QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC SAU CHUYỂN ĐỔI: ĐÃ ĐẾN LÚC ĐOẠN TUYỆT VỚI CƠ CHẾ CHỦ QUẢN

LG. VŨ XUÂN TIỀN

Sự kiện hơn 1.500 doanh nghiệp nhà nước (DNNN) được cấp tốc chuyển đổi thành công ty TNHH một thành viên theo Nghị định số 25/2010/NĐ-CP (NĐ25) đã và đang… chìm dần với thông tin: về cơ bản đã về đích đúng hạn.

Đã có nhiều ý kiến cho rằng, hoạt động theo Luật doanh nghiệp, các DNNN sau chuyển đổi sẽ có một hành lang pháp lý rộng hơn, tự chủ cao hơn, năng động hơn. Từ đó, chúng ta sẽ có những doanh nghiệp mạnh, góp phần thúc đẩy nhanh hơn nữa cho sự phát triển của nền kinh tế quốc dân. Đó là hy vọng và không ai có thể cấm người ta hát những "Bài ca hy vọng" như vậy!

Tuy nhiên, nhìn thẳng vào sự thật có thể thấy, việc các DNNN chuyển thành Công ty TNHH một thành viên theo NĐ25 vừa qua, thực chất chỉ là tạo ra những chiếc "bình mới" cho một "chất rượu" cũ mà thôi. Các DNNN sau khi chuyển đổi thành Công ty TNHH một thành viên sẽ chưa (hoặc không) có sự thay đổi nào đáng kể về quản trị doanh nghiệp – khâu quyết định đối với sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Bởi lẽ, công tác quản trị các DNNN sau chuyển đổi theo NĐ 25, vẫn chưa thoát khỏi sự ràng buộc của cơ chế chủ quản.

Chủ quản là gì?

Chủ quản và cơ chế chủ quản là sản phẩm của thời kỳ nền kinh tế nước ta được quản lý theo kế hoạch tập trung. Sau này, cơ chế đó được gọi với cái tên đầy đủ là "Kế hoạch hoá tập trung, quan liêu, bao cấp". Những đặc trưng cơ bản của cơ chế chủ quản là:

– Các doanh nghiệp trong nền kinh tế đều là DNNN, do Nhà nước làm chủ sở hữu. Khi đó, Nhà nước độc quyền kinh doanh. Người dân mà kinh doanh là vi phạm pháp luật, là con buôn, là "bọn tiểu thương"!

– Mỗi doanh nghiệp, khi đó được gọi là Xí nghiệp, đều do một cơ quan quản lý Nhà nước quản lý, gọi là cơ quan chủ quản. Chẳng hạn, Xí nghiệp sản xuất xe đạp thì do Ty (sau này là Sở) Công nghiệp quản lý; Xí nghiệp Thương mại bán buôn, bán lẻ thì do Ty (Sở) Thương nghiệp quản lý, v.v…

– Mỗi Xí nghiệp có một Giám đốc Xí nghiệp do Giám đốc Sở bổ nhiệm hoặc đề nghị Chủ tịch UBND tỉnh bổ nhiệm tuỳ theo quy mô của Xí nghiệp.

Continue reading

THỰC TIỄN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ: NGHI TẨU TÁN TÀI SẢN NHƯNG KHÓ XỬ LÝ

NGUYỄN TIẾN HIỂU

Đương sự đã chuyển giao tài sản cho người thứ ba một cách… hợp pháp. Người được thi hành án chỉ biết khóc ròng vì bên phải thi hành án không còn tài sản.

Hiện nay, có một số bản án của tòa chưa kịp thi hành thì người phải thi hành án lại tiếp tục có những khoản nợ lớn khác. Hai bên lại ra tòa, thỏa thuận sẽ cấn tài sản để trả nợ… Người được thi hành án ở bản án trước nghi ngờ có sự giả tạo để tẩu tán tài sản nhưng cũng không làm gì được.

Vay người này, nhận nợ người khác

Tháng 5-2007, vợ chồng bà T. (Buôn Ma Thuột, Dăk Lăk) vay của ngân hàng 750 triệu đồng. Đến thời kỳ trả nợ nhưng không có tiền, bà T. đã phải vay của bà H. hơn 800 triệu đồng với lãi suất hơn 4 triệu đồng/ngày. Theo thỏa thuận, bà T. sẽ vay lại ngân hàng để trả lại tiền cho bà H. sau khi đã thanh toán khoản vay trước.

Sau một thời gian dài, bà T. vẫn không trả nợ. Biết vợ chồng bà T. có tài sản (nhà đất và xe ôtô) nên bà H. khởi kiện ra tòa. Nhưng cũng lúc này bà H. hay tin bà T. đã nợ một người khác gần 2 tỉ đồng rồi giao tài sản trên để cấn nợ. Giao dịch này cũng đã được tòa công nhận trong một quyết định hòa giải thành.

Thành thử khoản nợ mà bà H. cho bà T. vay đã trở nên khó đòi vì bà T. không còn có tài sản nào đáng giá.

Tương tự, bà M. ở quận 2 (TP.HCM) cũng khóc ròng vì chủ nợ thay vì bán nhà trả nợ cho mình lại đưa nhà đi cấn nợ cho người khác khiến bà không thể đòi được nợ.

Trước đó, TAND quận này đã tuyên buộc bà L. phải trả cho bà M. trên 700 triệu đồng. Hai bên đang làm thủ tục thi hành án thì bà L. đã viết giấy mượn nợ của một người thân rồi cấn căn nhà của mình cho chủ nợ sau. Bà M. chưa kịp làm thủ tục yêu cầu phong tỏa tài sản nên đành phải làm người… đến sau. Nhiều lần bà khiếu nại cho rằng đây là một vụ giả nhận nợ để tẩu tán tài sản nhưng không được chấp nhận vì không có chứng cứ.

Ly hôn rồi nhường hết tài sản

Tháng 4-2006, ông S. (tỉnh Kiên Giang) bán cho bà T. bảy lô đất nông nghiệp với giá hơn 300 triệu đồng. Hai bên đã làm hợp đồng mua bán, giao nhận tiền đầy đủ. Tuy nhiên, sau đó việc mua bán không thành nên đã kéo nhau ra tòa.

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 106/2010/TT-BTC NGÀY 26 THÁNG 7 NĂM 2010 CỦA BỘ TÀI CHÍNH HƯỚNG DẪN LỆ PHÍ CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT, QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở VÀ TÀI SẢN KHÁC GẮN LIỀN VỚI ĐẤT

Căn cứ Luật Đất đai năm 2003;
Căn cứ Pháp lệnh phí và lệ phí năm 2001;
Căn cứ Nghị định số 57/2002/NĐ-CP ngày 03/6/2002 quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh phí và lệ phí và Nghị định số 24/2006/NĐ-CP ngày 06/3/2006 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 57/2002/NĐ-CP ngày 03/6/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh phí và lệ phí;
Căn cứ Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chính phủ quy định việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;
Căn cứ Nghị định số 118/2008/NĐ-CP ngày 27/11/2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính;
Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại công văn số 2000/VPCP-KTTH ngày 29/3/2010 của Văn phòng Chính phủ về lệ phí cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ở nông thôn;
Bộ Tài chính hướng dẫn lệ phí cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sử hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, như sau:

Điều 1. Đối tượng áp dụng

Các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc tổ chức được uỷ quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sử hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi là Giấy chứng nhận) phải nộp lệ phí cấp Giấy chứng nhận.

Điều 2. Mức thu lệ phí cấp Giấy chứng nhận

1. Đối với hộ gia đình, cá nhân tại các quận thuộc thành phố trực thuộc Trung ương; phường nội thành thuộc thành phố hoặc thị xã trực thuộc tỉnh: Mức thu tối đa không quá 100.000 đồng/giấy đối với cấp mới; tối đa không quá 50.000 đồng/lần cấp đối với cấp lại (kể cả cấp lại Giấy chứng nhận do hết chỗ xác nhận), cấp đổi, xác nhận bổ sung vào Giấy chứng nhận.

