LÚNG TÚNG PHÂN ĐỊNH ÁN DÂN SỰ, ÁN THƯƠNG MẠI

THANH TÙNG – HỒNG TÚ

Tòa án đang lúng túng khi xử lý quyết định hòa giải ở cơ sở theo Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở năm 1999.

Mới đây, tại buổi góp ý sửa đổi Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) do TAND Tối cao tổ chức, các đại biểu đã mổ xẻ nhiều vấn đề vướng mắc trong việc áp dụng luật tố tụng dân sự về các tranh chấp thương mại. Các ý kiến đề xuất phải thống nhất lại một số khái niệm, sửa đổi nhiều quy định về thủ tục.

Cần có hướng dẫn phân biệt án

Thẩm phán Nguyễn Văn Tiến (Tòa Kinh tế TAND Tối cao) nêu vấn đề: “Việc phân biệt các tranh chấp về kinh doanh thương mại (KDTM) và tranh chấp dân sự theo khoản 1 Điều 29 BLTTDS hiện nay đang vướng. Có người bảo tranh chấp KDTM thì phải dựa vào tiêu chí là có mục đích lợi nhuận. Thế nhưng nhiều ý kiến nói chỉ cần tiêu chí có đăng ký kinh doanh là được. Theo tôi, nên hiểu theo cách thứ nhất vì yếu tố lợi nhuận là dấu hiệu đặc trưng bắt buộc của loại án này”.

Tuy nhiên, Phó Chánh án TAND tỉnh An Giang Nguyễn Văn Học đề nghị: “Phải thỏa mãn cả hai điều kiện là có mục đích lợi nhuận và có đăng ký kinh doanh thì mới được coi là án KDTM. Còn thiếu một trong hai thì chỉ có thể coi là vụ án dân sự mà thôi. Trước mắt TAND Tối cao phải có hướng dẫn ngay để các tòa địa phương áp dụng chung”.

Thẩm phán Trần Văn Sự (Phó Chánh án TAND TP.HCM) đồng tình phải có những hướng dẫn tạm thời cho thẩm phán phân biệt được thế nào là án KDTM trước khi sửa đổi BLTTDS…

Tiến sĩ Nguyễn Văn Tiến (Trường Đại học Luật TP.HCM) đề xuất thêm, khi sửa đổi BLTTDS nên gọi là vụ án kinh doanh hoặc là vụ án thương mại cho dễ hiểu thay vì án KDTM như hiện nay. Một thẩm phán TAND tỉnh Đồng Nai nói: “Chúng ta nên gọi đó là vụ án thương mại vì luật và các điều ước quốc tế đều có tên như thế”.

Continue reading

THỰC TIỄN XÁC ĐỊNH CHA, MẸ, CON: TRUY NHẬN NGƯỜI ĐÃ CHẾT LÀ CHA – KHÓ!

HOÀNG YẾN

Một cặp chị em song sinh hơn 27 tuổi kiện xin xác nhận cha. Vụ việc bế tắc bởi người cha đã mất…

Ngày 23-7, sau khi nghị án, Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao đã quyết định hoãn phiên xử để cân nhắc việc lấy mẫu giám định ADN xác định huyết thống vì phía bị đơn cương quyết phản đối.

Tuổi thơ vắng bóng cha

Tháng 4-2009, hai chị em song sinh N. và H. đã nộp đơn đến TAND tỉnh Tây Ninh xin xác định ông S. là cha.

Theo nội dung đơn, năm 1980, mẹ họ cùng ông S. không làm lễ cưới hỏi nhưng sống công khai như vợ chồng. Khi người mẹ mang thai họ thì giữa bà với ông S. phát sinh mâu thuẫn nên hai bên sống riêng.

Đến năm 1983, họ chào đời, sống với mẹ và hoàn toàn không biết đến mặt cha. Người mẹ giận ông S. nên không chịu đi làm giấy khai sinh. Đến lúc phải khai sinh cho con để đi học, khai sinh của anh H. thì bà để trống tên cha, còn khai sinh của chị N. thì bà lấy họ ngoại và tên người khác ghép lại.

