thành "hàng rào xanh" trong buôn bán quốc tế và ngày càng được áp dụng rộng rãi ở các nước phát triển. Trong điều kiện như vậy, việc đáp ứng các quy định và tiêu chuẩn quốc tế về môi trường trong buôn bán quốc tế hiện nay đang là thách thức to lớn đối với các nước kém phát triển, nơi đang thiếu nhiều điều kiện để thực hiện và áp dụng các hiệp định/công ước và tiêu chuẩn quốc tế về môi trường.

Thực tế những năm qua, cùng với việc ra đời của các công nghệ kỹ thuật mới thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá, môi trường ngày càng suy thoái, tài nguyên thiên nhiên ngày càng suy giảm và khoảng cách giàu nghèo giữa các nước trên thế giới ngày càng trở nên sâu sắc.

Chính vì vậy, trước nhu cầu tiếp tục cần có môi trường kinh tế quốc tế thuận lợi và năng động hỗ trợ hợp tác quốc tế, thực hiện các hành động cụ thể đã cam kết, chúng ta cần phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội và BVMT- coi đây như là ba trụ cột của quá trình phát triển bền vững và chúng có sự phụ thuộc tương hỗ, củng cố lẫn nhau. Bản thân môi trường không thể tự bảo vệ chính mình trước những ảnh hưởng tiêu cực hết sức mạnh mẽ của các ngành thương mại không bền vững, việc sản xuất và tiêu thụ quá mức của con người, dân số gia tăng, phát triển công nghệ sản xuất không thân thiện với môi trường.

Xuất khẩu Việt Nam hiện nay đang là trụ cột chính của nền kinh tế. Trong những năm tới, đẩy mạnh xuất khẩu vẫn là định hướng chiến lược quan trọng của Việt Nam. Tuy nhiên, xuất khẩu hiện nay của ta chủ yếu vẫn dựa vào nhóm hàng có nguồn gốc thiên nhiên, giá trị gia tăng thấp, đòi hỏi của các nước nhập khẩu ngày càng cao về các tiêu chuẩn và quy định môi trường. Trong điều kiện như vậy, vấn đề đặt ra đối với Việt Nam là cần có chính sách thương mại và môi trường như thế nào để khai thác triệt để các lợi thế của tự do hoá thương mại, góp phần vượt qua các rào cản môi trường để mở đường cho hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam. Để làm được điều đó cần thiết phải nghiên cứu những tác động của hệ thống các quy định và tiêu chuẩn quốc tế về môi trường đối với cạnh tranh thương mại quốc tế của Việt Nam, xác định những hạn chế và khả năng đáp ứng các quy định và tiêu chuẩn môi trường của các doanh nghiệp trong nước để đẩy mạnh xuất khẩu, từ đó đưa ra những giải pháp và kiến nghị nâng cao khả năng đáp ứng các yêu cầu về môi trường, nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hoá xuất khẩu Việt Nam nhằm tăng trưởng xuất khẩu và bảo vệ môi trường.

Continue reading

các thoả thuận loại bỏ các rào cản phi thuế quan trong ASEAN, APEC VÀ WTO

VĂN PHÒNG ỦY BAN QUỐC GIA VỀ HỢP TÁC KINH TẾ QUỐC TẾ

A. Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)

Mục tiêu

Việc thành lập Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA) năm 1992 đã đưa ASEAN vượt ra khỏi khuôn khổ của một Thoả thuận Ưu đãi Thương mại thành một hình thức hội nhập sâu hơn. Hiệp định ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) yêu cầu các Quốc gia Thành viên phải loại bỏ các hạn chế định lượng đối với những sản phẩm quy định trong Chương trình CEPT ngay sau khi cắt giảm thuế quan, và tập trung loại bỏ các Rào cản Phi Thuế quan khác trong giai đoạn 5 năm sau khi các sản phẩm này được cắt giảm thuế quan. Theo Hiệp định ASEAN – CEPT, các Rào cản Phi Thuế quan được định nghĩa là các biện pháp ngăn cấm hoặc hạn chế một cách có hiệu quả việc nhập khẩu hoặc xuất khẩu hàng hoá. Lộ trình Hội nhập của ASEAN quy định chi tiết rằng các Rào cản Phi Thuế quan cần phải được loại bỏ vào năm 2010 đối với ASEAN – 6 và năm 2015/2018 đối với các nước CLMV (Campuchia, Lào, Myanma và Việt Nam).

