12 TRƯỜNG HỢP KHÔNG ĐƯỢC NHẬN GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

MINH NGHĨA (Vietnam+)

Từ ngày 25/5, thành phố Hà Nội sẽ áp dụng quy định mới về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; đăng ký biến động về sử dụng đất, sở hữu tài sản gắn liền với đất cho các tổ chức trên địa bàn thành phố (theo Quyết định số 18/2010/QĐ-UBND).

Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội chịu trách nhiệm đôn đốc, hướng dẫn sử dụng các mẫu đơn, giấy tờ thực hiện các thủ tục hành chính trong việc công nhận quyền sử dụng đất; cấp giấy chứng nhận; đăng ký biến động cho các tổ chức trên địa bàn; chỉ đạo Văn phòng Đăng ký đất đai Hà Nội cập nhật, chỉnh lý, quản lý hồ sơ hành chính, cơ sở dữ liệu địa chính theo quy định.

Theo quy định mới, có 12 trường hợp không được chứng nhận quyền sử dụng đất.

Cụ thể là: các diện tích đất không sử dụng, sử dụng không đúng mục đích, thiếu trách nhiệm để bị lấn chiếm, thất thoát; đất đã cho tổ chức khác, cá nhân thuê hoặc mượn sử dụng hoặc liên doanh liên kết trái pháp luật; đất không được tiếp tục sử dụng sau khi thực hiện xử lý theo quyết định số 09/QĐ-UBND; đất đang sử dụng làm cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ đã có quyết định phải di dời do gây ô nhiễm môi trường; đất đã có quyết định thu hồi của cấp có thẩm quyền để thực hiện dự án theo quy hoạch; đất sử dụng vào mục đích công cộng giao UBND xã, phường, thị trấn quản lý; đất để xây dựng công trình giao thông, hệ thống cấp-thoát nước, thủy lợi, đê điều, quảng trường; đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích do UBND xã quản lý, sử dụng.

Các tổ chức được giao quản lý diện tích đất để thực hiện các dự án đầu tư theo hình thức xây dựng-chuyển giao; tổ chức sử dụng đất do thuê, thuê lại tài sản gắn liền với đất của người khác mà không phải thuê của Nhà nước và không phải đất thuê, thuê lại trong khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế… cũng không được chứng nhận quyền sử dụng đất.

Cũng theo quy định mới này, ba trường hợp chưa được chứng nhận quyền sử dụng đất là các trường hợp đang sử dụng đất từ trước ngày 1/7/2004 mà chưa được cấp giấy chứng nhận phải kiểm tra, rà soát trước khi cấp giấy chứng nhận…

Continue reading

KINH NGHIỆM CỦA NHẬT BẢN VỀ QUẢN LÝ KIỂM SOÁT HÀNH VI THỎA THUẬN HẠN CHẾ CẠNH TRANH

MINH NGỌC (Tổng hợp)

Luật cạnh tranh cơ bản của Nhật Bản là luật chống độc quyền được ban hành năm 1997. Nhằm ngăn chặn độc quyền tư nhân và tình trạng độc quyền,những hành vi cạnh tranh không lành mạnh và các vụ sáp nhập hạn chế cạnh tranh. Đạo luật này được bổ sung bởi rất nhiều hướng dẫn và quy định cũng như bởi các luật khác liên quan đến các khía cạnh cạnh tranh không lành mạnh làm tổn hại đến các doanh nghiệp khác. Những chính sách cạnh tranh của nhà nước chụi ảnh hưởng rất nhiều bởi các đạo luật chuyên nghành và những miễn trừ. Những miễn trừ này kể cả chính thức và phi chính thức, khuyến khích hoặc chấp nhận các thỏa thuận cấu kết các vụ sáp nhập và kiểm soát đối với hệ thống phân phối.

Tương tự như luật cạnh tranh của nhiều nước, luật chống độc quyền của Nhật Bản cấm các thỏa thuận giữa các đối thủ cạnh tranh cùng phối hợp hoạt động để hạn chế cạnh tranh, bao gồm các loại hợp đồng, thỏa thuận, các hành vi phối hợp hoạt động để chi phối giá cả, hạn chế sản lượng, công nghệ phát triển sản phẩm, phân chia thị trường,khách hàng,thông đồng trong bỏ thầu hoặc tẩy chay các đối tượng khác.

Trong luật chống độc quyền của Nhật bản có điều khỏan quy định về hiệp hội. cũng là quy định phổ biến trong luật của nước khác.Bên cạnh những tác động tích cực các hiệp hội đồng thời tạo điều kiện cho các hoạt động không phù hợp với tư tưởng cạnh tranh trong nội bộ một nghành và các ngành khác với nhau.Quy định này cấm các hiệp hội thương mại hạn chế cạnh tranh một các nghiêm trọng như hạn chế số hãng kinh doanh trong nghành, hạn chế một cách không công bằng cách thức các thành viên tiến hành kinh doanh. Các hội ở Nhật bản có quan hệ chặt chẽ với các bộ liên quan , được bộ sử dụng để đạt được các mục tiêu hành chính nào đó.

Các hướng dẫn hành chính về bảo vệ sức khỏe an toàn và môi trường được coi là không có tác động trực tiếp đến cơ chế thị trường, dẫn đến vi phạm Luật chống độc quyền.Những vấn đề còn đang tranh luận là ổn định giá cả, hàng hóa, đảm bảo sự công bằng và minh bạch trong dao dịch kinh doanh và bảo vệ các doanh nghiệp nhỏ.Những hạn chế khả năng lựa chọn của doanh nghiệp về tham gia thị trường, giá cả, đầu tư và sản lượng có thể tác động tới thị trường và gây tranh cãi.Các hướng dẫn nhằm ngăn ngừa cạnh tranh quá mức, điều chỉnh cung-cầu, điều chỉnh lợi thế và bất lợi giữa các hãng, duy trì trật tự trong nghành.Nội dung và hình thức hướng dẫn kỹ thuật kinh doanh, chất lượng, tiêu chuẩn, quảng cáo không nhất thiết có tác động trực tiếp đối với cơ chế thị trường, mặc dù những vấn đề này là những công cụ quan trọng của cạnh tranh.Trên thực tế, sự thừa nhận rộng rãi vai trò của chính phủ đối với việc hướng dẫn các doanh nghiệp thống nhất hành động trong kinh doanh là một khó khăn trong việc thực hiện chính sách cạnh tranh.