Trường hợp Giấy chứng nhận cấp cho hộ gia đình, cá nhân chỉ có quyền sử dụng đất (không có nhà và tài sản khác gắn liền với đất) thì áp dụng mức thu tối đa không quá 25.000 đồng/giấy cấp mới; tối đa không quá 20.000 đồng/lần cấp đối cấp lại (kể cả cấp lại Giấy chứng nhận do hết chỗ xác nhận), cấp đổi, xác nhận bổ sung vào Giấy chứng nhận.

Continue reading

TÍCH TỤ RUỘNG ĐẤT HỢP LÝ ĐỂ CÔNG NGHIỆP HÓA NÔNG NGHIỆP

PGS.TS. LÊ TRỌNG – Đại học Kinh tế quốc dân

Tích tụ ruộng đất là một biểu hiện về quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất trong quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp theo hướng chuyên môn hóa, phát triển các loại cây trồng thâm canh cao để sản xuất nông sản hàng hóa, đáp ứng được yêu cầu của thị trường trong và ngoài nước. Tích tụ ruộng đất đã và đang diễn ra rất phong phú trong thực tiễn. Bài viết dưới đây phản ánh những hình thức đang có tại Việt Nam và một số suy nghĩ về giải pháp cho việc tích tụ ruộng đất hợp lý.

Trong quá trình tích tụ ruộng đất để công nghiệp hóa, Đảng và Nhà nước đã nhấn mạnh: Phải chọn hình thức hợp lý tạo điều kiện thuận lợi cho nông dân có việc làm, có đời sống tốt hơn, xóa đói giảm nghèo nhanh và bền vững. Từng bước giảm dần khoảng cách giàu nghèo giữa các hộ, giữa thành thị và nông thôn.

I – Các hình thức

Thực tế những năm qua, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của sản xuất nông nghiệp, ở nước ta đã có nhiều hình thức tích tụ ruộng đất khác nhau, có thể tổng kết lại như sau:

1. Nhiều nhà nông đã tích tụ ruộng đất lập trang trại bằng cách thuê đất công – tư, mua, mượn hoặc được giao, được thừa kế, cho… để phát triển kinh tế trang trại có quy mô từ nhỏ đến lớn. Đây là hình thức đầu tiên được hình thành từ những năm 80 của thế kỷ XX.

2. Dồn điền, đổi thửa để phát triển kinh tế nông hộ, có dịch vụ của hợp tác xã nông nghiệp là hình thức phổ biến mà nhiều tỉnh đã và đang làm (như Quảng Nam, Quảng Ngãi, Thái Bình…). Đây là một yêu cầu của tích tụ ruộng đất để thực hiện cơ giới hóa có hiệu quả trong giai đoạn đầu, sau đó có thể chọn hình thức hợp tác liên kết sản xuất – kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế.

Continue reading

TÂM TÌNH VỚI TRÍ THỨC NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI

HỒ HẢI

Mấy hôm nay đọc bài: Vì sao ít trí thức Việt kiều về nước làm việc? của tác giả Nguyễn Quốc Vọng đặng trên Tia Sáng, làm tôi có một vài suy nghĩ nên viết một số tâm tình dưới cái nhìn triết học với quý vị để làm sao chúng ta có cái nhìn rạch ròi về vấn đề rất đáng quan tâm này.

Bản chất của cuộc đời nằm trong nhiều cặp phạm trù triết học mà buộc mỗi con người sinh ra và lớn lên ở bất cứ nơi đâu trên trái đất này cần phải hiểu để thành đạt. Song có những cặp phạm trù mà đã là con người thì cần phải quan tâm, đặc biệt con người đã trưởng thành và có chút thành đạt với đời.

Danh và Lợi: Sinh ra làm người không ai có thể thoát được cặp phạm trù danh – lợi. Dù là Thích Ca hay Chúa Jesus đã vì Đạo để chỉ ra con đường hướng thiện cho nhân loại thì họ cũng phải vướng vào một vế của cặp phạm trù này: chữ Danh, dù họ không màng đến danh lợi khi dấn thân và vong thân. Thế thì khi đã xác định được là người Việt Nam có tấm lòng với đất nước, thì phải xác định sự quay về với vì cái gì của một trong hai vế của cặp phạm trù danh và lợi? Dĩ nhiên, ở đời, không phải ai cũng có thể thực hiện hết cả hai vế cùng một lúc. Có người đi bằng thực tài lấy công danh trước, khi công danh đã chạm trần thì lúc đó lợi sẽ theo nhau về với họ. Có kẻ không bằng sức lực và trí tuệ của mình, mà chỉ bằng mánh lới của cuộc đời dạy cho để kiếm lợi trước, sau khi có lợi thì đi mua danh. Tất cả đều đi đến La Mã, chỉ khác nhau con đường đi, con đường ấy gọi là Đạo. Đạo cũng có chánh đạo và tà đạo là vậy.

Cho nên theo thiển ý của tôi, với quý vị người Việt ở nước ngoài, nếu đã có tấm lòng thì nên xác định rõ mình về vì cái gì của cặp phạm trù danh lợi để có chiến lược rõ ràng, mà không có bất kỳ mắc mớ gì trong tư duy khi muốn trở về đóng góp phần công sức nhỏ của mình với tổ quốc và dân tộc. Cụ thể tôi có thể nói đơn giản như thế này, nếu về vì danh thì nên chấp nhận những gì mà cơ chế đang hiện hành để góp sức với nó tốt hơn. Nếu vì lợi thì cũng nên chấp nhận những gì khó khăn đang dàn trải ra trên bước đường vì lợi. Anh không thể đem so sánh những gì ở xứ người để đem áp dụng vào Việt Nam, vì tại sao cũng với cơ chế ấy, khó khăn ấy nhưng những doanh nhân châu Á, Âu, Mỹ… họ lại vẫn đầu tư và thành công ở Việt nam. Trí thức của họ vẫn về giảng dạy ở các trường ở Việt Nam, nhưng người Việt thì không thể? Họ làm được tức họ cũng đã thể hiện không chỉ vì danh – lợi mà họ còn thực hiện được nhiệm vụ chính trị một cách âm thầm, không ai biết và cũng không ai buộc phải giao cho họ.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 83/2010/NĐ-CP NGÀY 23 THÁNG 7 NĂM 2010 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Bộ luật Dân sự ngày 14 tháng 6 năm 2005;
Căn cứ Bộ luật Hàng hải ngày 14 tháng 6 năm 2005;
Căn cứ Luật Đất đai ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Căn cứ Luật Bảo vệ và Phát triển rừng ngày 03 tháng 12 năm 2004;
Căn cứ Luật Hàng không dân dụng Việt Nam ngày 29 tháng 6 năm 2006;
Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản ngày 19 tháng 6 năm 2009;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định trình tự, thủ tục đăng ký và cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm bằng tài sản (sau đây gọi chung là đăng ký giao dịch bảo đảm); tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm và quản lý nhà nước về đăng ký giao dịch bảo đảm.