Chương trình và các cam kết

ASEAN phân loại các biện pháp phi thuế quan thành: (i) Các rào cản kỹ thuật đối với thương mại (TBT); (ii) Các biện pháp kiểm dịch động thực vật (SPS); (iii) các biện pháp an ninh và môi trường; (iv) các quy trình thủ tục cấp phép nhập khẩu và/hoặc các biện pháp hành chính. Qui trình loại bỏ các Rào cản Phi Thuế quan về cơ bản đã được thống nhất, bao gồm việc (a) xác minh thông tin về các Rào cản Phi Thuế quan, (b) sắp xếp thứ tự ưu tiên các sản phẩm và các Rào cản Phi Thuế quan, (c) thiết lập một chương trình công tác, và (d) nhận nhiệm vụ từ các Bộ trưởng Kinh tế ASEAN giao thực thi chương trình công tác.

Một chương trình công tác đã được thiết lập chủ yếu bao gồm việc xác minh và thông báo chéo về các Rào cản Phi Thuế quan, thiết lập cơ sở dữ liệu, và rà soát các định nghĩa hoạt động về các Rào cản Phi Thuế quan được thông qua bởi Hệ thống Mã hoá về các Biện pháp Kiểm soát Thương mại của UNCTAD. Mô hình của chương trình này dựa trên các tiêu chí đã được thông qua tại Cuộc họp lần thứ 19 của Hội đồng AFTA năm 2005, cụ thể như sau:

Continue reading

CÁC THOẢ THUẬN LOẠI BỎ CÁC RÀO CẢN PHI THUẾ QUAN TRONG ASEAN, APEC VÀ WTO

VĂN PHÒNG ỦY BAN QUỐC GIA VỀ HỢP TÁC KINH TẾ QUỐC TẾ

A. Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)

Mục tiêu

Việc thành lập Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA) năm 1992 đã đưa ASEAN vượt ra khỏi khuôn khổ của một Thoả thuận Ưu đãi Thương mại thành một hình thức hội nhập sâu hơn. Hiệp định ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) yêu cầu các Quốc gia Thành viên phải loại bỏ các hạn chế định lượng đối với những sản phẩm quy định trong Chương trình CEPT ngay sau khi cắt giảm thuế quan, và tập trung loại bỏ các Rào cản Phi Thuế quan khác trong giai đoạn 5 năm sau khi các sản phẩm này được cắt giảm thuế quan. Theo Hiệp định ASEAN – CEPT, các Rào cản Phi Thuế quan được định nghĩa là các biện pháp ngăn cấm hoặc hạn chế một cách có hiệu quả việc nhập khẩu hoặc xuất khẩu hàng hoá. Lộ trình Hội nhập của ASEAN quy định chi tiết rằng các Rào cản Phi Thuế quan cần phải được loại bỏ vào năm 2010 đối với ASEAN – 6 và năm 2015/2018 đối với các nước CLMV (Campuchia, Lào, Myanma và Việt Nam).

Chương trình và các cam kết

ASEAN phân loại các biện pháp phi thuế quan thành: (i) Các rào cản kỹ thuật đối với thương mại (TBT); (ii) Các biện pháp kiểm dịch động thực vật (SPS); (iii) các biện pháp an ninh và môi trường; (iv) các quy trình thủ tục cấp phép nhập khẩu và/hoặc các biện pháp hành chính. Qui trình loại bỏ các Rào cản Phi Thuế quan về cơ bản đã được thống nhất, bao gồm việc (a) xác minh thông tin về các Rào cản Phi Thuế quan, (b) sắp xếp thứ tự ưu tiên các sản phẩm và các Rào cản Phi Thuế quan, (c) thiết lập một chương trình công tác, và (d) nhận nhiệm vụ từ các Bộ trưởng Kinh tế ASEAN giao thực thi chương trình công tác.