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 21/2010/TT-BCT NGÀY 17 THÁNG 5 NĂM 2010 CỦA BỘ CÔNG THƯƠNG VỀ THỰC HIỆN QUI TẮC XUẤT XỨ TRONG HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI HÀNG HÓA ASEAN

Căn cứ Nghị định số 189/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công Thương;

Căn cứ Hiệp định thương mại hàng hoá ASEAN ký ngày 26 tháng 02 năm 2009 tại Hội nghị cấp cao lần thứ 14, tại Cha-am, Thái Lan giữa các nước thành viên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á;

Căn cứ Nghị định số 19/2006/NĐ-CP ngày 20 tháng 02 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về xuất xứ hàng hóa;

Bộ trưởng Bộ Công Thương quy định việc thực hiện Quy tắc xuất xứ trong Hiệp định thương mại hàng hoá ASEAN như sau:

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Hàng hoá được cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá Mẫu D

Hàng hoá được cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá Mẫu D (trong Thông tư này gọi tắt là C/O) là hàng hoá có xuất xứ theo quy định tại Phụ lục 1 của Thông tư này và được Tổ chức cấp C/O Mẫu D cấp C/O.

Điều 2. Giải thích từ ngữ

1. Hiệp định thương mại hàng hoá ASEAN là Hiệp định được ký ngày 26 tháng 02 năm 2009 tại Hội nghị cấp cao lần thứ 14, tại Cha-am, Thái Lan giữa các nước thành viên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (trong Thông tư này gọi tắt là Hiệp định ATIGA).

2. Tổ chức cấp C/O Mẫu D của Việt Nam (trong Thông tư này gọi tắt là Tổ chức cấp C/O) là các tổ chức được quy định tại Phụ lục 13.

3. Người đề nghị cấp C/O Mẫu D (trong Thông tư này gọi tắt là người đề nghị cấp C/O) bao gồm người xuất khẩu, nhà sản xuất, người đại diện có giấy ủy quyền hợp pháp của người xuất khẩu hoặc nhà sản xuất.

Continue reading

TUYÊN TRUYỀN CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TÁC CẤP, ĐỔI GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT GHI TÊN MỘT NGƯỜI SANG GHI TÊN VỢ VÀ CHỒNG

TS. NGUYỄN QUANG TUYẾN – Đại học Luật Hà Nội

1. Tầm quan trọng của hoạt động tuyên truyền chính sách, pháp luật về công tác cấp đổi GCN

Đối với một nước nông nghiệp như Việt Nam, đất đai có vai trò vô cùng quan trọng với cuộc sống của người dân (nhất là đối với người nông dân). Chính vì vậy, việc đăng ký quyền sử dụng đất và được đứng tên chủ sử dụng trong GCNQSDĐ thu hút sự quan tâm đặc biệt của mọi tầng lớp dân cư. Ở quốc gia mà tư tưởng “trọng nam, khinh nữ” tồn tại trong một thời gian dài và “ăn sâu, bám rễ” trong tâm thức của một bộ phận không nhỏ người dân thì việc người đàn ông (người chồng) đứng tên chủ sở hữu tài sản nói chung và đứng tên trong GCNQSDĐ của vợ, chồng nói riêng được coi như lẽ đương nhiên. Do đó, Luật đất đai năm 2003 quy định quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ và chồng khi cấp GCNQSDĐ phải ghi rõ cả họ, tên vợ và họ, tên chồng và việc triển khai thí điểm cấp đổi GCN ở một số địa phương1 được coi là một cuộc cách mạng không chỉ tấn công trực diện vào quan niệm phong kiến lạc hậu mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người đàn ông có tên trong GCN. Việc làm này đã vấp phải không ít những khó khăn, trở ngại bởi sự không đồng thuận hoặc sự chống đối của một bộ phận nam giới mang nặng tư tưởng phân biệt, kỳ thị đối với phụ nữ. Đặt trong bối cảnh đó, hoạt động tuyên truyền chính sách, pháp luật về công tác cấp đổi GCN có vị trí hết sức quan trọng. Đây là hoạt động phải được triển khai trước tiên trước khi tiến hành các hoạt động mang tính kỹ thuật, nghiệp vụ tiếp theo về cấp đổi GCN. Vai trò của hoạt động tuyên truyền chính sách, pháp luật về cấp đổi GCN được thể hiện trên các khía cạnh chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, tác động làm thay đổi nhận thức của người dân về bình đẳng giới trong sử dụng đất nói chung và trong cấp GCNQSDĐ nói riêng; phê phán quan niệm phong kiến lạc hậu và lên án mọi sự kỳ thị, phân biệt đối xử giữa nam và nữ. Trên cơ sở đó, xây dựng quan niệm đúng đắn về sự bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới trong việc tiếp cận các quyền của người sử dụng đất.

Thứ hai, góp phần đề cao sự bình đẳng nam, nữ trong xã hội Việt Nam nói chung và trong việc tiếp cận sử dụng đất đai nói riêng. Hơn nữa, hoạt động này còn tạo ra sự đồng thuận xã hội trong việc bảo vệ quyền của phụ nữ đối với tài sản là nhà, đất. Ở khía cạnh khác, phụ nữ là lực lượng lao động chủ yếu trong sản xuất nông nghiệp. Khi họ được bình đẳng với nam giới về quyền và nghĩa vụ trong sử dụng đất đai sẽ tạo ra động lực tích cực giúp phụ nữ hăng say sản xuất góp phần đáng kể vào quá trình đẩy nhanh tỷ lệ giảm đói, nghèo ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa.

Continue reading

THAY ĐỔI CẤU TRÚC KINH TẾ Ở VIỆT NAM – CÁCH TIẾP CẬN, PHÂN TÍCH I-O

GS.TS. NGUYỄN KHẮC MINH & TS. NGUYỄN VIỆT HÙNG

Trong nghiên cứu này, chúng tôi phân tích thay đổi cấu trúc và nguồn tăng trưởng công nghiệp ở Việt Nam thời kỳ 1989 – 2005 bằng việc sử dụng các bảng vào ra (I-O) của Việt Nam năm 1989, 1996, 2000 do Tổng cục Thống kê công bố và bảng I-O mới nhất do nhóm tư vấn chính sách Bộ Tài chính xây dựng vào năm 2005.

Để có thể phân tích, đánh giá thay đổi cấu trúc và nguồn tăng trưởng đầu ra cho các ngành công nghiệp ở Việt Nam từ năm 1989 đến 2005, chúng tôi đã gộp các ngành trong từng bản I-O thành 52 ngành và cả bốn bản I-O này được tính theo giá so sánh năm 2000. Dựa trên mô hình I-O tĩnh, để phân rã những thay đổi trong các thành phần cấu thành tổng cầu đối với nền kinh tế Việt Nam, chúng tôi đã phân rã những thay đổi trong đầu ra của mỗi ngành thành 4 nguồn: tăng cầu trong nước, mở rộng xuất khẩu, thay thế nhập khẩu, và thay đổi trong các hệ số vào ra. Sự phân rã này giúp ta mô tả được một số đặc trưng cơ bản của quá trình công nghiệp hoá ở Việt Nam trong thời gian qua.