Điều 2. Giải thích từ ngữ

Trong Nghị định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Đăng ký giao dịch bảo đảm là việc cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm ghi vào Sổ đăng ký giao dịch bảo đảm hoặc nhập vào Cơ sở dữ liệu về giao dịch bảo đảm việc bên bảo đảm dùng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên nhận bảo đảm.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 2496/LĐTBXH-LĐTL NGÀY 23 THÁNG 7 NĂM 2010 CỦA BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI VỀ GIẢI ĐÁP CHẾ ĐỘ ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG THÔI VIỆC TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN

Kính gửi:

Công ty cổ phần nhiệt điện Phả Lại
(huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương)

Trả lời công văn số 1771/CV-PPC-TCLĐ&TCKT ngày 05/5/2010 của Công ty cổ phần nhiệt điện Phả Lại về kinh phí chi trả trợ cấp thôi việc đối với người lao động ở công ty cổ phần, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:

Điểm c, khoản 3, mục III Thông tư số 20/2007/TT-BLĐTBXH ngày 04/10/2007 của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện chính sách đối với người lao động theo Nghị định số 109/2007/NĐ-CP ngày 26 tháng 6 năm 2007 của Chính phủ về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần quy định công ty cổ phần có trách nhiệm trả trợ cấp thôi việc, mất việc làm cho người lao động từ doanh nghiệp 100% vốn nhà nước chuyển sang khi người lao động đó mất việc làm, thôi việc tại công ty cổ phần, kể cả khoản trợ cấp cho thời gian thực tế làm việc tại doanh nghiệp 100% vốn nhà nước trước đó và thời gian người lao động làm việc tại công ty, đơn vị khác thuộc khu vực nhà nước nhưng chuyển đến công ty 100% vốn nhà nước trước ngày 01 tháng 01 năm 1995 mà chưa nhận trợ cấp thôi việc, mất việc làm.

Khoản 3, Điều 56, Nghị định số 109/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007 của Chính phủ về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần quy định các doanh nghiệp đã đăng ký kinh doanh chuyển sang công ty cổ phần trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành được tiếp tục hưởng các ưu đãi theo quy định của pháp luật có liên quan.

Điểm b, khoản 8, Điều 36 Nghị định số 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần quy định trường hợp người lao động bị mất việc, thôi việc trong 4 năm tiếp theo (tức từ năm thứ 2 đến hết năm thứ 5, kể từ ngày chuyển thành công ty cổ phần) thì công ty cổ phần có trách nhiệm thanh toán 50% tổng mức trợ cấp theo quy định của Bộ luật Lao động, số còn lại được thanh toán từ tiền thu của Nhà nước do cổ phần hóa công ty nhà nước quy định tại Điều 35 Nghị định số 187/2004/NĐ-CP và được quy định cụ thể tại Quyết định số 09/2008/QĐ-BTC ngày 31/01/2008 và Quyết định số 104/2008/QĐ-BTC ngày 13/11/2008 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về quy chế quản lý và sử dụng Quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp tại các Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước, công ty mẹ. Hết thời hạn trên, công ty cổ phần chịu trách nhiệm thanh toán toàn bộ trợ cấp cho người lao động.

Continue reading

QUẢN LÝ BẰNG PHÁP LUẬT NHƯ THẾ NÀO?

 NGUYỄN ĐỨC LAM

Ở đời “lạt mềm buộc chặt”. Tưởng chừng như nghịch lý, nhưng pháp luật- thường được hình dung là nghiêm minh, cứng rắn- cũng không phải là ngoại lệ. Quản lý bằng pháp luật, cũng như quản lý nói chung, không phải là buộc diều vào cây sào tre, mà hãy như trẻ mục đồng, thả diều bay lượn, đón gió trên bầu trời khoáng đạt, rộng lớn… Muốn vậy, cần đưa cuộc sống vào luật và đưa luật vào cuộc sống; pháp luật khơi dòng lợi ích; pháp luật là cuộn dây diều, chứ không phải là cây sào tre; có pháp luật cho dân và pháp luật cho công quyền; cuối cùng, pháp luật phải gây được niềm tin nơi công lý.

Đưa cuộc sống vào luật để quản cuộc sống

Chúng ta hay kêu gọi đưa pháp luật vào cuộc sống, hay than phiền là luật chưa vào được cuộc sống. Nhưng điều không kém phần quan trọng là luật phải bắt nguồn từ cuộc sống, hỏi xem, người dân, xã hội có cần đến luật đó hay không, có nghĩa là đưa cuộc sống vào luật.

Làm luật thì phải nhắm vào các vấn đề xã hội đang phát sinh. Vấn đề nào quan trọng cần được xử lý trước, vấn đề nào ít quan trọng hơn xử lý sau. Không nên làm luật theo ý muốn chủ quan vì các nguồn lực của đất nước có thể bị tiêu tốn vào những việc chưa chắc đã cần thiết nhất. Ngoài ra, các vấn đề đã phát sinh thì sẽ không tự biến mất. Nếu không được xử lý đúng lúc, các chi phí để giải quyết chúng chỉ ngày càng tăng lên gấp bội. Nếu vấn đề phát sinh trong cuộc sống không được nhận thức rõ ràng, và chính sách đề ra để xử lý vấn đề đó cũng không rõ nốt, chúng ta sẽ có những dự thảo văn bản pháp luật nói tới tất cả mọi chuyện trên đời nhưng không giải quyết được chuyện nào cả. Tất cả đều đúng, tất cả đều cần thiết, thế nhưng triển khai những văn bản đó vào cuộc sống thì không thể làm được. Bởi vậy, làm luật không chỉ cần hợp pháp, mà còn cần cả hợp lý nữa, hay nói cách khác, quản lý bằng pháp luật có nghĩa là “quản” cho có “lý”.

Continue reading

MỘT SỐ TÌNH HUỐNG VỀ PHÁP LUẬT KINH DOANH QUỐC TẾ

FANCY88 – saga (Sưu tầm)

Nội dung sự việc 1:

Tàu được thuê khứ hồi theo mẫu hợp đồng ASBATANK VOY để chở dầu thô đến cảng đến và nhận dầu fuel để vận chuyển về cảng xuất phát. Trong hợp đồng các bên đã thoả thuận là thời gian bắt đầu làm hàng phải được tính ngay sau khi tàu trao TBSS hợp lệ.

Tại cảng đến, sau khi dỡ xong dầu thô, thuyền trưởng đã trao TBSS vào hồi 10h ngày 29/6 nhưng trong thực tế vào thời gian đó tàu vẫn chưa sẵn sàng xếp hàng vì các tăng chứa dầu vẫn còn chưa được tẩy rửa xong hoàn toàn.

8h 30 ngày 5/7 thuyền trưởng điện báo cho đại lý và người nhận hàng (đồng thời cũng là người phải xếp lô hàng mới) với nội dung sau: "Tàu đã thu gom tất cả những hàng còn sót lại trên tàu, sau khi đã làm vệ sinh tẩy rửa các tăng có thể chứa được 300m­­­3. Sẵn sàng giao tại bờ khi tàu vào cầu để bù vào số lượng đã báo thiếu như đã thoả thuận với các ông khi hoàn thành dỡ hàng".

Giữa hai bên xảy ra tranh chấp về việc tính thời gian bắt đầu làm hàng. Chủ tàu cho rằng thời gian làm hàng sẽ được tính từ khi trao TBSS còn người thuê không đồng ý vì khi ddó tàu chưa tẩy rưae xong lô hàng cũ. Tranh chấp được đưa ra trọng tài London.

Phán quyết của trọng tài:

– Tàu được coi là sẵn sàng xếp hàng để có thể trao được TBSS hợp lệ khi các tăng chứa dầu đã được tẩy rửa sạch sẽ, nước và cặn dầu thô đã được thu dọn vào các tăng chứa riêng.

– Thuyền trưởng đã trao TBSS vào ngày 29/6. Tuy nhiên, từ thời gian này trở đi, người xếp hàng cũng như đại lý đều biết rằng tàu đang neo đậu và tẩy rửa các tăng chứa dầu trước khi nhận lô hàng mới xếp xuống tàu theo hợp đồng đã dự kiến. Hơn nữa, vào ngày 5/7, thuyền trưởng lại gửi cho đại lý va người xếp hàng (cũng là người đã nhận lô dầu thô tàu dã chở tới trước đó) bức điện như đã trích dẫn ở trên. Với bức điện này, thuyền trưởng đã tự nhận là tàu chưa được tẩy rửa cho tới ngày 5/7.