Khoảng năm 2001-2002, bà mới nói cho hai chị em N. và H. biết ông S. là cha ruột của họ. Biết chuyện, chị em họ vẫn thường qua thăm nom cha và ông S. cũng không hề ngăn cản. Ông còn thường cho tiền, hỏi thăm đời sống của hai chị em.

Đến cuối năm 2007, ông S. bệnh chết, hai chị em N. và H. đến xin chịu tang thì bị các cô chú ngăn cản. Vì thế, hai chị em họ đã nộp đơn ra tòa, yêu cầu xác định ông S. là cha của họ với chứng cứ là lời khai của người mẹ cùng một số nhân chứng đang sống tại địa phương.

Không giám định được ADN

Quá trình giải quyết án, hai chị em N. và H. đã yêu cầu xin quật mộ ông S. thu thập mẫu ADN để giám định huyết thống. Nhưng phía bị đơn đồng loạt phản đối. Họ nói chưa từng nghe hay biết gì về mối quan hệ giữa mẹ của hai chị em N. và H. với ông S. Lúc còn sống, ông S. chưa từng lần nào thừa nhận hai chị em N. và H. là con ruột; ngược lại, hai chị em N. và H. cũng chưa lần nào yêu cầu xác định ông S. là cha, nay ông S. đã mất mới yêu cầu là không thể chấp nhận.

Continue reading

LUẬT DOANH NGHIỆP NĂM 2005, LUẬT ĐẦU TƯ NĂM 2005 VÀ THỊ TRƯỜNG MUA BÁN DOANH NGHIỆP

TS. NGÔ HOÀNG OANH & TS. PHẠM TRÍ HÙNG

Sáp nhập, mua bán doanh nghiệp (M&As) trên thế giới đã phổ biến từ hàng trăm năm nay nhưng đối với Việt Nam lại là một bước đi mới mẻ. Khung pháp lý điều chỉnh quan hệ sáp nhập, mua lại doanh nghiệp được xây dựng trên cơ sở Luật Doanh nghiệp 2005, Luật Đầu tư 2005 và các Nghị định hướng dẫn thi hành hai luật trên sẽ làm hình thành một loại thị trường mới, rất quan trọng trong nền kinh tế thị trường – thị trường mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam.

Theo đánh giá của các chuyên gia, thị trường mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam đang trở thành một thị trường tiềm năng, với mức phát triển không nhỏ, doanh số mua bán doanh nghiệp tăng khoảng 30 – 40%/năm1.

Hiện tại, ở Việt Nam có khoảng 6000 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, 170000 doanh nghiệp trong nước, 5000 doanh nghiệp nhà nước, 15000 hợp tác xã – nếu có khung pháp lý và tạo ra được nhu cầu để những chủ thể trên tham gia vào thị trường mua bán doanh nghiệp chúng ta sẽ có khối lượng giao dịch không nhỏ trên thị trường này2.

Bài viết này giới thiệu hoạt động M&As của một số nước trên thế giới dưới góc độ pháp luật điều chỉnh, so sánh với luật điều chỉnh M&As ở Việt Nam nhằm đưa ra một số đề xuất xây dựng khung pháp lý điều tiết M&As như cơ sở để hình thành thị trường mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam, đồng thời là tư liệu tham khảo cho các nhà hoạt động thực tiễn như luật sư tư vấn hoặc các chủ doanh nghiệp về các cách thức, trình tự, thủ tục thực hiện việc sáp nhập, hợp nhất, mua lại doanh nghiệp phù hợp với các quy định hiện hành của pháp luật.