I. GIỚI THIỆU

Sau khi Wassily Leontief giới thiệu mô hình vào-ra trong bài nghiên cứu “cấu trúc của nền kinh tế Hoa kỳ” năm 1941 [5], kể từ đó đến nay việc phân tích thay đổi cấu trúc kinh tế và nguồn tăng trưởng kinh tế của một quốc gia hoặc hoặc vùng lãnh thổ ngày càng được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu ở nhiều nước trên thế giới. Trong các nghiên cứu liên quan đến vấn đề này phải kể đến các nghiên cứu như:
Chenery. H.B năm 1960 [2], nghiên cứu mối quan hệ giữa công nghiệp hoá và xuất khẩu dựa trên mô hình phân tích vào ra tĩnh, đã phân tích ảnh hưởng của thay đổi trong cấu trúc cầu, thương mại và sản xuất trong thời kỳ 15-20 năm ở một số nước bán công nghiệp, đồng thời so sánh ảnh hưởng chủ yếu của các loại chính sách thương mại và phát triển khác nhau trong tăng trưởng công nghiệp và thay đổi cấu trúc.
De Melo (1970) đã so sánh các nguồn tăng trưởng và thay đổi cơ cấu giữa tám nước trên thế giới bằng mô hình vào- ra và chỉ ra rằng có nhiều khác nhau trong đóng góp vào tăng trưởng của các thành phần cầu cuối cùng, đặc biệt đối với mở rộng xuất khẩu và thay thế nhập khẩu. Ngoài việc sử dụng mô hình vào-ra tĩnh để phân rã các nguồn tăng trưởng và thay đổi cơ cấu, họ cũng sử dụng mô hình vào-ra động để nghiên cứu những tác động của những thay đổi theo ngành của cầu cuối cùng đối với tăng trưởng.

Continue reading

GỠ RỐI VIỆC XÁC ĐỊNH THỜI ĐIỂM CÓ HIỆU LỰC

TRƯƠNG TRỌNG HIẾU

Hiện nay những quy định về xác định thời điểm có hiệu lực của các hợp đồng về quyền sử dụng đất trong các văn bản có liên quan đã lộ rõ sự bất hợp lý, cần được xem xét lại.

Bằng quy định tại khoản 4, điều 146, Nghị định 181/2004/NĐ-CP khẳng định: “Hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, thuê, thuê lại quyền sử dụng đất; hợp đồng hoặc văn bản tặng cho quyền sử dụng đất; hợp đồng thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất…”.

Quy định này từ đó đã tạo ra nhiều vướng víu khi xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng. Về vấn đề này, theo chúng tôi, có hai nội dung cần được làm rõ và điều chỉnh lại trong các nội dung quy định của pháp luật.

Thứ nhất, xác định lại thời điểm có hiệu lực của hợp đồng bắt buộc phải công chứng, chứng thực. Việc xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng có ý nghĩa rất quan trọng đối với các bên tham gia. Vì đó là thời điểm chính thức làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ của họ liên quan đến hợp đồng đó.

Để xác định thời điểm đó, Bộ luật Dân sự yêu cầu phải dựa vào từng loại hợp đồng. Đối với các hợp đồng mà pháp luật đòi hỏi bắt buộc phải có công chứng, chứng thực thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng được tính kể từ thời điểm được công chứng, chứng thực. Hợp đồng trong các giao dịch về quyền sử dụng đất thuộc trường hợp này nên thời điểm có hiệu lực của chúng cũng được tính như vậy. Bỏ qua lý do bắt buộc phải tuân thủ Bộ luật Dân sự như một văn bản gốc, đây là cách thức mà pháp luật đất đai của chúng ta lựa chọn từ trước và cách lựa chọn đó theo chúng tôi là phù hợp.

Thứ hai, xác định thời điểm chuyển dịch quyền sử dụng đất.

Trong các hợp đồng mua bán tài sản thông thường khác, giá trị nội dung quan trọng của nó là việc chuyển giao quyền sở hữu đối với tài sản. Vì lẽ đó, cực kỳ cần thiết khi xác định thời điểm dịch chuyển quyền sở hữu đối với tài sản từ người bán sang người mua.

Continue reading

VỀ MÔ HÌNH KINH TẾ TỔNG QUÁT trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

GS.TSKH. LÊ DU PHONG

Sau ba năm khôi phục nền kinh tế do chiến tranh tàn phá, năm 1958 hoà nhịp với trào lưu chung của thế giới, miền Bắc nước ta cũng bước vào thời kỳ xây dựng và phát triển nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung. Sau ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước được hoà bình thống nhất, năm 1976, chúng ta đã quyết định đưa cả nước cùng đi lên Chủ nghĩa xã hội. Đặc trưng của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa chúng ta theo đuổi thời bấy giờ là:

– Sự thống trị của chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất được biểu hiện dưới hai hình thức: toàn dân và tập thể. Tương ứng với hai hình thức sở hữu đó là hai loại hình doanh nghiệp: Doanh nghiệp quốc doanh và hợp tác xã các loại. Kinh tế tư nhân được coi là loại hình kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, nên bị loại bỏ.

– Mọi hoạt động sản xuất – kinh doanh của các đơn vị kinh tế đều phải theo sự chỉ đạo thống nhất từ Trung ương, tức là các doanh nghiệp muốn sản xuất cái gì, sản xuất bao nhiêu, sản xuất bằng cách nào, sản xuất xong tiêu thụ sản phẩm ở đâu, với giá cả như thế nào.v.v.. tất cả đều phải theo một kế hoạch thống nhất từ Trung ương.

Thời kỳ đầu, với hào khí dân tộc đang lên sau chiến thắng lừng lẫy của các cuộc kháng chiến, cũng như do được sống trong một chế độ hoàn toàn mới, độc lập, tự do, nên người dân tràn đầy hy vọng, sẵn sàng đóng góp công sức, tiền của của mình cho công cuộc xây dựng chế độ xã hội mới, chế độ xã hội chủ nghĩa. Công bằng mà nói, lúc đầu mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa cũng đã tạo ra được niềm tin và hy vọng về một xã hội mới tốt đẹp, một cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho người dân, nhờ đó đã tạo ra được động lực khá mạnh mẽ đối với sự phát triển kinh tế -xã hội của đất nước. Điều này đã giúp cho miền Bắc huy động được tối đa sức mạnh vật chất và tinh thần của người dân để phục vụ cho sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, và khi miền Nam được giải phóng, nước nhà được hoà bình, thống nhất,  chúng ta đã khắc phục khá nhanh những hậu quả do hơn 30 năm chiến tranh tàn khốc để lại.