Continue reading

HƯỚNG TỚI HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ: CÓ NÊN XỬ RÚT GỌN ÁN DÂN SỰ?

HOÀNG YẾN

Một khi vụ việc đã rõ như ban ngày, một mình thẩm phán cũng xử lý được, cần gì phải có thêm hai hội thẩm nhân dân cho cồng kềnh?

Thực tế đã xuất hiện ngày càng nhiều tranh chấp dân sự mà chứng cứ rõ ràng, các bên đương sự đều thừa nhận và mong muốn tòa giải quyết nhanh. Nhiều chuyên gia, thẩm phán cho rằng nên lược bỏ bớt thủ tục không cần thiết để đẩy nhanh tiến độ giải quyết án…

Một điều làm ngành tòa đang đau đầu là theo thời gian, lượng án dân sự ngày càng tăng. Đối với các đô thị lớn như TP.HCM, trung bình một thẩm phán một tháng phải giải quyết từ 10 vụ việc trở lên. Trong số đó cũng có không ít trường hợp tranh chấp đơn giản, các bên đều thừa nhận và mong tòa giải quyết nhanh.

Áp dụng với án đơn giản

Theo Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành, một vụ tranh chấp đơn giản thì thời gian giải quyết ít nhất cũng phải vài tháng với rất nhiều khâu bắt buộc (lấy lời khai, đối chất, hòa giải, xác minh…). Vì vậy, đã có nhiều ý kiến cho rằng để đẩy nhanh tiến độ giải quyết án, pháp luật nên bổ sung thủ tục rút gọn cho tòa.

Theo luật gia Đặng Đình Thịnh, Giám đốc Trung tâm Tư vấn pháp luật Hội Luật gia Việt Nam, việc này vừa giải quyết kịp thời quyền lợi chính đáng của người dân, vừa đỡ tốn thời gian, công sức của tòa và đương sự. Luật gia Thịnh đề xuất nên áp dụng thủ tục rút gọn với những vụ án chứng cứ rõ ràng, các bên nguyên, bị đều thừa nhận, không có yếu tố nước ngoài, không gặp vướng mắc, xung đột về pháp luật.

Một số thẩm phán tòa quận thì đề xuất ngoài tranh chấp có chứng cứ rõ ràng thì còn phải quy định giá trị tranh chấp ở mức nào mới được áp dụng thủ tục rút gọn. Đồng thời luật cũng cần quy định rõ thời gian tiến hành xử rút gọn cho một vụ án tối đa cho phép là bao lâu, có thể từ 20 ngày đến một tháng từ ngày tòa thụ lý…

Continue reading

HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

GS.TS. VÕ THANH THU & TS. NGÔ THỊ NGỌC HUYỀN

1. Nhận thức về vai trò của hoạt động đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp VN

Năm 2009 kỷ niệm 10 năm kể từ khi có cơ chế mang tính pháp lý đầu tiên cho hoạt động đầu tư ra nước ngoài, nhưng trước đó đã có hàng chục dự án của các nhà đầu tư VN ở nhiều nước, điều này chứng tỏ sức sống, sức hấp dẫn của hoạt động đầu tư này (chưa cần có thể chế chính thức đã tiến hành). Cho đến nay đã có gần 400 dự án đầu tư vào 44 nước ở khắp 5 châu lục địa bất chấp khủng hoảng kinh tế, hoạt động đầu tư ra nước ngoài vẫn gia tăng. Theo nhận định của Bộ Kế hoạch và Đầu tư từ năm 2009 mỗi năm sẽ có 500 triệu USD chuyển ra khỏi VN để thực hiện các dự án ở nước ngoài.

Tuy nhiên sau 20 năm, hoạt động đầu tư ra nước ngoài của VN còn mang tính tự phát của doanh nghiệp, phát triển chưa tương xứng với tiềm năng: Số lượng và quy mô các dự án còn nhỏ so với các nước có điều kiện tương tự; nhiều doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài gặp nhiều khó khăn mà không có sự hỗ trợ từ các cấp có thẩm quyền. Ngoài nguyên nhân năng lực tài chính của bản thân doanh nghiệp có hạn, và đây không phải là nguyên nhân chính yếu (vì doanh nghiệp có thể đi vay hoặc lập công ty cổ phần), còn có nhiều nguyên nhân nằm ngoài doanh nghiệp. Nguyên nhân quan trọng nhất tác động toàn diện đến chiến lược, thể chế chính sách, thủ tục hành chính đối với  các hoạt động đầu tư ra nước ngoài, đó là các cấp quản lý nhà nước có thẩm quyền, xã hội chưa coi trọng vai trò của đầu tư ra nước ngoài đối với sự phát triển kinh tế đất nước trong điều kiện trong nước còn thiếu nguồn lực tài chính, phải tăng cường kêu gọi vốn FDI để tham gia  xây dựng đất nước. Ủng hộ nhận định này về vai trò của hoạt động ĐTRNN, một số nhà kinh tế cho rằng các doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài trong bối cảnh hiện nay vì chính lợi ích của nhà đầu tư hơn là lợi ích quốc gia cho nên việc xây dựng cơ chế chính sách hỗ trợ các nhà đầu tư VN ở nước ngoài không mang tính cấp thiết và cấp bách.

Theo chúng tôi nhận định về vai trò của hoạt động ĐTRNN như trên là chưa thỏa đáng, khiến cho việc hoàn thiện cơ chế chính sách cho loại hình đầu tư này diễn ra chậm. Theo nghiên cứu của chúng tôi: nhiều nước trên thế giới, kể cả các nước đang phát triển vẫn khuyến khích hoạt động đầu tư ra nước ngoài vì vai trò tích cực đối với nước xuất khẩu vốn và nhà đầu tư ở nước ngoài, cụ thể:

Continue reading

HẬU CHUYỂN ĐỔI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC THÀNH CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN

LG. CAO BÁ KHOÁT

Ngày 01 tháng 7 năm 2010 đã qua và câu chuyện về chuyển đổi doanh nghiệp Nhà nước thành công ty TNHH một thành viên cũng không còn được bàn tán quá nhiều. Tuy nhiên, như vậy không có nghĩa là chúng ta đã thành công, đã làm được những điều tưởng chừng như không thể. Bởi đây mới chỉ là một điểm dừng của con tàu doanh nghiệp Nhà nước trên con đường “hội nhập” vào sân chơi chung cùng các loại hình doanh nghiệp khác.

Liệu đã đúng với cam kết WTO?

Theo cam kết gia nhập WTO của Việt Nam thì Nhà nước sẽ không can thiệp trực tiếp hay gián tiếp vào hoạt động của doanh nghiệp Nhà nước mà can thiệp bình đẳng giống như các cổ đông, thành viên khác. Vậy, khi các doanh nghiệp Nhà nước chuyển đổi thành công ty TNHH một thành viên thì có thể coi là thực hiện đúng cam kết hay không? Thật khó có câu trả lời!

Thứ nhất, các công ty TNHH một thành viên sau chuyển đổi chỉ có chủ sở hữu (thành viên) duy nhất là Nhà nước nên câu chuyện bình đẳng giữa các thành viên, cổ đông trong công ty tất nhiên không cần bàn đến.

Thứ hai, về sự can thiệp của Nhà nước. Ta có thể lý luận rằng Nhà nước cũng chỉ đóng vai trò là chủ sở hữu của các công ty sau chuyển đổi, có quyền và nghĩa vụ giống như chủ sở hữu của những công ty TNHH một thành viên khác (theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2005) có chăng chỉ khác nhau ở năng lực chịu trách nhiệm giữa tư nhân và Nhà nước. Tư nhân là hữu hạn còn Nhà nước là hữu hạn hay vô hạn xưa nay chưa ai định được vì công ty lỗ thì Nhà nước lại cấp vốn. Cứ thế tạo thành vòng luẩn quẩn và công ty Nhà nước theo đó chẳng thể nào phá sản.