1. Pháp luật điều chỉnh M&As trên thế giới

1.1. Trên thế giới M&As trước tiên được xem là một trong những hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) rất phổ biến. FDI có thể thực hiện dưới 2 hình thức:

– Đầu tư mới dưới hình thức thành lập và xây dựng các doanh nghiệp mới tại nước tiếp nhận vốn đầu tư hay còn gọi là đầu tư vào lĩnh vực xanh (greenfield investment);

Continue reading

“QUI VỀ 0” (ZEROING) trong tính toán biên độ phá giá đối với các vụ kiện chống phá giá tại Mỹ

THS. NGUYỄN PHƯƠNG LAN – Giảng viên Đại học Luật Hà Nội

Những năm gần đây, các doanh nghiệp Việt Nam gặp nhiều khó khăn do chính sách bảo hộ mậu dịch của Mỹ và một trong các biện pháp rất hay được sử dụng là áp thuế chống bán phá giá. Một loạt các vụ kiện chống bán phá giá mà Mỹ tiến hành trong thời gian qua như vụ kiện cá ba sa, vụ kiện bán phá giá tôm đông lạnh… đều được tiến hành theo một cách thức chủ quan, cửa quyền và bất công đối với các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam. Trước tình trạng đó, gần đây Việt Nam đang chuẩn bị kiện Mỹ ra cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO về ba nội dung trong pháp luật chống bán phá giá của Mỹ, trong đó phương pháp “Quy về 0” (zeroing) là vấn đề được đề cập đầu tiên.

Tìm hiểu về Zeroing là một việc làm cần thiết và mang tính thời sự, góp phần phổ biến kiến thức pháp luật về thương mại quốc tế.

1. Zeroing là gì?

Bán phá giá được định nghĩa một cách đơn giản là khi hàng hóa được bán ở nước nhập khẩu với giá thấp hơn giá trị thông thường của nó tại thị trường nội địa (thị trường nước xuất khẩu). Tuy nhiên, để xác định được doanh nghiệp xuất khẩu có bán phá giá hay không và biên độ bán phá giá thì rất không đơn giản, bởi doanh nghiệp xuất khẩu thường bán vào nước nhập khẩu nhiều lô hàng và mỗi lô hàng lại có những mức giá khác nhau. Trong một vụ việc bán phá giá thông thường, quá trình tính biên độ bán phá giá luôn trải qua từng bước như sau: (i) tính giá trị thông thường (hoặc giá trị bình quân gia quyền thông thường) của sản phẩm tương tự ở nội địa; (ii) tính giá xuất khẩu của sản phẩm bị kiện; (iii) so sánh giá trị thông thường với giá xuất khẩu theo phương pháp bình quân gia quyền. Đến lúc này, giá xuất khẩu của mỗi giao dịch bán sẽ được so sánh với giá trị thông thường của sản phẩm.

Có thể lấy ví dụ như sau: Một công ty bị kiện bán phá giá đối với sản phẩm S của mình ở Mỹ. Mỹ mở cuộc điều tra vụ kiện này. Trong giai đoạn điều tra, có 9 giao dịch của mặt hàng này tại thị trường nước xuất khẩu. Qua đó, giá trị bình quân gia quyền thông thường của S tại thị trường nội địa được xác định là 34,5 USD (sau khi đã quy đổi từ đồng tiền nội địa). Cũng trong giai đoạn điều tra, có 9 giao dịch bán sản phẩm S vào Mỹ với số lượng và giá xuất khẩu đã được xác định. Việc tính toán khối lượng bán phá giá và biên độ bán phá giá tại Mỹ được thực hiện như sau: (Xem bảng trang bên.

Continue reading

“QUI VỀ 0” (ZEROING) TRONG TÍNH TOÁN BIÊN ĐỘ PHÁ GIÁ ĐỐI VỚI CÁC VỤ KIỆN CHỐNG PHÁ GIÁ TẠI MỸ

THS. NGUYỄN PHƯƠNG LAN – Giảng viên Đại học Luật Hà Nội

Những năm gần đây, các doanh nghiệp Việt Nam gặp nhiều khó khăn do chính sách bảo hộ mậu dịch của Mỹ và một trong các biện pháp rất hay được sử dụng là áp thuế chống bán phá giá. Một loạt các vụ kiện chống bán phá giá mà Mỹ tiến hành trong thời gian qua như vụ kiện cá ba sa, vụ kiện bán phá giá tôm đông lạnh… đều được tiến hành theo một cách thức chủ quan, cửa quyền và bất công đối với các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam. Trước tình trạng đó, gần đây Việt Nam đang chuẩn bị kiện Mỹ ra cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO về ba nội dung trong pháp luật chống bán phá giá của Mỹ, trong đó phương pháp “Quy về 0” (zeroing) là vấn đề được đề cập đầu tiên.

