THẾ NÀO LÀ GIÁ THỊ TRƯỜNG?

Căn cứ theo “giá thị trường” là một qui định rất phổ biến hiện nay trong xác định giá trị tài sản là đối tượng của giao dịch hoặc tranh chấp – Civillawinfor

HẢI DƯƠNG

Một trong những nguyên nhân khiến tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước (DNNN) thời gian qua bị chậm là do quy định về: “Xác định giá trị quyền sử dụng đất và giá trị lợi thế vị trí địa lý vào giá trị doanh nghiệp” tại Nghị định số 109/2007/NĐ-CP còn bất cập. Dư luận đặc biệt quan tâm đến vấn đề này khi Bộ Tài chính chuẩn bị trình Thủ tướng bản Dự thảo sửa đổi Nghị định 109.

Nghị định số 109/2007/NĐ-CP nêu rõ: Xác định giá trị doanh nghiệp khi cổ phần hóa phải tính tiền thuê đất, xác định giá trị quyền sử đụng đất, xác định lợi thế vị trí đất vào giá trị doanh nghiệp. Theo đó, việc xác định giá đất phải theo sát giá thị trường tại thời điểm định giá được UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định và công bố. Tuy nhiên, điều khó khăn đã được chỉ ra lâu nay là: Căn cứ nào để đưa ra giá thị trường khi mà thị trường bất động sản luôn luôn biến động?

Theo Điều 31 Dự thảo sửa đổi Nghị định 109, trường hợp doanh nghiệp cổ phần hóa lựa chọn hình thức giao đất (kể cả diện tích đất Nhà nước đã giao cho doanh nghiệp xây dựng nhà để bán hoặc cho thuê kinh doanh khách sạn, kinh doanh thương mại dịch vụ; xây dựng kết cấu hạ tầng để chuyển nhượng hoặc cho thuê) thì phải tính giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị doanh nghiệp theo giá đất được UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (nơi doanh nghiệp có diện tích đất được giao) quy định  sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường theo quy định của pháp luật về đất đai. Trường hợp diện tích đất doanh nghiệp được giao có bao gồm cả diện tích đất sử dụng cho các hoạt động sản xuất cung ứng các dịch vụ, sản phẩm công ích, phúc lợi công cộng như công viên cây xanh, môi trường đô thị, bến bãi xe khách, đất làm công trình thủy lợi…, thì được loại trừ những diện tích này khi xác định giá trị quyền sử dụng đất theo giá thị trường để tính vào giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa.

Continue reading

10 VẤN ĐỀ PHÁP LÝ TRONG VIỆC THẾ CHẤP, BẢO LÃNH BẰNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Tác giả viết bài này vào thời điểm BLDS năm 2005 đang được soạn thảo

LS. TRƯƠNG THANH ĐỨC

Việc thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất là một trong những hình thức bảo đảm tiền vay chủ yếu của các ngân hàng, đồng thời cũng là một vấn đề pháp lý rất phức tạp. Trong khi đó, Luật Đất đai năm 2003, Bộ luật Dân sự năm 1995 và các văn bản khác hướng dẫn thi hành việc thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất theo hướng: Người sử dụng đất chỉ được làm những gì mà pháp luật cho phép. Với tư cách là người nhận thế chấp, bảo lãnh, các Ngân hàng không thể bỏ qua những vấn đề pháp lý trong việc thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất dưới đây:

– Về thời điểm thiết lập hợp đồng thế chấp, bảo lãnh;

– Về mục đích thế chấp, bảo lãnh;

– Về các loại đất được và không được thế chấp, bảo lãnh;

– Về người ký hợp đồng thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất của Hộ gia đình;

– Về việc công chứng, chứng thực hợp đồng thế chấp, bảo lãnh;

– Về việc đăng ký thế chấp, bảo lãnh;

– Về thời hạn đăng ký thế chấp, bảo lãnh;

– Về việc sửa đổi hợp đồng thế chấp, bảo lãnh;

– Về trường hợp vừa thế chấp, vừa bảo lãnh;

– Về sự khác nhau giữa thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất và thế chấp, bảo lãnh bằng tài sản gắn liền với đất.