Một chương trình công tác đã được thiết lập chủ yếu bao gồm việc xác minh và thông báo chéo về các Rào cản Phi Thuế quan, thiết lập cơ sở dữ liệu, và rà soát các định nghĩa hoạt động về các Rào cản Phi Thuế quan được thông qua bởi Hệ thống Mã hoá về các Biện pháp Kiểm soát Thương mại của UNCTAD. Mô hình của chương trình này dựa trên các tiêu chí đã được thông qua tại Cuộc họp lần thứ 19 của Hội đồng AFTA năm 2005, cụ thể như sau:

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN NHÀ: BÁN NHÀ VƯỢT ỦY QUYỀN

PHAN THƯƠNG

Người mua nhà hợp pháp phải ấm ức trả lại nhà vì giao dịch vô hiệu. Cầm được giấy ủy quyền, giấy tờ nhà, ông giám đốc đã bán căn nhà trên lấy 500 triệu đồng.

Đọc báo, ông D. biết ông C., giám đốc một công ty tư vấn ở quận Gò Vấp (TP.HCM), sẽ giúp ông vay được vốn của ngân hàng với mức phí thấp.

Nhờ vay vốn nhưng bị bán nhà

Giữa năm 2009, vợ chồng ông D. đã đến công ty của ông C. để nhờ vả. Ông giám đốc này trực tiếp tư vấn: “Muốn vay ngân hàng thì phải làm hợp đồng ủy quyền cho tôi được toàn quyền sử dụng, mua bán căn nhà mà ông đang ở. Thời hạn ủy quyền là 20 năm”. Cảm nhận vị giám đốc này cũng đáng tin tưởng nên ông D. gật đầu. Sau đó, vợ chồng ông D. giao toàn bộ bản chính giấy tờ nhà cho vị giám đốc để vay vốn giúp mình.

Cầm được giấy ủy quyền, giấy tờ nhà, ông giám đốc đã bán căn nhà trên lấy 500 triệu đồng. Đến tháng 7-2009, khi cán bộ phường báo căn nhà đã bị bán thì ông bà D. mới tá hỏa. Hai ông bà vội vàng khởi kiện ông giám đốc, yêu cầu tòa hủy hợp đồng ủy quyền, hủy hợp đồng mua bán nhà.

Ủy quyền vô hiệu

Xử sơ thẩm mới đây, TAND quận Gò Vấp nhận định trước khi ký hợp đồng ủy quyền, giữa nguyên đơn và bị đơn không quen biết hay giao dịch gì. Khi gặp, ý chí của nguyên đơn là ký ủy quyền chỉ nhằm nhờ vay vốn chứ không có ý gì khác. Nhưng sau đó, bị đơn lại bán nhà và không giao tiền cho bên ủy quyền. Như vậy bên được ủy quyền đã vi phạm quy định ủy quyền. Do vậy, hợp đồng ủy quyền vô hiệu.

“Còn phía người mua nhà, dù rằng việc mua bán là hợp pháp. Nhưng theo quy định đối với tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, giao dịch giữa nguyên bị đơn đã vô hiệu thì giao dịch của bị đơn và người mua nhà cũng vô hiệu…” – tòa nhận định tiếp.