Continue reading

VỀ MÔ HÌNH KINH TẾ TỔNG QUÁT TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CNXH Ở VIỆT NAM

GS.TSKH. LÊ DU PHONG

Sau ba năm khôi phục nền kinh tế do chiến tranh tàn phá, năm 1958 hoà nhịp với trào lưu chung của thế giới, miền Bắc nước ta cũng bước vào thời kỳ xây dựng và phát triển nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung. Sau ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước được hoà bình thống nhất, năm 1976, chúng ta đã quyết định đưa cả nước cùng đi lên Chủ nghĩa xã hội. Đặc trưng của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa chúng ta theo đuổi thời bấy giờ là:

– Sự thống trị của chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất được biểu hiện dưới hai hình thức: toàn dân và tập thể. Tương ứng với hai hình thức sở hữu đó là hai loại hình doanh nghiệp: Doanh nghiệp quốc doanh và hợp tác xã các loại. Kinh tế tư nhân được coi là loại hình kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, nên bị loại bỏ.

– Mọi hoạt động sản xuất – kinh doanh của các đơn vị kinh tế đều phải theo sự chỉ đạo thống nhất từ Trung ương, tức là các doanh nghiệp muốn sản xuất cái gì, sản xuất bao nhiêu, sản xuất bằng cách nào, sản xuất xong tiêu thụ sản phẩm ở đâu, với giá cả như thế nào.v.v.. tất cả đều phải theo một kế hoạch thống nhất từ Trung ương.

Thời kỳ đầu, với hào khí dân tộc đang lên sau chiến thắng lừng lẫy của các cuộc kháng chiến, cũng như do được sống trong một chế độ hoàn toàn mới, độc lập, tự do, nên người dân tràn đầy hy vọng, sẵn sàng đóng góp công sức, tiền của của mình cho công cuộc xây dựng chế độ xã hội mới, chế độ xã hội chủ nghĩa. Công bằng mà nói, lúc đầu mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa cũng đã tạo ra được niềm tin và hy vọng về một xã hội mới tốt đẹp, một cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho người dân, nhờ đó đã tạo ra được động lực khá mạnh mẽ đối với sự phát triển kinh tế -xã hội của đất nước. Điều này đã giúp cho miền Bắc huy động được tối đa sức mạnh vật chất và tinh thần của người dân để phục vụ cho sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, và khi miền Nam được giải phóng, nước nhà được hoà bình, thống nhất,  chúng ta đã khắc phục khá nhanh những hậu quả do hơn 30 năm chiến tranh tàn khốc để lại.

Continue reading

CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ CÓ ĐƯỢC TRAO ĐỔI VẬT CHỨNG VỤ ÁN HAY KHÔNG?

L.T.N

Nội dung vụ việc như sau: Tại Bản án số 45/2007/HSST ngày 28/11/2007 của TAND huyện Phổ Yên tỉnh T.Ng xét xử đối với Trần Anh Minh về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo quy định tại khoản 1 Điều 202, Bộ luật hình sự (BLHS) đã tuyên xử như sau:

“… Tuyên phạt bị cáo Trần Anh Minh 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng kể từ ngày tuyên án.

Về hình phạt bổ sung: áp dụng khoản 5 Điều 202, BLHS cấm bị cáo lái xe ô tô trong thời hạn 02 năm, kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật.

Về vật chứng: áp dụng Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) tạm giữ giấy phép lái xe (GPLX) ô tô hạng B2 số Z641341 do Sở Giao thông vận tải thành phố Hà Nội cấp ngày 26/6/2006 mang tên Trần Anh Minh (theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Công an và Cơ quan thi hành án dân sự (CQTHADS) huyện Phổ Yên ngày 19/10/2007)…”.

Bản án không có kháng cáo, kháng nghị và ngày 28/12/2007, Bản án có hiệu lực pháp luật thi hành.

Hồ sơ thi hành án tại CQTHADS huyện Phổ Yên thể hiện như sau: tại biên bản giao nhận vật chứng vụ án giữa Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) và CQTHADS huyện Phổ Yên ngày 19/10/2007 thể hiện việc VKSND đã chuyển đầy đủ vật chứng vụ án, trong đó có GPLX ô tô hạng B2 số Z641341 mang tên Trần Anh Minh cho CQTHADS bảo quản theo đúng quy định.

Tuy nhiên, khi kiểm tra vật chứng vụ án trên tại Kho vật chứng của CQTHADS thì không có GPLX ô tô số Z641341. Qua tìm hiểu, được biết vì GPLX ô tô số Z641341 bị Cơ quan Điều tra thu giữ và TAND huyện Phổ Yên đã tuyên tạm giữ đến ngày 30/6/2009 là hết hạn sử dụng. Tháng 6/2009, CQTHADS huyện Phổ Yên đã cho đương sự Trần Anh Minh mượn GPLX trên để Trần Anh Minh đổi GPLX mới và yêu cầu Trần Anh Minh mang GPLX ô tô hạng B2 có số AK 832395 mang tên Trần Anh Minh đã đổi đến nộp cho CQTHADS huyện Phổ Yên để tạm giữ theo quyết định của Bản án.

Đối với vụ việc như trên thì có 2 quan điểm xử lý như sau:

Continue reading

THỰC TIỄN THI HÀNH ÁN: THU HỒI QUYẾT ĐỊNH KÊ BIÊN TÀI SẢN LÀ CÓ CƠ SỞ

HÀ TUẤN PHƯƠNG

Nguyễn Thị Oanh, là kế toán Công ty cổ phần vận tải Thái Nguyên, có 01 chồng và 02 con. Lợi dụng chức vụ được giao, trong thời gian từ năm 1993 đến năm 2005, Oanh đã dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt của Công ty cổ phần vận tải Thái Nguyên số tiền 1.441.158.900đ. Bản án hình sự sơ thẩm số 255/2006/HSST ngày 12/12/2006, Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã tuyên phạt bị cáo Nguyễn Thị Oanh, sinh năm 1963, trú tại tổ 01, phường Tân Lập, TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên ( nguyên là kế toán Công ty cổ phần vận tải Thái Nguyên ) mức án 15 năm tù giam về tội Tham ô tài sản theo điều 278 Bộ luật Hình sự. Về trách nhiệm dân sự: buộc bị cáo Oanh phải bồi thường 1.441.158.000đ, đã bồi thường 100.000.000đ, phải bồi thường tiếp số tiền 1.341.158.000đ cho Công ty cổ phần vận tải Thái Nguyên. Việc thi hành án thực hiện theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 của TANDTC-VKSNDTC-BTP-BTC. Áp dụng điều 146 Bộ luật tố tụng hình sự: Kê biên ½  giá trị ngôi nhà và quyền sử dụng đất trên diện tích 130m2 của bị cáo Nguyễn Thị Oanh.