1. Về thời điểm thiết lập hợp đồng thế chấp, bảo lãnh:

Hợp đồng thế chấp, bảo lãnh chỉ là một biện pháp để bảo đảm để thực hiện hợp đồng tín dụng (hay hợp đồng kinh tế, dân sự khác). Do vậy, hợp đồng tín dụng luôn là hợp đồng chính, được thiết lập trước; còn hợp đồng thế chấp, bảo lãnh là hợp đồng phụ và được thiết lập trên cơ sở đã có quan hệ tín dụng phát sinh.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 2364/LĐTBXH-LĐTL NGÀY 14 THÁNG 7 NĂM 2010 CỦA BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI VỀ TRỢ CẤP THÔI VIỆC

Kính gửi:

Viện Máy và Dụng cụ Công nghiệp
(Địa chỉ: 46 Láng Hạ, Đống Đa, Hà Nội)
 

Trả lời công văn số 335/TH-IMI ngày 29/06/2010 của quý Viện về việc hướng dẫn thời gian và nguồn chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:

1. Theo quy định tại khoản 3, Điều 14 Nghị định số 44/2003/NĐ-CP ngày 09/5/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về hợp đồng lao động và hướng dẫn tại Thông tư số 21/2003/TT-BLĐTBXH ngày 22/9/2003 đã được sửa đổi, bổ sung tại Thông tư số 17/2009/TT-BLĐTBXH ngày 26/5/2009 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định trường hợp người lao động làm việc cho các đơn vị khác thuộc khu vực nhà nước do chuyển công tác trước ngày 01/01/1995 nhưng chưa được nhận trợ cấp thôi việc thì khi chấm dứt hợp đồng lao động, công ty nhà nước cuối cùng (nơi người lao động đã chuyển công tác đến trước ngày 01/01/1995) có trách nhiệm chi trả toàn bộ số tiền trợ cấp thôi việc cho người lao động, kể cả phần trợ cấp thôi việc thuộc trách nhiệm chi trả của công ty, đơn vị thuộc khu vực nhà nước mà người lao động đã làm việc trước khi chuyển công tác trước ngày 01/01/1995, sau đó gửi thông báo để yêu cầu hoàn trả số tiền đã được chi trả hộ, nếu đơn vị cũ đã chấm dứt hoạt động thì ngân sách nhà nước sẽ hoàn trả.

Như vậy, đối với người lao động có thời gian công tác tại lực lượng vũ trang chuyển đến công ty nhà nước trước ngày 01/01/1995 nhưng chưa nhận trợ cấp thôi việc, chuyển ngành, xuất ngũ, phục viên…, nếu thôi việc thì thời gian phục vụ trong lực lượng vũ trang được tính là thời gian làm việc trong khu vực nhà nước để tính trợ cấp thôi việc theo quy định của Nghị định số 44/2003/NĐ-CP và Thông tư số 21/TT-BLĐTBXH nêu trên; đối với người đi hợp tác lao động ở nước ngoài về nước chuyển đến công ty nhà nước ngày 01/01/1995 nhưng chưa nhận trợ cấp thôi việc trong thời gian đi hợp tác lao động ở nước ngoài, nếu thôi việc thì thời gian công tác ở nước ngoài được tính là thời gian công tác của người lao động để giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội hoặc chế độ thôi việc theo quy định tại Thông tư số 11/LĐTBXH-TT ngày 04/11/1991 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện một số chính sách, chế độ đối với người lao động có thời hạn ở nước ngoài về nước hoặc Thông tư liên tịch bộ số 12-TT/LB ngày 03/8/1992 của liên Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội – Tài chính hướng dẫn thực hiện một số chính sách, chế độ đối với người đi lao động có thời hạn ở nước ngoài về nước tùy thuộc vào thời điểm người lao động về nước; thời gian đi học nghề được thực hiện theo quy định tại điểm d, khoản 3, Điều 14 Nghị định số 44/2003/NĐ-CP nêu trên.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 79/2010/NĐ-CP NGÀY 14 THÁNG 7 NĂM 2010 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ NGHIỆP VỤ QUẢN LÝ NỢ CÔNG

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Ngân sách nhà nước ngày 16 tháng 12 năm 2002;
Căn cứ Luật Quản lý nợ công ngày 17 tháng 6 năm 2009;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định về các công cụ quản lý nợ công; quản lý huy động, sử dụng, trả nợ và quản lý rủi ro, cơ cấu lại nợ; hạch toán kế toán, thống kê nợ và kiểm toán; tổ chức thông tin, báo cáo và công khai về nợ công.

Điều 2. Giải thích từ ngữ

Các từ ngữ được sử dụng trong Nghị định này được hiểu như sau:

1. Chiến lược dài hạn về nợ công là văn kiện đưa ra mục tiêu, định hướng, các giải pháp, chính sách đối với quản lý nợ công được xây dựng trong khuôn khổ chiến lược tài chính quốc gia, phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm và chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm của đất nước.

2. Chương trình quản lý nợ trung hạn là văn kiện cụ thể hóa nội dung chiến lược dài hạn về nợ công cho giai đoạn 3 năm liền kề phù hợp với khuôn khổ chính sách kinh tế, tài chính và kế hoạch ngân sách trung hạn của Chính phủ.

3. Kế hoạch vay và trả nợ chi tiết hàng năm của Chính phủ là văn kiện được xây dựng hàng năm bao gồm kế hoạch rút vốn vay và trả nợ chi tiết của Chính phủ.

Continue reading