Continue reading

ĐẶC ĐIỂM PHÁP LÝ CƠ BẢN CỦA HỢP ĐỒNG THUÊ MUA NHÌN TỪ KHÍA CẠNH THUÊ MUA NHÀ Ở XÃ HỘI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

TS. DOÃN HỒNG NHUNG – Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội

Thuê mua nhà ở xã hội, thuê mua công trình xây dựng đang trở thành chủ đề được giới kinh doanh địa ốc của Việt Nam quan tâm và nhiều tầng lớp dân chúng bình luận. Nhà ở xã hội được đánh giá là sự hội tụ cao của tính đa mục tiêu của chính sách quốc gia[i]. Mục tiêu và nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội mà Quốc hội và Chính phủ đã đặt ra cho năm 2009 cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp từ các phía và các cấp, các ngành trực tiếp và gián tiếp có liên quan, trong đó cần có đột phá quan trọng cả về nhận thức lẫn cơ chế triển khai phát triển nhà ở cho người có thu nhập thấp. Trong cuộc họp định kỳ của Chính phủ vào tháng 1/2009, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã quyết định mục tiêu phát triển nhà ở xã hội là một trong những trọng tâm ưu tiên của Việt Nam  trong năm 2009.

Thị trường bất động sản nóng lạnh thất thường, một giải pháp kích cầu cho thị trường này là Thuê mua nhà ở xã hội, thuê mua công trình xây dựng[ii]. Đây chính là giải pháp xử lý khó khăn cho các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản  hiện nay. Trong thực tiễn kinh doanh, khối lượng giao dịch về nhà đất trên thị trường này trong thời gian qua có biểu hiện lắng xuống. Vậy thuê mua bất động sản là gì?  Nó có thể làm đa dạng hoá hình thức đầu tư bất động sản hay không? nó có phải là cách thức giúp cho những người dân nghèo, sinh viên mới ra trường, công chức có thu nhập thấp có được nhà ở khi mà giá nhà đất ở các đô thị lớn quá cao so với thu nhập của họ hiện nay?

          Thuê mua nhà ở, công trình xây dựng là một hình thức hoạt động đầu tư bất động sản được chuyển giao từ bên cho thuê sang bên thuê trong một thời hạn nhất định, theo những điều kiện mà hai bên thoả thuận. Quyền sở hữu bất động sản cuối cùng được chuyển giao cho bên thuê khi kết thúc hợp đồng thuê mua.

            Thuê mua bất động sản là hình thức cho thuê bất động sản, trong thời gian thuê mua, bên cho thuê mua thu hồi vốn đầu tư cùng với các chi phí tài chính, chi phí quản lý liên quan đến bất động sản, thu được lợi nhuận hợp lý. Sau đó tuỳ theo thoả thuận của các bên trong hợp đồng thuê mua, bên cho thuê có thể bán lại bất động sản đó cho bên thuê vào bất kỳ thời gian nào nhưng chậm nhất là khi kết thúc hợp đồng thuê mua. Hợp đồng thuê mua có các đặc điểm  pháp lý cơ bản sau:

Một là, phần lớn các hợp đồng thuê mua là hợp đồng mang tính chất thương mại;

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG TRONG KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

TS. TRẦN TIẾN DŨNG

Thế giới đang có những biến chuyển rất nhanh và mạnh, xu thế toàn cầu hoá đòi hỏi nước ta phải sớm trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Theo vòng quay của bánh xe lịch sử dân tộc, các doanh nghiệp ngành Xây dựng Việt Nam đang đứng trước những  thách thức, yêu cầu khắt khe của kinh tế thị trường và hơn bao giờ hết phải có những nhìn nhận đúng đắn về đường đi nước bước, thế giới quan đúng đắn về tư duy phát triển của doanh nghiệp trong thị trường xây dựng.

Trong định hướng phát triển, Đảng ta đã chỉ rõ: “Phát triển nhanh hơn công nghiệp và xây dựng theo hướng nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh và hiện đại”. Để có sự phát triển bền vững theo định hướng đúng đắn mà Đảng đã chỉ ra, các doanh nghiệp xây dựng trước hết cần có những nhận thức thật sự khách quan về những gì mà đất nước đang làm, những điều cần tuân thủ, những hướng đi mà doanh nghiệp cần phải theo. Cơ chế trong đầu tư xây dựng công trình, trong giám sát hợp đồng, cơ chế trong cạnh tranh, quan hệ cung cầu đã khác rất nhiều so với những năm trước đây. Doanh nghiệp xây dựng với tư cách là chủ thể tham gia thị trường xây dựng cần có cách nhận thức mới về vấn đề này. Kinh nghiệm trên thế giới, các doanh nghiệp phải xem xét kỹ lưỡng từ những đường lối tổng quát của quốc gia tới những cơ chế vận hành của thị trường đối với ngành sản phẩm của doanh nghiệp. Đó là một cách thức tốt cho việc hoà mình vào môi trường kinh doanh và đảm bảo hữu hiệu cho phát triển bền vững. Trong phạm vi bài viết, tác giả xin trao đổi một số vấn đề xung quanh kinh nghiệm này.