Sau khi nhận được bản án có hiệu lực pháp luật và đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh T đã thụ lý, ra quyết định thi hành án và phân công chấp hành viên tổ chức thi hành vụ việc trên. Chấp hành viên  đã tiến hành đầy đủ các biện pháp, trình tự theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự. Do người phải thi hành án không tự nguyện thi hành và ngôi nhà của gia đình bà Oanh là một thể thống nhất, nếu chia tách sẽ làm giảm trị giá tài sản nên Chấp hành viên tiến hành kê biên toàn bộ nhà và quyền sử dụng đất của người phải thi hành án; bán đấu giá thành toàn bộ tài sản được 780.300.000đ; đã xử lý ½ số tiền này thuộc sở hữu của người phải thi hành án để đảm bảo thi hành án theo đúng bản án của Toà án, cụ thể là số tiền 390.150.000đ. Số tiền còn lại là 390.150.000đ lẽ ra trả lại cho ông Lê Quyết Thắng – chồng của Nguyễn Thị Oanh nhưng do chồng bà Oanh đã chết nên Chấp hành viên xác định bà Oanh được hưởng 1/3 di sản thừa kế của chồng, ước tính số tiền là 130.050.000đ và tiến hành kê biên để thi hành án, phần còn lại trả cho gia đình bà Oanh.

Thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh đã ra quyết định thu hồi Quyết định kê biên tài sản, khoản phải thu hồi là số tiền ước tính hưởng di sản thừa kế 130.050.000đ với lý do bản án đã xác định bị cáo Oanh chỉ có quyền sở hữu giá trị ½ ngôi nhà và quyền sử dụng đất nên cơ quan thi hành án kê biên, bán đấu giá toàn bộ ngôi nhà và đất nhưng chỉ xử lý ½ gía trị ngôi nhà là phù hợp. Hơn nữa, người phải thi hành án là Nguyễn Thị Oanh đang chấp hành án phạt tù, chồng bà Oanh đã chết, 02 con của bà Oanh đều đang ở độ tuổi vị thành niên. Vì vậy, trả lại cho gia đình bà Oanh ½ trị giá ngôi nhà và quyền sử dụng đất, chỉ xử lý tài sản kê biên theo đúng quyết định của Toà án đã kê biên.

Continue reading

THỰC TIỄN TỐ TỤNG: CHUYỆN LẠ Ở AN GIANG – XỬ LƯU ĐỘNG … ÁN DÂN SỰ

VĂN ĐOÀN – DƯƠNG HẰNG

Trong thực tiễn xét xử, ngành tòa án chỉ xử lưu động án hình sự để tuyên truyền, giáo dục pháp luật và răn đe tội phạm. Vì vậy, việc thời gian qua ngành tòa án An Giang đem án dân sự ra xử lưu động đang gây băn khoăn về căn cứ pháp lý cũng như danh dự, uy tín, bí mật đời tư của đương sự…

Tháng 9-2009, TAND TP Long Xuyên đã đưa hai vụ tranh chấp hợp đồng góp hụi và tranh chấp hợp đồng vay tài sản – hợp đồng góp hụi mà bị đơn là bốn mẹ con bà H. ra xử lưu động tại trụ sở văn phòng khóm nơi bà H. đang sinh sống. Tuyên án, TAND TP Long Xuyên đã buộc bốn mẹ con bà H. phải trả tổng cộng cho các nguyên đơn gần 3 tỉ đồng.

Thành phố: Để tuyên truyền, giáo dục

Tại phiên xử lưu động công khai này, bốn mẹ con bà H. đều vắng mặt. Bà H. cho biết chưa nói đến nội dung bản án đúng hay sai, việc tòa đưa ra xử lưu động kiểu này khiến mẹ con bà cảm thấy rất xấu hổ và rất ngại với hàng xóm, thậm chí còn mất mối làm ăn sau này vì mất uy tín.

Trong thực tiễn xét xử, những vụ án bị đưa ra xét xử lưu động đều là những vụ án hình sự. Việc đưa tranh chấp dân sự ra xử lưu động như trên liệu đã đúng?

Lý giải, thẩm phán Trần Văn Nghĩa, Chánh án TAND TP Long Xuyên, nói: “Chúng tôi từng đưa nhiều vụ án dân sự ra xét xử lưu động nên việc này không có gì lạ. Tuy nhiên, chúng tôi chỉ đưa những vụ dân sự điển hình, có tính giáo dục, răn đe cao ra xử lưu động mà thôi”.

Ông Nghĩa cho biết thêm: “Trong tài liệu hội nghị triển khai công tác năm của TAND Tối cao cũng có ghi “tăng cường xét xử lưu động” mà không nói rõ là chỉ được xử lưu động án hình sự hay dân sự. Điều đó có nghĩa là cả án hình sự và dân sự đều có thể đưa ra xử lưu động bởi không chỉ riêng án hình sự mà cả dân sự cũng cần phải tuyên truyền. Hơn nữa, việc đưa án dân sự ra xử lưu động mang tính giáo dục, răn đe và tuyên truyền pháp luật cao. Thế nên chúng tôi được lãnh đạo TAND tỉnh đồng thuận, ủng hộ. Thực tế chưa thấy có đương sự nào phản đối hay khiếu nại việc bị đưa ra xét xử lưu động dân sự làm ảnh hưởng đến uy tín, danh dự, nhân phẩm của họ cả. Mà nếu họ nói có bị thiệt hại thì cứ kiện hay khiếu nại và chứng minh thiệt hại đi, chúng tôi sẽ thụ lý, giải quyết”.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 146/BTP-TTR NGÀY 13 THÁNG 5 NĂM 2010 CỦA THANH TRA BỘ TƯ PHÁP HƯỚNG DẪN NGHIỆP VỤ THANH TRA CÔNG TÁC CHỨNG THỰC

Kính gửi:

Thanh tra Sở Tư pháp tỉnh Bạc Liêu

Thanh tra Bộ Tư pháp nhận được Công văn 03/CV-TTr ngày 22/4/2010 của Thanh tra Sở Tư pháp tỉnh Bạc Liêu, trong đó có nêu: Ngày 29/5/2009, thanh tra Sở Tư pháp đã có Công văn số 03/CV-TTr gửi Thanh tra Bộ đề nghị trao đổi nghiệp vụ thanh tra đối với công tác chứng thực của cấp xã, nhưng đến nay chưa nhận được văn bản trả lời. Đồng thời, đề nghị Thanh tra Bộ sớm có công văn hướng dẫn nghiệp vụ. Sau khi xem xét, thanh tra Bộ có ý kiến như sau:

Sau khi nhận được Công văn số 03/CV- TTr ngày 22/4/2010 của Thanh tra Sở, Thanh tra Bộ đã nghiên cứu, đối chiếu với các văn bản pháp luật có liên quan và tháng 7/2009 đã có văn bản trao đổi nghiệp với Thanh tra Sở. Tuy nhiên, đến nay Thanh tra Sở chưa nhận được văn bản trả lời nên chúng tôi trao đổi lại như sau:

Tại khoản 2 Điều 8 Nghị định số 13/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương: Sở Tư pháp là cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh có nhiệm vụ tham mưu, giúp Uỷ ban nhân dân tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật; phổ biến, giáo dục pháp luật; … chứng thực;

Tại khoản 2 Điều 28 Luật Thanh tra và khoản 2 Điều 10 Nghị định Thanh tra tư pháp quy định: Thanh tra Sở Tư pháp có thẩm quyền thanh tra chuyên ngành đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật chuyên ngành thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Sở Tư pháp theo quy định của pháp luật.