Khung pháp lý nào cho các doanh nghiệp chưa chuyển đổi?

Tuy hiện nay chưa có con số thống kê chính thức còn bao nhiêu doanh nghiệp Nhà nước chưa kịp chuyển đổi sau ngày 1 tháng 7 năm 2010. Nhưng có không ít câu hỏi lớn đã đặt ra. Các doanh nghiệp này sẽ hoạt động theo luật nào? Phải giải thể, phá sản, chuyển đổi hay tiếp tục hoạt động với tư cách cũ?

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CỔ PHIẾU NGÂN HÀNG VÀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

TRẦN ANH ĐÀO

Bàn về ảnh hưởng của cổ phiếu ngân hàng đến sự phát triển của TTCK Việt Nam, tôi có một số ý kiến xung quanh các vấn đề chính sau: 

1. Quy mô ảnh hưởng của cổ phiếu ngân hàng đối với thị trường chứng khoán trong tương lai:

Nền kinh tế Việt Nam còn non trẻ, những doanh nghiệp có những đặc điểm thích hợp cho thị trường chứng khoán như có quy mô lớn, được thành lập dưới dạng công ty cổ phần, có quá trình kinh doanh lâu dài, có cơ chế quản trị minh bạch … còn rất ít. Nhưng do đặc thù của ngành, các ngân hàng thương mại cổ phần và sắp tới đây là các ngân hàng quốc doanh được cổ phần hoá có đủ những yếu tố đó và là những doanh nghiệp lý tưởng nhất cho thị trường chứng khoán hiện tại cũng như tương lai những năm sắp đến. Theo một ước tính của Công ty Tư vấn Chứng khoán Quốc tế (ISC), vào năm 2010 giá trị thị trường của các chứng khoán niêm yết ước tính từ 60 đến 120 ngàn tỉ đồng, tăng gấp 5-10 lần hiện nay, trong đó 4 ngân hàng quốc doanh cổ phần hoá chiếm khoản 50 ngàn tỉ, các ngân hàng cổ phần chiếm 20 ngàn tỉ. Tức là cổ phiếu ngân hàng sẽ góp phần đến 60% giá trị thị trường chứng khoán. 

2. Việc tăng vốn quá nhanh của các ngân hàng cổ phần hiện nay liệu có hợp lý?

Trong vòng 2 năm trở lại đây, các ngân hàng dồn dập tăng vốn. Điển hình như Sacombank từ tháng 12/2003 đến tháng 3/2006, vốn điều lệ đã tăng 3,7 lần. Việc tăng vốn quá nhanh của các ngân hàng hiện nay là do các yếu tố:

– Thứ nhất là do yêu cầu về vốn điều lệ khi mở thêm chi nhánh và đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn do Ngân hàng Nhà nước quy định.

– Thứ hai là các ngân hàng chạy đua mở rộng chi nhánh để đón đầu WTO và cạnh tranh lẫn nhau. 

– Thứ ba là tình hình thị trường chứng khoán thuận lợi khiến cho việc tăng vốn bằng cổ phiếu thưởng và phát hành thêm quyền mua cổ phiếu giá rẻ làm tăng giá trị cho cổ đông.

Continue reading

MỘT DOANH NGHIỆP CẦN BAO NHIÊU TÊN?

TRẦN THANH TÙNG

Cần có văn bản liên kết và thống nhất các quy định về tên doanh nghiệp và tên thương mại nhằm giúp doanh nghiệp tránh rắc rối khi sử dụng các loại tên của mình.

Hai tên, ba tên hay nhiều hơn?

Hiện nay, theo quy định của Luật Doanh nghiệp, doanh nghiệp được đăng ký ba tên: (i) tên bằng tiếng Việt; (ii) tên bằng tiếng nước ngoài (thường gọi là tên giao dịch hay tên đối ngoại); và (iii) tên viết tắt.

Với quy định tên giao dịch được dịch từ tên tiếng Việt sang tiếng nước ngoài tương ứng, về thực chất doanh nghiệp chỉ còn hai tên là tên bằng tiếng Việt và tên viết tắt. Lý do là tên giao dịch không ổn định và tùy thuộc vào ngôn ngữ được dịch, dịch theo tiếng Anh là A, tiếng Pháp là B, tiếng Nhật là X…

Tuy nhiên, trên thực tế doanh nghiệp cần nhiều tên hơn thế, như tên tiếng Việt – tên bằng tiếng nước ngoài, tên giao dịch bằng tiếng Việt – tên giao dịch bằng tiếng nước ngoài, tên viết tắt bằng tiếng Việt – tên viết tắt bằng tiếng nước ngoài. Thậm chí một số doanh nghiệp còn sử dụng thương hiệu như một loại tên giao dịch. Đây là nhu cầu và một thực tế cần được xem xét.

Đơn cử một trường hợp cụ thể: tên tiếng Việt đầy đủ của Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam được dịch ra tiếng Anh là “Vietnam Joint Stock Commercial Bank for Industry and Trade”, tên giao dịch bằng tiếng Việt là “Ngân hàng Công thương Việt Nam” dịch ra tiếng Anh là “Vietnam Bank for Industry and Trade”, tên viết tắt là “Vietinbank”.

Thêm vào đó, khi nhắc đến ngân hàng này, người ta quen gọi là Ngân hàng Công thương. Lúc này, “Công thương”, vốn là một bộ phận có khả năng phân biệt trong tên của ngân hàng này, được sử dụng như một loại tên giao dịch.

Continue reading

NHỮNG ĐIỀU KIỆN CHO ĐẦU TƯ ĐA NGÀNH

TS. NGUYỄN MINH PHONG

Đa dạng hóa đầu tư đã, đang và sẽ tiếp tục trở thành xu hướng phát triển ngày càng đậm nét của các tập đoàn kinh tế ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam.

Trên thực tế tập đoàn Bưu chính Viễn thông (VNPT), ngoài các sản phẩm, dịch vụ liên quan tới viễn thông và công nghệ thông tin, còn mở rộng sang dịch vụ quảng cáo, kinh doanh bất động sản, cho thuê văn phòng. Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) ngoài lĩnh vực hoạt động truyền thống là sản xuất kinh doanh điện năng, viễn thông công cộng và cơ khí điện lực, còn đầu tư mở rộng sang lĩnh vực bất động sản, tài chính – ngân hàng. Tập đoàn Cao su Việt Nam (VRG) cũng không chịu bó khuôn trong lĩnh vực cao su, mà còn lấn sang ngành cơ khí, quản lý khai thác cảng biển, vận tải, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng, kinh doanh bất động sản, dịch vụ khách sạn, du lịch nội địa, quốc tế…

Có thể nói, việc đa dạng hóa đầu tư của các tập đoàn và doanh nghiệp xuất phát từ nhu cầu thực tiễn phát triển kinh doanh: từ sự xuất hiện cung – cầu mới, từ xu hướng phát triển ngành và sự phát triển của khoa học công nghệ. Ngoài ra, sự gia tăng áp lực cạnh tranh giữa các đối thủ tiềm năng đòi hỏi các doanh nghiệp phải bám sát thị trường, nhạy bén và năng động nắm bắt những thời cơ mới, không ngừng mở rộng quy mô, phát huy các nguồn lực bên trong, huy động nguồn lực bên ngoài, giảm thiểu rủi ro theo kiểu “không bỏ hết trứng vào một giỏ”. Đa dạng hóa cũng góp phần phát triển thị trường, tạo đà phát triển tiếp theo cho doanh nghiệp.