Chúng ta cùng nhau nhìn vào thực tế để thấy được những gì mà đất nước đang làm; trên cơ sở đó nhận ra những tác động đến doanh nghiệp xây dựng và  định dạng cho mình cách ứng xử phù hợp :

– Đất nước đang phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực, tạo đột phá về xây dựng kết cấu hạ tầng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, sớm đưa nước ta thoát khỏi tình trạng của nước đang phát triển có thu nhập thấp. (Theo dự báo của Ngân hàng Thế giới thì ngưỡng của Nước có thu nhập thấp năm 2010 có thể là 950 USD/người. Việt Nam đến 2010 có thể đạt 1050 – 1100 USD/người). Kinh tế phát triển, thu nhập cải thiện sẽ làm cho nhu cầu xã hội về sản phẩm xây dựng ngày càng lớn và “khó tính” hơn.

Continue reading

TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH: ĐIỀU TRA CHƯA KỸ, ĐÃ VỘI PHÁN QUYẾT

DƯƠNG QUỲNH HƯƠNG

Anh Nguyễn Thế Tiếng (sinh 1964) và chị Nguyễn Thị Kim Sang (sinh 1969) chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1999, quá trình chung sống hai người có 2 con chung. Trước khi chung sống với chị Sang ở thị xã Bạc Liêu, anh Tiếng sống ở thành phố Cà Mau và đã có một đời vợ, chị Tô Hồng Mai (ốm mất năm 1997) và hai con riêng là Nguyễn Thế Hiền (sinh 1986) và Nguyễn Thị Hồng Anh (sinh 1991); còn chị Sang sống ở tỉnh Đồng Tháp, đã có một đời chồng (ly hôn năm 1998) và một con trai riêng (chồng cũ nuôi).

Sau khi tự nguyện chung sống với nhau một thời gian, không đăng ký kết hôn, đến năm 2007 do mâu thuẫn trầm trọng nên hai bên không thể chung sống với nhau trong một nhà. Ngày 24.12.2007, TAND thị xã Bạc Liêu đã ra Quyết định số 26/2007/QĐST-HNGĐ về việc công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, theo đó giao hai con chung cho chị Sang nuôi dưỡng, anh Tiếng có trách nhiệm đóng góp nuôi dưỡng một cháu; về phần tài sản, giao cho anh Tiếng toàn bộ nhà, đất và các vật kiến trúc khác gắn liền với đất tọa lạc tại số B04/27A, khóm Trà Kha A, phường 8, thị xã Bạc Liêu (phần nhà, đất này anh Tiếng mua do bán nhà cũ ở thành phố Cà Mau), còn anh Tiếng có trách nhiệm giao chị Sang 25 lượng vàng 24k (vàng 9999) khi anh Tiếng chuyển nhượng dãy nhà trọ trên mảnh đất có cùng địa chỉ nói trên.

Đến ngày 13.6.2008, Chánh án TAND tỉnh Bạc Liêu ra Quyết định kháng nghị số 01/2008/QĐKN-DS đối với Quyết định số 26 ngày 24.12.2007 của TAND thị xã Bạc Liêu, theo đó đề nghị Ủy ban Thẩm phán TAND tỉnh Bạc Liêu xét xử giám đốc thẩm hủy về phần tài sản đối với Quyết định nêu trên và giao hồ sơ cho TAND thị xã Bạc Liêu giải quyết lại, bởi vì anh Tiếng và chị Sang đều khai nhận nợ Ngân hàng Đông Á số tiền 600 triệu đồng chưa hết hạn hợp đồng nhưng cấp sơ thẩm không đưa ngân hàng tham gia tố tụng. Tiếp đến, ngày 22.10.2008, TAND thị xã Bạc Liêu ra Quyết định số 14/2008/QĐST-HNGĐ về thay đổi việc nuôi con, theo đó anh Tiếng có trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung mà không yêu cầu chị Sang cấp dưỡng nuôi con.