Do đó, Thanh tra Sở có thẩm quyền thanh tra hoạt động chứng thực, thẩm quyền cụ thể được xác định như sau:

1. Đối với việc chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 49/2010/NĐ-CP NGÀY 14 THÁNG 5 NĂM 2010 QUY ĐỊNH VỀ MIỄN, GIẢM HỌC PHÍ, HỖ TRỢ CHI PHÍ HỌC TẬP VÀ CƠ CHẾ THU, SỬ DỤNG HỌC PHÍ ĐỐI VỚI CƠ SỞ GIÁO DỤC THUỘC HỆ THỐNG GIÁO DỤC QUỐC DÂN TỪ NĂM HỌC 2010 – 2011 ĐẾN NĂM HỌC 2014 – 2015

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Giáo dục ngày 14 tháng 6 năm 2005;
Căn cứ Luật Dạy nghề ngày 29 tháng 11 năm 2006;
Căn cứ Nghị quyết số 35/2009/QH12 Quốc hội Khóa XII kỳ họp thứ V về chủ trương, định hướng đổi mới một số cơ chế tài chính trong giáo dục và đào tạo từ năm học 2010 – 2011 đến năm học 2014 – 2015;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi, đối tượng điều chỉnh

Nghị định này quy định về miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập và cơ chế thu, sử dụng học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân từ năm học 2010 – 2011 đến năm học 2014 – 2015 bao gồm:

1. Các cơ sở giáo dục ở các cấp học và trình độ đào tạo thuộc hệ thống giáo dục quốc dân;

2. Các cơ sở giáo dục khác được quy định tại Điều 69 của Luật Giáo dục.

Điều 2. Học phí

Học phí là khoản tiền của gia đình người học hoặc người học phải nộp để góp phần bảo đảm chi phí cho các hoạt động giáo dục.

Chương 2.

QUY ĐỊNH VỀ MIỄN GIẢM HỌC PHÍ, HỖ TRỢ CHI PHÍ HỌC TẬP

Điều 3. Đối tượng không phải đóng học phí

Đối tượng không phải đóng học phí tại các cơ sở giáo dục công lập bao gồm: học sinh tiểu học; học sinh, sinh viên sư phạm, người theo học các khóa đào tạo nghiệp vụ sư phạm để đạt chuẩn nghề nghiệp.

Continue reading

VỚI CÁI SAI

NGUYỄN VĂN BÌNH

Về căn bản thì có sai mới có đúng. Nếu không có sai thì chúng ta chưa chắc đã nhận ra cái đúng nó thế nào. Vậy đó. Con người ta sống có lúc đúng, có lúc sai. Từ cái sai để rút kinh nghiệm tới cái đúng thì cái sai đó là có ích. Nhưng nếu cái sai vẫn mãi mãi được bảo tồn là cái sai thì nó là cái nguy hại.

Cái sai đầu tiên không quan trọng, cái sai thứ hai cũng chẳng quan trọng đến cái sai thứ ba thì cần phải xem lại, vì như thế có nghĩa là bạn để cái sai dẫn đường một cách cố ý. Mọi sai lầm của bạn đều có thể tha thứ, đến như tội giết chúa còn được tha huống hồ những nhỏ nhặt thường ngày, tất nhiên kèm theo đó là điều kiện quan trọng, bạn phải thực sự hối lỗi. Người ta đánh kẻ chạy đi, nào ai nỡ đánh kẻ chạy lại. Nếu bạn ngoan cố khi không biết mình sai thì nó sẽ đi một nhẽ, bạn thuộc loại bảo thủ, gàn. Nhưng nếu bạn biết mình sai mà vẫn cố cãi cho bằng đúng, chả những thế mà còn đổ lỗi cho người khác thì quả thực phải coi lại nhân cách của bạn.

Trong kinh doanh, anh làm sai hẹn với thời gian ghi trong hợp đồng thì hiển nhiên anh phải chịu hậu quả và phải đứng ra giải quyết hậu quả đó. Thế nhưng đằng này anh lại gân cổ cãi, cãi chày cãi cối, cãi lấy được bảo rằng không phải anh lỡ hẹn mà bởi vì người khác lỡ hẹn với anh, cho nên hà cớ gì lại trách anh. Ô hay, tôi ngạc nhiên quá, anh ký hợp đồng với tôi là đến ngày này, ngày kia ra sản phẩm, còn anh liên kết ở đâu tôi thèm gì biết. Ai sai hẹn với anh tôi thèm gì biết, tôi chỉ biết tôi với anh ký với nhau và anh sai. Vậy thì anh phải nhận lỗi với tôi chứ. Sao anh lại lôi cái đối tác sau anh ra, nó thuộc về phần hậu trường của anh cơ mà. Thế nhưng anh vẫn cố tình không hiểu. Chả những thế, nhân thể anh còn lu loa rằng như thế là xúc phạm anh, không tin anh và anh vờ bực tức phá bỏ luôn hợp đồng. Nghĩa là anh cố cãi để chuyển bại thành thắng, chuyển sai thành đúng. Cái kiểu làm ăn như thế của anh thì chắc chắn với tôi chỉ được một lần, còn lại thì cạch tới già. Trên đời này không ai lại có thể hợp tác với loại chuyen đi đổ lỗi cho người khác. Giá như anh xin lỗi đàng hoàng, thành thực tôi có thể bỏ qua cho và cả hai cùng giải quyết hậu quả. Nhưng cái hành động cả vũ lấp miệng em của anh khiến tôi nghĩ mình đúng là ngờ nghệch cho nên đã đâm đầu vào cái kẻ vốn đã làm ăn bê bết, chả ra gì mà còn giỏi đổ lỗi vấy vạ.

