TÂM TÌNH VỚI TRÍ THỨC NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI

HỒ HẢI

Mấy hôm nay đọc bài: Vì sao ít trí thức Việt kiều về nước làm việc? của tác giả Nguyễn Quốc Vọng đặng trên Tia Sáng, làm tôi có một vài suy nghĩ nên viết một số tâm tình dưới cái nhìn triết học với quý vị để làm sao chúng ta có cái nhìn rạch ròi về vấn đề rất đáng quan tâm này.

Bản chất của cuộc đời nằm trong nhiều cặp phạm trù triết học mà buộc mỗi con người sinh ra và lớn lên ở bất cứ nơi đâu trên trái đất này cần phải hiểu để thành đạt. Song có những cặp phạm trù mà đã là con người thì cần phải quan tâm, đặc biệt con người đã trưởng thành và có chút thành đạt với đời.

Danh và Lợi: Sinh ra làm người không ai có thể thoát được cặp phạm trù danh – lợi. Dù là Thích Ca hay Chúa Jesus đã vì Đạo để chỉ ra con đường hướng thiện cho nhân loại thì họ cũng phải vướng vào một vế của cặp phạm trù này: chữ Danh, dù họ không màng đến danh lợi khi dấn thân và vong thân. Thế thì khi đã xác định được là người Việt Nam có tấm lòng với đất nước, thì phải xác định sự quay về với vì cái gì của một trong hai vế của cặp phạm trù danh và lợi? Dĩ nhiên, ở đời, không phải ai cũng có thể thực hiện hết cả hai vế cùng một lúc. Có người đi bằng thực tài lấy công danh trước, khi công danh đã chạm trần thì lúc đó lợi sẽ theo nhau về với họ. Có kẻ không bằng sức lực và trí tuệ của mình, mà chỉ bằng mánh lới của cuộc đời dạy cho để kiếm lợi trước, sau khi có lợi thì đi mua danh. Tất cả đều đi đến La Mã, chỉ khác nhau con đường đi, con đường ấy gọi là Đạo. Đạo cũng có chánh đạo và tà đạo là vậy.

Cho nên theo thiển ý của tôi, với quý vị người Việt ở nước ngoài, nếu đã có tấm lòng thì nên xác định rõ mình về vì cái gì của cặp phạm trù danh lợi để có chiến lược rõ ràng, mà không có bất kỳ mắc mớ gì trong tư duy khi muốn trở về đóng góp phần công sức nhỏ của mình với tổ quốc và dân tộc. Cụ thể tôi có thể nói đơn giản như thế này, nếu về vì danh thì nên chấp nhận những gì mà cơ chế đang hiện hành để góp sức với nó tốt hơn. Nếu vì lợi thì cũng nên chấp nhận những gì khó khăn đang dàn trải ra trên bước đường vì lợi. Anh không thể đem so sánh những gì ở xứ người để đem áp dụng vào Việt Nam, vì tại sao cũng với cơ chế ấy, khó khăn ấy nhưng những doanh nhân châu Á, Âu, Mỹ… họ lại vẫn đầu tư và thành công ở Việt nam. Trí thức của họ vẫn về giảng dạy ở các trường ở Việt Nam, nhưng người Việt thì không thể? Họ làm được tức họ cũng đã thể hiện không chỉ vì danh – lợi mà họ còn thực hiện được nhiệm vụ chính trị một cách âm thầm, không ai biết và cũng không ai buộc phải giao cho họ.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 83/2010/NĐ-CP NGÀY 23 THÁNG 7 NĂM 2010 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Bộ luật Dân sự ngày 14 tháng 6 năm 2005;
Căn cứ Bộ luật Hàng hải ngày 14 tháng 6 năm 2005;
Căn cứ Luật Đất đai ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Căn cứ Luật Bảo vệ và Phát triển rừng ngày 03 tháng 12 năm 2004;
Căn cứ Luật Hàng không dân dụng Việt Nam ngày 29 tháng 6 năm 2006;
Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản ngày 19 tháng 6 năm 2009;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định trình tự, thủ tục đăng ký và cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm bằng tài sản (sau đây gọi chung là đăng ký giao dịch bảo đảm); tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm và quản lý nhà nước về đăng ký giao dịch bảo đảm.

Điều 2. Giải thích từ ngữ

Trong Nghị định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Đăng ký giao dịch bảo đảm là việc cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm ghi vào Sổ đăng ký giao dịch bảo đảm hoặc nhập vào Cơ sở dữ liệu về giao dịch bảo đảm việc bên bảo đảm dùng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên nhận bảo đảm.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 2496/LĐTBXH-LĐTL NGÀY 23 THÁNG 7 NĂM 2010 CỦA BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI VỀ GIẢI ĐÁP CHẾ ĐỘ ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG THÔI VIỆC TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN

Kính gửi:

Công ty cổ phần nhiệt điện Phả Lại
(huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương)

Trả lời công văn số 1771/CV-PPC-TCLĐ&TCKT ngày 05/5/2010 của Công ty cổ phần nhiệt điện Phả Lại về kinh phí chi trả trợ cấp thôi việc đối với người lao động ở công ty cổ phần, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:

Điểm c, khoản 3, mục III Thông tư số 20/2007/TT-BLĐTBXH ngày 04/10/2007 của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện chính sách đối với người lao động theo Nghị định số 109/2007/NĐ-CP ngày 26 tháng 6 năm 2007 của Chính phủ về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần quy định công ty cổ phần có trách nhiệm trả trợ cấp thôi việc, mất việc làm cho người lao động từ doanh nghiệp 100% vốn nhà nước chuyển sang khi người lao động đó mất việc làm, thôi việc tại công ty cổ phần, kể cả khoản trợ cấp cho thời gian thực tế làm việc tại doanh nghiệp 100% vốn nhà nước trước đó và thời gian người lao động làm việc tại công ty, đơn vị khác thuộc khu vực nhà nước nhưng chuyển đến công ty 100% vốn nhà nước trước ngày 01 tháng 01 năm 1995 mà chưa nhận trợ cấp thôi việc, mất việc làm.

Khoản 3, Điều 56, Nghị định số 109/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007 của Chính phủ về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần quy định các doanh nghiệp đã đăng ký kinh doanh chuyển sang công ty cổ phần trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành được tiếp tục hưởng các ưu đãi theo quy định của pháp luật có liên quan.

Điểm b, khoản 8, Điều 36 Nghị định số 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần quy định trường hợp người lao động bị mất việc, thôi việc trong 4 năm tiếp theo (tức từ năm thứ 2 đến hết năm thứ 5, kể từ ngày chuyển thành công ty cổ phần) thì công ty cổ phần có trách nhiệm thanh toán 50% tổng mức trợ cấp theo quy định của Bộ luật Lao động, số còn lại được thanh toán từ tiền thu của Nhà nước do cổ phần hóa công ty nhà nước quy định tại Điều 35 Nghị định số 187/2004/NĐ-CP và được quy định cụ thể tại Quyết định số 09/2008/QĐ-BTC ngày 31/01/2008 và Quyết định số 104/2008/QĐ-BTC ngày 13/11/2008 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về quy chế quản lý và sử dụng Quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp tại các Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước, công ty mẹ. Hết thời hạn trên, công ty cổ phần chịu trách nhiệm thanh toán toàn bộ trợ cấp cho người lao động.

Continue reading