Theo thống kê của Bộ Tài chính, tính đến hết năm 2007, tổng giá trị tài sản của 70 tập đoàn, tổng công ty nhà nước đạt hơn 803.000 tỉ đồng, vốn chủ sở hữu là 323.000 tỉ đồng, số vốn đầu tư ra bên ngoài của các tập đoàn, tổng công ty có giá trị lên đến gần 117.000 tỉ đồng. Trong đó 28/70 tổng công ty có hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán, ngân hàng, bảo hiểm… với giá trị hơn 23.300 tỉ đồng.

Continue reading

THỰC TIỄN TỐ TỤNG: KIỆN TÒA VÌ KÊ BIÊN SAI, ĐƯỢC KHÔNG?

T.NGUYÊN – T.HIỂU

Vụ một người dân ở Tây Ninh đâm đơn khởi kiện tòa đòi bồi thường vì cho rằng tòa đã ra quyết định kê biên sai, gây thiệt hại cho mình khiến nhiều bạn đọc thắc mắc? Đương sự có quyền kiện tòa đòi bồi thường khi tòa có các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng sai pháp luật? Điều kiện, trình tự, thủ tục khởi kiện ra sao?

Vụ việc đã đăng trên Pháp Luật TP.HCM ngày 22-7. Có thể tóm tắt như sau: Vợ chồng ông M. bị người khác kiện ra TAND huyện Tân Châu (Tây Ninh) đòi nợ. Theo yêu cầu của nguyên đơn, tòa đã ra quyết định phong tỏa hơn 20 ha đất mà tòa nghĩ là của vợ chồng ông M. để đảm bảo thi hành án. Cho rằng quyết định kê biên này sai, ông M. khiếu nại nhưng bị chánh án TAND huyện Tân Châu bác đơn. Ông M. kiện tòa để đòi bồi thường thiệt hại cũng không được thụ lý… 

Từ vụ này, nhiều vấn đề pháp lý đã được đặt ra: Đương sự có quyền kiện tòa đòi bồi thường khi cho rằng tòa ra quyết định sai trong quá trình giải quyết án dân sự  hay không? Điều kiện, trình tự, thủ tục khởi kiện như thế nào?

Phải đủ điều kiện, đúng trường hợp

Theo nhiều chuyên gia, quyền khiếu nại, khởi kiện hành vi, quyết định của tòa trong hoạt động tố tụng dân sự để đòi bồi thường thiệt hại đã được quy định trong Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước (có hiệu lực từ ngày 1-1-2007). Tuy nhiên, việc này phải tuân thủ các quy định rất chặt về điều kiện, phạm vi trách nhiệm bồi thường.

Cụ thể, về điều kiện, theo Điều 6 Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước, đương sự phải có trong tay văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi trái pháp luật của thẩm phán (Văn bản này chính là quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng). Cạnh đó, phải có thiệt hại thực tế do hành vi trái pháp luật của thẩm phán gây ra.

Continue reading

TRÍ THỨC và một số đặc điểm của trí thức

NGUYỄN MINH THUYẾT

1. Thế nào là trí thức?

1.1. Nói đến trí thức, người ta thường nghĩ ngay tới những người có bằng cấp cao. Dĩ nhiên, bằng cấp cao là một dấu hiệu có lẽ dễ sử dụng và có thể được sử dụng trong nhiều trường hợp. Nhưng đó không phải là dấu hiệu bản chất của người trí thức.

Trên thực tế, có những người bằng cấp không cao nhưng do tư chất thông minh, lại chịu học hỏi nên có vốn tri thức khá sâu sắc và có nhiều sáng tạo được ghi nhận trong những lĩnh vực chuyên môn nhất định. Lịch sử từng ghi công nhiều tên tuổi lớn chưa học hết bậc đại học đã có những đóng góp xuất sắc cho khoa học – công nghệ, văn hóa – nghệ thuật hay cho lĩnh vực quản lý kinh tế – xã hội, như các nhà sáng chế và quản lý doanh nghiệp nổi tiếng thế giới Thomas Edison, Bill Gates ở Hoa Kỳ, nhà viết kịch vĩ đại Shakespeare ở Anh Quốc. Ở Việt Nam, nhà văn Nguyên Hồng khi hoàn thành những sáng tạo nghệ thuật để đời như “Những ngày thơ ấu, Bỉ vỏ“, chỉ mới học xong tiểu học; và trên các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp hiện nay, đang xuất hiện ngày càng nhiều “kỹ sư chân đất” – những nông dân “chân lấm tay bùn” chịu học và dám nghĩ, dám làm, chế tạo từ máy cày, máy cấy, máy thu hoạch mía cho đến máy bay v.v…, đáp ứng nhu cầu của công cuộc lao động sản xuất và ước muốn chinh phục đỉnh cao của khoa học – công nghệ. Họ là những trí thức thật sự.

Ngược lại, trong cuộc sống cũng có không ít người sở hữu bằng cấp cao nhưng vì nhiều lý do khác nhau, đã chuyển sang lao động chân tay hoặc buôn bán nhỏ, thậm chí, không làm gì hoặc làm những nghề không lương thiện. Số người có bằng cấp cao mà không hoạt động trong lĩnh vực lao động trí óc này khó có thể xếp vào tầng lớp trí thức.

Thêm một lý do để vận dụng có mức độ dấu hiệu “bằng cấp cao” là đặc tính “cao” phụ thuộc khá nhiều vào quan niệm của cộng đồng dân cư cụ thể. Thời thuộc Pháp, bằng cao đẳng đã là rất cao, bởi vậy mới có tiêu chuẩn kén chồng của các tiểu thư con nhà giàu: “Phi cao đẳng bất thành phu phụ” (nghĩa là: “không có bằng cao đẳng, không thành vợ thành chồng“, “không có bằng cao đẳng thì không lấy“). Thời nay, đối với dân cư thành thị, cao đẳng chưa chắc đã là cao. Nhưng đối với vùng sâu vùng xa, người có bằng cao đẳng chắc chắn được cộng đồng trọng vọng.

Như vậy, có thể hiểu trí thức không nhất thiết là người có bằng cấp cao và ngược lại, người có bằng cấp cao cũng chưa hẳn đã là trí thức. Điều quan trọng đối với người trí thức là có hiểu biết sâu rộng và có khả năng sáng tạo trong một hoặc một số lĩnh vực chuyên môn nhất định.

1.2. Thay cho dấu hiệu bằng cấp, nhiều người quan niệm: “Trí thức là những người lao động trí óc.” Nhưng định nghĩa này chưa làm rõ thế nào là “lao động trí óc“. Nếu chỉ nhìn vào hiện tượng thì một nghệ sĩ dương cầm, một nhà điêu khắc hay một bác sĩ phẫu thuật sử dụng cơ bắp không kém gì người lao động chân tay; sáng tạo của một họa sĩ thoạt nhìn cũng không khác hoạt động của người chép tranh hay người vẽ truyền thần; công việc của một nhà giáo ở trung học hay đại học cũng thuộc phạm trù “giáo dục” như công việc của cô bảo mẫu. Điểm phân biệt giữa những người này là ở tầm mức của công việc và trình độ chuyên môn trong thực hiện công việc ấy. Ví dụ, khác với y tá hay hộ lý, bác sĩ phẫu thuật thực hiện một công việc phức tạp và hệ trọng, quan hệ đến sức khỏe và tính mạng con người; và để có thể thực hiện công việc đó, người bác sĩ phải được đào tạo chu đáo về lý luận và thực tiễn; ca phẫu thuật càng phức tạp, trình độ càng phải cao. Tương tự, người thợ đục đá đục theo khuôn mẫu đã có sẵn, cho ra lò hàng loạt sản phẩm giống hệt nhau; còn đối với nhà điêu khắc thì mỗi tác phẩm là một sáng tạo duy nhất, thể hiện tư tưởng và phong cách nghệ thuật nhất định. Tóm lại, người trí thức thực hiện những công việc có tầm quan trọng, đòi hỏi trình độ chuyên môn cao hơn, sự huy động nỗ lực trí óc nhiều hơn.