Continue reading

QUAN ĐIỂM CHIẾN LƯỢC HOÀN THIỆN THỂ CHẾ KINH TẾ CỦA NHÀ NƯỚC VIỆT NAM trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường định hướng XHXN và hội nhâp quốc tế

GS.TSKH. LƯƠNG XUÂN QUÌ

Trong nhiều năm qua, thể chế kinh tế của Nhà nước đã góp phần khơi dậy sức sáng tạo; làm sống dậy các tiềm năng, các nguồn lực của xã hội và do đó, góp phần  tạo nên những thành quả đáng kể về sự phát triển kinh tế và sự tiến bộ xã hội của đất nước ta.

Tuy nhiên, hệ thống thể chế kinh tế của Nhà nước hay nói cách khác là từng bộ phận thể chế kinh tế của Nhà nước vẫn đang còn tồi tại nhiều khiếm khuyết như: hệ thống luật pháp về kinh tế vẫn còn chưa đồng bộ, thiếu nhất quán, nhiều đạo luật quan trọng chưa được hình thành hoặc chưa phù hợp với nền kinh tế thị trường; công tác định hướng phát triển kinh tế – xã hội còn nhiều thiếu sót, trong hệ thống chính sách kinh tế đã xuất hiện những yếu tố làm chậm tiến trình của công cuộc cải cách theo hướng thị trường; các chính sách, quy định còn lúng túng trong giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và đảm bảo mục tiêu tiến bộ, công bằng xã hội; năng lực kiến tạo và vận hành thể chế của bộ máy nhà nước còn những hạn chế; tính thích ứng của thể chế trong điều kiện Việt Nam đã gia nhập WTO vẫn còn mờ nhạt.

Vậy nên hoàn thiện thể chế kinh tế của nhà nước Việt Nam theo hướng nào? Nên xem thể chế kinh tế là điều kiện hay động lực cho quá trình phát triển khi Việt Nam đã gia nhập WTO? Mối quan hệ ràng buộc và tính độc lập giữa thể chế kinh tế với thể chế chính trị và các thiết chế văn hoá nên được xác lập như thế nào? Vai trò của một xã hội dân sự nằm ở đâu trong quá trình hình thành thể chế kinh tế của nhà nước? Để góp phần trả lời những câu hỏi trên, bài viết này trình bày các quan điểm chiến lược hoàn thiện thể chế kinh tế của nhà nước Việt Nam trong bối cảnh chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế.

1. Hoàn thiện thể chế kinh tế của nhà nước là một quá trình thường xuyên, liên tục, vừa có những định hướng chiến lược, vừa có những điều chỉnh kịp thời để phù hợp với tình hình phát triển của đất nước và bối cảnh kinh tế thế giới trong những giai đoạn nhất định.

Continue reading

QUAN ĐIỂM CHIẾN LƯỢC HOÀN THIỆN THỂ CHẾ KINH TẾ CỦA NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH CHUYỂN SANG KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ

GS.TSKH. LƯƠNG XUÂN QUÌ

Trong nhiều năm qua, thể chế kinh tế của Nhà nước đã góp phần khơi dậy sức sáng tạo; làm sống dậy các tiềm năng, các nguồn lực của xã hội và do đó, góp phần  tạo nên những thành quả đáng kể về sự phát triển kinh tế và sự tiến bộ xã hội của đất nước ta.

Tuy nhiên, hệ thống thể chế kinh tế của Nhà nước hay nói cách khác là từng bộ phận thể chế kinh tế của Nhà nước vẫn đang còn tồi tại nhiều khiếm khuyết như: hệ thống luật pháp về kinh tế vẫn còn chưa đồng bộ, thiếu nhất quán, nhiều đạo luật quan trọng chưa được hình thành hoặc chưa phù hợp với nền kinh tế thị trường; công tác định hướng phát triển kinh tế – xã hội còn nhiều thiếu sót, trong hệ thống chính sách kinh tế đã xuất hiện những yếu tố làm chậm tiến trình của công cuộc cải cách theo hướng thị trường; các chính sách, quy định còn lúng túng trong giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và đảm bảo mục tiêu tiến bộ, công bằng xã hội; năng lực kiến tạo và vận hành thể chế của bộ máy nhà nước còn những hạn chế; tính thích ứng của thể chế trong điều kiện Việt Nam đã gia nhập WTO vẫn còn mờ nhạt.

Vậy nên hoàn thiện thể chế kinh tế của nhà nước Việt Nam theo hướng nào? Nên xem thể chế kinh tế là điều kiện hay động lực cho quá trình phát triển khi Việt Nam đã gia nhập WTO? Mối quan hệ ràng buộc và tính độc lập giữa thể chế kinh tế với thể chế chính trị và các thiết chế văn hoá nên được xác lập như thế nào? Vai trò của một xã hội dân sự nằm ở đâu trong quá trình hình thành thể chế kinh tế của nhà nước? Để góp phần trả lời những câu hỏi trên, bài viết này trình bày các quan điểm chiến lược hoàn thiện thể chế kinh tế của nhà nước Việt Nam trong bối cảnh chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế.

1. Hoàn thiện thể chế kinh tế của nhà nước là một quá trình thường xuyên, liên tục, vừa có những định hướng chiến lược, vừa có những điều chỉnh kịp thời để phù hợp với tình hình phát triển của đất nước và bối cảnh kinh tế thế giới trong những giai đoạn nhất định.

Continue reading

SỞ HỮU NHÀ NƯỚC, KINH TẾ NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

GS.TS. TRẦN MINH ĐẠO

Kể từ Đại hội lần thứ VIII của Đảng cộng sản Việt Nam, trong Văn kiện bắt đầu xuất hiện thuật ngữ kinh tế nhà nước để chỉ một thành phần kinh tế trong nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam. Thành phần kinh tế này được sử dụng để thay thế cho tên gọi của thành phần kinh tế quốc doanh, được xác định từ các Đại hội trước của đảng ta.Từ đó đến nay thuật ngữ thành phần kinh tế nhà nước được sử dụng phổ biến ở nước ta.Thành phần kinh tế nhà nước, được khẳng định, bao gồm bộ phận phi doanh nghiệp và hệ thống doanh nghiệp nhà nước.

Nhưng kinh tế nhà nước dựa trên nền tảng của chế độ và/hoặc hình thức sở hữu nào, trong khi nhiều đối tượng thuộc kinh tế nhà nước hiện nay lại thuộc sở hữu toàn dân( Được ghi trong Hiến pháp của nước CHXHCN Việt Nam). Thêm vào đó, nhiều ý kiến đổ lỗi cho sở hữu toàn dân là căn nguyên của tình trạng vô chủ. Chính vì những điều này  nên nhiều công trình nghiên cứu đề nghị dùng thuật ngữ sở hữu nhà nước thay thế cho thuật ngữ sở hữu toàn dân. Điều đó có nên không? Bài viết này sẽ tham gia vào trả lời câu hỏi hóc búa đó.