Tìm hiểu về Zeroing là một việc làm cần thiết và mang tính thời sự, góp phần phổ biến kiến thức pháp luật về thương mại quốc tế.

1. Zeroing là gì?

Bán phá giá được định nghĩa một cách đơn giản là khi hàng hóa được bán ở nước nhập khẩu với giá thấp hơn giá trị thông thường của nó tại thị trường nội địa (thị trường nước xuất khẩu). Tuy nhiên, để xác định được doanh nghiệp xuất khẩu có bán phá giá hay không và biên độ bán phá giá thì rất không đơn giản, bởi doanh nghiệp xuất khẩu thường bán vào nước nhập khẩu nhiều lô hàng và mỗi lô hàng lại có những mức giá khác nhau. Trong một vụ việc bán phá giá thông thường, quá trình tính biên độ bán phá giá luôn trải qua từng bước như sau: (i) tính giá trị thông thường (hoặc giá trị bình quân gia quyền thông thường) của sản phẩm tương tự ở nội địa; (ii) tính giá xuất khẩu của sản phẩm bị kiện; (iii) so sánh giá trị thông thường với giá xuất khẩu theo phương pháp bình quân gia quyền. Đến lúc này, giá xuất khẩu của mỗi giao dịch bán sẽ được so sánh với giá trị thông thường của sản phẩm.

Có thể lấy ví dụ như sau: Một công ty bị kiện bán phá giá đối với sản phẩm S của mình ở Mỹ. Mỹ mở cuộc điều tra vụ kiện này. Trong giai đoạn điều tra, có 9 giao dịch của mặt hàng này tại thị trường nước xuất khẩu. Qua đó, giá trị bình quân gia quyền thông thường của S tại thị trường nội địa được xác định là 34,5 USD (sau khi đã quy đổi từ đồng tiền nội địa). Cũng trong giai đoạn điều tra, có 9 giao dịch bán sản phẩm S vào Mỹ với số lượng và giá xuất khẩu đã được xác định. Việc tính toán khối lượng bán phá giá và biên độ bán phá giá tại Mỹ được thực hiện như sau: (Xem bảng trang bên.

Continue reading

BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ ÁN “Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để đưa sở hữu trí tuệ vào giảng dạy và đào tạo trong các trường đại học”

CHƯƠNG 1
THỰC TRẠNG GIẢNG DẠY VÀ ĐÀO TẠO VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ TRONG
CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC

1.1.  Nhận thức chung đối với giảng dạy và đào tạo về SHTT

Nghiên cứu trong Đề án tuy chú trọng đến tính thực tiễn của vấn đề nhiều hơn, song không vì thế bỏ qua các nội dung mang tính lý luận làm nền tảng cho các nghiên cứu thực tiễn. Vấn đề cần được nghiên cứu là hai nội dung “giảng dạy về SHTT” và “đào tạo về SHTT”. Một số tác giả cho rằng bản thân thuật ngữ đào tạo có nội hàm rộng, bao trùm nhiều nội dung khác, trong đó có giảng dạy. Hay nói một cách khác, giảng dạy là một phần của đào tạo. Nhìn chung, ý kiến này có nhiều điểm hợp lý. Tuy nhiên, việc đặt mục tiêu nghiên cứu của Đề án không chỉ dừng lại ở việc đào tạo cán bộ chuyên môn về SHTT. Đề án đặt một trọng tâm nghiên cứu vào hoạt động phổ biến kiến thức về SHTT trong các trường ĐH. Chính vì vậy,  Đề án sử dụng cả hai thuật ngữ “giảng dạy” và “đào tạo” tương ứng với hai hoạt động được tập trung nghiên cứu. Thực vậy, “giảng dạy” được hiểu là “Truyền thụ tri thức”. Quá trình truyềnthụ tri thức về SHTT cho sinh viên là một trong những mục tiêu cơ bản mà Đề án hướng tới. Việc truyền thụ kiến thức ở đây mang tính phổ cập. Những kiến thức SHTT khá mới mẻ với các nhà khoa học – giảng viên trong các trường ĐH của Việt Nam vốn quen với việc nghiên cứu theo kế hoạch và nhiệm vụ của Nhà nước, và càng mới so với sinh viên. Hàng loạt vấn đề liên quan đến quyền SHTT trong các trường ĐH, và tiếp đó là các công việc mà sinh viên sau khi tốt nghiệp chưa được giới thiệu tính đến đặc thù của quyền SHTT. Điều này có nghĩa là mối quan hệ giữa quyền SHTT với các hoạt động kinh tế, văn hóa và xã hội chưa được coi trọng. Đây là thực tiễn đáng báo động do vai trò của quyền SHTT ngày càng lớn đối với phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