1.3. Một trong những cách hiểu khác về trí thức là dựa vào hoạt động chính đem lại thu nhập cho họ. Theo cách hiểu này, trí thức là những người lấy lao động trí óc làm một nghề, hay nói cách khác là sống bằng lao động trí óc. Cách hiểu này không sai nhưng cũng không bao quát được hết thực tế. Bởi vì trong lịch sử không hiếm những trường hợp như cụ Tú Xương, tài năng văn chương nức tiếng, được hậu thế tôn vinh là một trong những thi nhân lỗi lạc của nước nhà, nhưng sinh thời, cụ chỉ lấy văn chương làm nơi bộc bạch nỗi niềm, còn kiếm sống phải nhờ cả vào một tay cụ bà “Quanh năm buôn bán ở mom sông / Nuôi đủ năm con với một chồng.

Không riêng gì văn chương mà trong nhiều lĩnh vực hoạt động khác, chúng ta cũng có thể dẫn ra những ví dụ tương tự. Họa sĩ Van Gogh miệt mài sáng tạo nghệ thuật suốt cuộc đời nhưng khi còn sống, ông lâm vào cảnh cùng quẫn vì không mấy ai chịu mua những bức tranh của họa sĩ thiên tài. Nhà sáng chế K. Tsiolkovxkij thời Sa Hoàng bị coi là gàn dở và cũng sống trong cảnh bần hàn; sáng chế bị xếp xó. Chỉ sau khi có chính quyền xô viết, ông mới được trọng dụng. Nhưng phải đến 22 năm sau khi ông mất, tên lửa đẩy thiết kế theo mô hình của ông mới đưa được vệ tinh lên vũ trụ và ông mới được tôn vinh là ông tổ của ngành hàng không vũ trụ.

Như vậy, không phải trí thức bao giờ cũng có thể sống bằng trí tuệ của mình. Điều quan trọng là họ thường xuyên lao động trí óc, thường xuyên sáng tạo những sản phẩm trí tuệ, như là sứ mạng, là lẽ sống của mình.

1.4. Nói tóm lại, trí thức là những người lao động trí óc, có hiểu biết sâu rộng về một hoặc một số lĩnh vực khoa học – công nghệ, văn hóa – nghệ thuật, quản lý kinh tế – xã hội, thường xuyên vận dụng những hiểu biết đó để phát hiện và giải quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn nảy sinh trong lĩnh vực hoạt động của mình vì lợi ích chung của cộng đồng và nhu cầu nhận thức của bản thân.

Theo cách hiểu trên thì tầng lớp trí thức là một tập hợp mở và đa dạng, không giống bất kỳ một tập hợp nào khác trong xã hội như nông dân, công nhân, thợ thủ công, quân nhân, thương nhân hay người buôn bán nhỏ. Trí thức có thể là bất kỳ ai trong các tập hợp trên, miễn là có hiểu biết sâu rộng và tham gia lao động trí óc. Tuy nhiên, bộ phận hạt nhân của tầng lớp trí thức là các nhà nghiên cứu; các giảng viên đại học; các bác sĩ, dược sĩ cao cấp; các nhà văn, nhà thơ, nhà điêu khắc, nhạc sĩ, họa sĩ, nhà báo; các nhà quản lý và công chức, viên chức trong bộ máy tham mưu cho nhà quản lý.

2. Một số đặc điểm của trí thức

Trí thức là một tập hợp mở và đa dạng nên đặc điểm của tầng lớp này cũng rất phong phú. Tuy nhiên, giữa các nhà trí thức, nhất là bộ phận hạt nhân của tầng lớp này, cũng có những đặc điểm phẩm chất chung; phẩm chất nào cũng có mặt mạnh và mặt yếu của nó. Phải chăng có thể nói đến những đặc điểm phẩm chất sau?

2.1. Trí thức nói chung rất ham học, ham đọc. Nhờ ham học, ham đọc mà người trí thức luôn luôn tiếp cận được cái mới, do đó trình độ lý luận không ngừng được nâng cao. Tuy nhiên, sự ham học, ham đọc, ham lý luận quá mức có thể dẫn đến tình trạng sách vở, kinh viện, xa rời thực tiễn. Đó là nhược điểm mà người trí thức cần đề phòng.

2.2. Trí thức là người luôn sáng tạo trong cách nghĩ, cách làm; ít khi chịu rập khuôn theo công thức sẵn có. Chính nhờ đặc điểm này mà trí thức đóng vai trò nhân tố quan trọng thúc đẩy khoa học – công nghệ, văn hóa – nghệ thuật, kinh tế – xã hội phát triển. Tuy nhiên, xã hội cũng dễ nhìn nhận những sáng tạo quá đà, nhất là trong phong cách sống, là lập dị.

2.3. Trí thức là người luôn có thói quen lật lại vấn đề. Vì vậy, trí thức thường hay có ý kiến phản biện. Trong xã hội cũng như trong mỗi đơn vị, những ý kiến phản biện mang tính xây dựng đều có giá trị, ít nhất cũng giúp người được phản biện cân nhắc hoặc bổ sung, hoàn thiện chủ kiến của mình. Nhưng ý kiến phản biện, nhất là những ý kiến quá thẳng thắn, dễ gây phản ứng tiêu cực. Vì vậy, người phản biện cũng cần chọn cách nói, thời điểm nói thích hợp để tính thuyết phục của ý kiến mình được cao hơn.

Thói quen lật lại vấn đề khiến người trí thức nhiều khi lật đi lật lại cả ý kiến của mình. Tự phản biện mình là một thói quen tốt, thể hiện thái độ thực sự cầu thị. Tuy nhiên, nếu trước bất cứ việc gì cũng cân đi nhắc lại mà không dám hành động thì sẽ thành do dự, nhu nhược, thiếu quyết đoán.

2.4. Mặc dù hay lật lại vấn đề nhưng khi đã tin điều gì một cách có căn cứ thì trí thức thường rất trung thành với niềm tin của mình. Nhà thiên văn học Ba Lan Nicolas Copernik sẵn sàng đối mặt với toà án giáo hội, chứ không phản bội niềm tin của mình là trái đất quay xung quanh mặt trời. Gần một trăm năm sau, lại đến lượt nhà thiên văn Italia Galileo Galilée dũng cảm bảo vệ thuyết quả đất quay trước tòa án giáo hội, bất chấp án lưu đày và rút phép thông công. Nhưng lịch sử cũng ghi lại thảm kịch của biết bao trí thức xưa chết vì đặt sai niềm tin, sự trung thành của mình vào những bạo chúa, độc tài hay những lý tưởng bị phản bội. Người phương Đông gọi đó là thái độ ngu trung, một biểu hiện cực đoan của trung thành.

2.5. Trí thức thường có hoài bão vươn lên những đỉnh cao, những vị trí nổi bật trong xã hội. Cách chúng ta 150 năm, Nguyễn Công Trứ từng viết:

“Đã mang tiếng ở trong trời đất

Phải có danh gì với núi sông.”

Người trí thức nói chung trọng danh hơn trọng lợi. Thậm chí không ít người trọng danh hơn cả mạng sống của mình. Nhưng quá trọng danh có thể dẫn đến hiếu danh. Chuyện chạy đua bằng cấp, danh hiệu, giải thưởng v.v… mà xã hội phê phán hiện nay cũng là những biểu hiện của thói hiếu danh.