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG: VỤ ĐÒI NHÀ CHO THUÊ Ở TPHCM CẦN ĐƯỢC GIÁM SÁT

LÊ TRỌNG NGHĨA

Vụ án đòi nhà cho thuê giữa nguyên đơn Nguyễn Thị Thu Thủy và bị đơn Nguyễn Văn Ba cùng trú tại đường Nguyễn Thái Sơn, phường 5, quận Gò Vấp, TP Hồ Chí Minh đã qua hai cấp xét xử nhưng khó có thể thi hành do bị đơn khiếu nại quyết liệt và nhiều người dân ký đơn ủng hộ bị đơn. Theo đơn thư trình bày và hồ sơ vụ án, quả thực có nhiều vấn đề làm rõ bản chất vụ tranh chấp lại bị bỏ qua một cách khó hiểu.

Bản án số 05/2009/DS-PT ngày 09.01.2009 của Tòa Phúc thẩm TANDTC tại TP. Hồ Chí Minh  quyết định ông Nguyễn Văn Ba, sinh năm 1934, cư trú tại 322/9 Nguyễn Thái Sơn, cùng gia đình gồm 7 người phải giao trả nhà cho bà Nguyễn Thị Thu Thủy là nguyên đơn trong vụ kiện.

Theo nguyên đơn, căn nhà 322/9 Nguyễn Thái Sơn trước đây là 30 Phan Thanh Giản được ông Nguyễn Văn Lộc – cha của bà Thuỷ tự xây cất bằng vật liệu nhẹ trên đất của ông Nghiêm Xuân Việt từ năm 1937, sau đó ngăn ra làm bốn căn. Ông Nguyễn Văn Ba thuê căn 322/9 từ năm 1964 gồm nhà chính 18m2 và diện tích phụ. Trong quá trình thuê nhà ông Ba tự ý xây cất lại.

Năm 1986 ông Lộc khởi kiện ông Ba đòi lại nhà, ông Nghiêm Xuân Việt xác nhận đã cho và không tranh chấp. Bà Đặng Mộng Xuân (vợ ông Nghiêm Xuân Việt) đã chết từ lâu bên Pháp. Toà hoà giải nên ông Ba thuê tiếp đến năm 1990 nhưng không lấy tiền thuê. Vì vậy, bà Thuỷ yêu cầu ông Ba trả lại nhà.

Nguyện vọng của bà Thuỷ được cả hai cấp xét xử chấp nhận, buộc ông Ba và gia đình phải bàn giao ngôi nhà mà ông Ba đã xây dựng mới trên nền cũ cho nguyên đơn, bù lại nguyên đơn bồi hoàn cho ông Ba một phần tiền xây dựng trên 20 triệu đồng.

Hai bản án bộc lộ nhiều vấn đề có tính chất của vụ tranh chấp nhưng không được làm rõ. Vấn đề mấu chốt là ông Nguyễn Văn Lộc, cha của nguyên đơn Nguyễn Thị Thu Thuỷ, có phải là chủ sở hữu ngôi nhà và thửa đất 322/9 này hay không? Trong hồ sơ và hai bản án không thể hiện ông Lộc có giấy tờ gì trực tiếp chứng minh mình là chủ sở hữu; ngược lại nhiều chứng cứ cho thấy ông Lộc không phải là chủ sở hữu, chỉ là đại diện cho ông Việt mà thôi. Chúng tôi chỉ xin nêu một khía cạnh để bạn đọc tham khảo.

Continue reading