Như chúng ta đã biết, cho đến nay trong văn kiện của Đảng đã chính thức sử dụng thuật ngữ sở hữu nhà nước, kinh tế nhà nước hàm ý thay thế cho sở hữu toàn dân và kinh tế quốc doanh. Việc dùng thuật ngữ sở hữu nhà nước hàm ý thay thế sở hữu toàn dân xuất phát từ 3 lập luận: Một là, trong suốt chặng đường xây dựng CNXH ở Việt Nam các đối tượng thuộc sở hữu toàn dân, không những không được quản lý chặt chẽ để bảo toàn mà, thậm chí còn bị hao tổn và thất thoát. Nguyên nhân của tình trạng trên được quy về là do thuật ngữ sở hữu toàn dân dẫn đến hậu quả là không có ai sở hữu, tức là vô chủ. Hai là, nhà nước của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước “ của dân, do dân, vì dân”, do đó nói sở hữu nhà nước, đã tất yếu bao hàm nghĩa toàn dân, đồng thời lại góp phần làm sáng tỏ hơn chủ thể sở hữu. Ba là, khi xác định chủ thế sở hữu là nhà nước, thì nhà nước ấy không có nghĩa chỉ có Chính phủ, mà nhà nước trong trường hợp này bao hàm cả Chính phủ, Nhà nước, Quốc hội và Đảng. Cho nên, khái niệm nhà nước trong trường hợp này không hề chỉ là một chủ thể đại diện cho một nhóm người, hay cho một giai cấp, mà cho nhân dân lao động nói chung.

Continue reading

QUI ĐỊNH VỀ ĐÌNH CÔNG CẦN THỰC TẾ HƠN

TUẤN HOÀNG

Năm 2007, chương XIV Bộ luật Lao động được sửa đổi, bổ sung theo hướng đơn giản hóa các thủ tục cần thiết cho việc tổ chức một cuộc đình công theo trình tự pháp luật quy định. Thế nhưng, đình công tự phát vẫn xảy ra. Dự thảo lần 3 Bộ luật Lao động sửa đổi cũng tiếp tục có những thay đổi, tuy nhiên so với các quy định trước đây, dự thảo lần này không có sự thay đổi lớn.

Quy định pháp luật về đình công: xa rời thực tế

Những thay đổi trong quy định về điều kiện và thủ tục đình công tại chương XIV Bộ luật Lao động có hiệu lực từ năm 2007 đã không đáp ứng được nhu cầu của thực tế giải quyết đình công. Việc xây dựng và sửa đổi luật vẫn chưa đi sâu nghiên cứu thực tiễn của hiện tượng đình công tại Việt Nam. Hậu quả tất yếu là các quy định đó không được áp dụng trên thực tế.

Thứ nhất, quyền đình công chỉ được thực hiện đối với các tranh chấp về lợi ích, là những tranh chấp về việc tập thể lao động yêu cầu xác lập các điều kiện lao động mới hơn so với quy định của pháp luật lao động, thỏa ước lao động tập thể hoặc các thỏa thuận khác với doanh nghiệp (điều 157 Bộ luật Lao động 2007).

Những tranh chấp về quyền, là tranh chấp về việc thực hiện các quy định pháp luật, thỏa ước lao động tập thể và nội quy lao động mà doanh nghiệp đã đăng ký với cơ quan nhà nước, chỉ được giải quyết bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền bao gồm: hội đồng hòa giải lao động cơ sở hoặc hòa giải viên, chủ tịch ủy ban nhân dân quận, huyện và tòa án nhân dân (điều 165 Bộ luật Lao động 2007).

Thế nhưng, có những tranh chấp mà nội dung của nó không thể xác định được là tranh chấp về quyền hay tranh chấp về lợi ích.

Đơn cử trường hợp doanh nghiệp và người lao động thỏa thuận trong thỏa ước lao động tập thể về trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc cung cấp bữa ăn trưa cho người lao động.

Continue reading

TRANH CHẤP DÂN SỰ: KIỆN ĐÒI HƠN 55 TRIỆU USD TIỀN THẮNG CƯỢC

LÊ NGA

TAND Q.1, TP.HCM vừa ra thông báo thụ lý vụ kiện đòi tiền thắng cược qua trò chơi điện tử có thưởng tại Câu lạc bộ Palazzo (khách sạn Sheraton Sài Gòn) với số tiền lên đến trên 55 triệu USD.

Theo đơn của nguyên đơn là ông Ly Sam (SN 1951, thương nhân mang quốc tịch Mỹ, đang kinh doanh tại VN) khởi kiện bị đơn là Công ty liên doanh Đại Dương (khách sạn Sheraton Sài Gòn), ngày 25.10.2009 ông Ly Sam có tham gia trò chơi có thưởng tại máy số 13 của Câu lạc bộ Palazzo tại khách sạn Sheraton Sài Gòn (một hình thức đánh bạc với máy). Quá trình chơi, ông Ly Sam được máy báo kết quả trúng thưởng 55.542.291,70 USD. Người quản lý ở đây hứa sẽ trả thưởng trong vòng 3 ngày nhưng không chịu ký vào biên bản ghi nhận kết quả.

Vì vậy, ông Ly Sam ghi lại hình máy số 13 và lập biên bản ghi nhận sự việc trúng được cùng chữ ký của một số người chơi tại đây với vai trò người làm chứng. Sau đó, ông Ly Sam liên hệ để đòi số tiền thắng cược này nhiều lần nhưng không kết quả vì đại diện của Công ty liên doanh Đại Dương cho rằng nguyên nhân ông Ly Sam thắng cược là do máy bị sự cố nên kết quả này bị vô hiệu. Không đồng ý với lý lẽ này, ông Ly Sam khởi kiện vụ án ra tòa.

Trong đơn khởi kiện, ông Ly Sam phân tích: thời gian trước đó cho đến thời điểm (10 giờ 30 ngày 25.10.2009) máy 13 báo người chơi trúng thưởng, máy này không có bất kỳ thông báo hoặc lưu ý nào được dán lên cảnh báo người chơi máy bị lỗi hoặc hư hỏng. Công ty nhận khoản tiền của người chơi qua máy có nghĩa là người chơi và công ty chấp nhận mọi kết quả thắng hoặc thua.

“Đây là trò chơi giữa người với máy điện tử được cài sẵn chương trình, do đó việc trúng thưởng hay không tùy thuộc vào sự khéo léo của người chơi và may rủi của máy tính, nếu máy báo không trúng thì người chơi mất tiền, không ai có thể đổ lỗi cho máy và ngược lại máy tính báo kết quả trúng thưởng bao nhiêu thì công ty phải trả thưởng bấy nhiêu”, ông Ly Sam lập luận.

Continue reading