2.6. Trí thức thường khảng khái, tự trọng. Người xưa đã khái quát phẩm hạnh này thành nguyên tắc sống: “phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất” (nghĩa là: giàu sang không làm hư hỏng, nghèo khó không khiến đổi lòng, quyền uy không khuất phục nổi). Trong lịch sử đã có biết bao tấm gương liêm khiết, chính trực, khảng khái của người trí thức. Xã hội trọng vọng trí thức không chỉ vì trí tuệ của họ mà còn vì phẩm chất cao quý này. Tuy vậy, trong cuộc sống, cũng cần phân biệt lòng tự trọng với thói sĩ diện. Tự tô vẽ hư danh cho mình, tạo cho mình vỏ bọc bằng những thứ không phải của mình và khư khư bảo vệ nó, đó là sĩ diện, một biểu hiện xa lạ với lòng tự trọng.

2.7. Trí thức thường cư xử lịch thiệp. Bộc trực khi tỏ bày chính kiến về những vấn đề lớn, nhưng trong đời sống hằng ngày, người trí thức thường khiêm tốn, nhún nhường, tránh những va chạm nhỏ, tránh làm mếch lòng người khác. Đây là một phẩm chất đáng quý trong ứng xử, nhưng nếu quá nhún nhường, quá tế nhị cũng dễ bị người xung quanh cho là không thực bụng.

SOURCE: Tạp chí Tia sáng điện tử (tiasang.com.vn)

Trích dẫn từ: http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=116&CategoryID=42&News=3338

TRÍ THỨC VÀ MỘT VÀI ĐẶC ĐIỂM CỦA TRÍ THỨC

NGUYỄN MINH THUYẾT

1. Thế nào là trí thức?

1.1. Nói đến trí thức, người ta thường nghĩ ngay tới những người có bằng cấp cao. Dĩ nhiên, bằng cấp cao là một dấu hiệu có lẽ dễ sử dụng và có thể được sử dụng trong nhiều trường hợp. Nhưng đó không phải là dấu hiệu bản chất của người trí thức.

Trên thực tế, có những người bằng cấp không cao nhưng do tư chất thông minh, lại chịu học hỏi nên có vốn tri thức khá sâu sắc và có nhiều sáng tạo được ghi nhận trong những lĩnh vực chuyên môn nhất định. Lịch sử từng ghi công nhiều tên tuổi lớn chưa học hết bậc đại học đã có những đóng góp xuất sắc cho khoa học – công nghệ, văn hóa – nghệ thuật hay cho lĩnh vực quản lý kinh tế – xã hội, như các nhà sáng chế và quản lý doanh nghiệp nổi tiếng thế giới Thomas Edison, Bill Gates ở Hoa Kỳ, nhà viết kịch vĩ đại Shakespeare ở Anh Quốc. Ở Việt Nam, nhà văn Nguyên Hồng khi hoàn thành những sáng tạo nghệ thuật để đời như "Những ngày thơ ấu", "Bỉ vỏ", chỉ mới học xong tiểu học; và trên các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp hiện nay, đang xuất hiện ngày càng nhiều "kỹ sư chân đất" – những nông dân "chân lấm tay bùn" chịu học và dám nghĩ, dám làm, chế tạo từ máy cày, máy cấy, máy thu hoạch mía cho đến máy bay v.v…, đáp ứng nhu cầu của công cuộc lao động sản xuất và ước muốn chinh phục đỉnh cao của khoa học – công nghệ. Họ là những trí thức thật sự.
Ngược lại, trong cuộc sống cũng có không ít người sở hữu bằng cấp cao nhưng vì nhiều lý do khác nhau, đã chuyển sang lao động chân tay hoặc buôn bán nhỏ, thậm chí, không làm gì hoặc làm những nghề không lương thiện. Số người có bằng cấp cao mà không hoạt động trong lĩnh vực lao động trí óc này khó có thể xếp vào tầng lớp trí thức. 
Thêm một lý do để vận dụng có mức độ dấu hiệu "bằng cấp cao" là đặc tính "cao" phụ thuộc khá nhiều vào quan niệm của cộng đồng dân cư cụ thể. Thời thuộc Pháp, bằng cao đẳng đã là rất cao, bởi vậy mới có tiêu chuẩn kén chồng của các tiểu thư con nhà giàu: "Phi cao đẳng bất thành phu phụ" (nghĩa là: "không có bằng cao đẳng, không thành vợ thành chồng", "không có bằng cao đẳng thì không lấy"). Thời nay, đối với dân cư thành thị, cao đẳng chưa chắc đã là cao. Nhưng đối với vùng sâu vùng xa, người có bằng cao đẳng chắc chắn được cộng đồng trọng vọng.

Continue reading

KINH TẾ THỊ TRƯỜNG BỀN VỮNG – MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN THIẾT YẾU CHO VIỆT NAM

PGS.TS. ĐỖ ĐỨC ĐỊNH – Chủ tịch Hội đồng khoa học Trung tâm Nghiên cứu kinh tế – xã hội

Để xây dựng thành công nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhất thiết phải xây dựng được nền kinh tế thị trường bền vững với 4 trọng tâm, đồng thời là 4 vấn đề mang tính cốt yếu đối với tiến trình phát triển, cần tập trung giải quyết, đó là thị trường, công nghiệp hóa, nguồn nhân lực chất lượng cao và chiến lược hội nhập quốc tế.

1 – Tiếp tục đẩy mạnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Một trong những tương phản đã và đang diễn ra trong nền kinh tế Việt Nam là những diễn biến trái chiều giữa mức tăng trưởng cao và chỉ số cạnh tranh toàn cầu, giảm từ vị trí 68 (năm 2007) xuống 70 (năm 2008), rồi 75 (năm 2009). Yếu tố chính dẫn tới sự tụt hạng về chỉ số cạnh tranh là do chỉ số ổn định kinh tế vĩ mô giảm từ vị trí thứ 51 (năm 2007) xuống 112 (năm 2009), tiếp đến là thể chế kinh tế thị trường chưa phát triển, cách điều hành chưa dựa trên những diễn biến của thị trường, chưa có sự hội nhập đầy đủ vào hệ thống tài chính quốc tế, mà chỉ đang ở giai đoạn đầu của quá trình tham gia mạng lưới sản xuất trong khu vực và thế giới, năng lực cạnh tranh ở các cấp quốc gia, của sản phẩm và doanh nghiệp đều ở mức thấp.

Bình ổn vĩ mô và an ninh kinh tế – xã hội là những vấn đề lớn đã và đang được đặt ra. Nhất là vào thời điểm xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính khu vực châu á năm 1997 – 1999 và khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008 – 2009 càng bộc lộ rõ những điểm yếu của nền kinh tế Việt Nam với tỷ lệ lạm phát tăng cao trở lại 20% – 25%; hiệu quả đầu tư giảm, chỉ số ICOR tăng từ 5% lên 8% trong khoảng một chục năm vừa qua, trong khi tốc độ tăng trưởng chưa được đo bằng hiệu quả kinh doanh và năng suất lao động cao, mà chủ yếu dựa vào tăng nhanh đầu tư (hiện mức đầu tư chiếm khoảng 43% GDP); mức độ phụ thuộc vào thị trường bên ngoài, thâm hụt cán cân thanh toán và cán cân thương mại cao; dự trữ ngoại tệ giảm từ 24 tỉ USD cuối năm 2008 xuống 16 tỉ USD cuối năm 2009; nợ nước ngoài đến hạn phải trả tăng; mức độ hưởng ứng, tin tưởng và đồng thuận của người dân vào một số chính sách kinh tế giảm (thể hiện qua việc giảm mua công trái, tăng số cuộc đình công, khiếu kiện… Năm 2009, số vụ biểu tình, đình công tuy giảm, nhưng vẫn còn 216 vụ so với khoảng 760 vụ trong năm 2008, phần lớn xuất phát từ những bất cập liên quan đến chính sách thu hồi, đền bù đất đai chưa thỏa đáng cho nông dân). Đây là những mặt trái mà kinh tế học gọi là “những thất bại của thị trường” cần được khắc phục để bảo đảm cho sự phát triển ổn định và bền vững.

Continue reading