Nhu cầu phổ cập kiến thức SHTT rất lớn. Thực khó tưởng tượng, một nhà  kinh tế lại chưa hiểu biết về một loại tài sản cơ bản trong nền kinh tế thị trường  thời kỳ toàn cầu hóa là tài sản trí tuệ. Chỉ một tài sản trí tuệ đã có thể so sánh được  với tổng thu nhập quốc dân của một nước như thương hiệu “coca-cola” với giá trị 67 tỷ US$2 . Cũng như vậy, sẽ không hợp lý khi một nhà khoa học nghiên cứu về  một giải pháp kỹ thuật lại không biết rằng kết quả nghiên cứu của mình sẽ không được bảo hộ độc quyền để khai thác thương mại nếu nó bị bộc lộ công khai, hoặc  đơn giản hơn là xác định xem mình có những quyền gì đối với các kết quả nghiên cứu được tạo ra. Chính cái không  hợp lý” này tồn tại ở Việt Nam là một trong những nguyên nhân dẫn đến thực trạng “đau lòng” là trong năm 2005 Việt Nam chỉ có một bằng sáng chế đăng ký quốc tế theo Tổ chức SHTT thế giới (WIPO).

Continue reading

BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ ÁN “NGHIÊN CỨU CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ĐỂ ĐƯA SHTT VÀO GIẢNG DẠY VÀ ĐÀO TẠO TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC”

CHƯƠNG 1
THỰC TRẠNG GIẢNG DẠY VÀ ĐÀO TẠO VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ TRONG
CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC

1.1.  Nhận thức chung đối với giảng dạy và đào tạo về SHTT

Nghiên cứu trong Đề án tuy chú trọng đến tính thực tiễn của vấn đề nhiều hơn, song không vì thế bỏ qua các nội dung mang tính lý luận làm nền tảng cho các nghiên cứu thực tiễn. Vấn đề cần được nghiên cứu là hai nội dung “giảng dạy về SHTT” và “đào tạo về SHTT”. Một số tác giả cho rằng bản thân thuật ngữ đào tạo có nội hàm rộng, bao trùm nhiều nội dung khác, trong đó có giảng dạy. Hay nói một cách khác, giảng dạy là một phần của đào tạo. Nhìn chung, ý kiến này có nhiều điểm hợp lý. Tuy nhiên, việc đặt mục tiêu nghiên cứu của Đề án không chỉ dừng lại ở việc đào tạo cán bộ chuyên môn về SHTT. Đề án đặt một trọng tâm nghiên cứu vào hoạt động phổ biến kiến thức về SHTT trong các trường ĐH. Chính vì vậy,  Đề án sử dụng cả hai thuật ngữ “giảng dạy” và “đào tạo” tương ứng với hai hoạt động được tập trung nghiên cứu. Thực vậy, “giảng dạy” được hiểu là “Truyền thụ tri thức”. Quá trình truyềnthụ tri thức về SHTT cho sinh viên là một trong những mục tiêu cơ bản mà Đề án hướng tới. Việc truyền thụ kiến thức ở đây mang tính phổ cập. Những kiến thức SHTT khá mới mẻ với các nhà khoa học – giảng viên trong các trường ĐH của Việt Nam vốn quen với việc nghiên cứu theo kế hoạch và nhiệm vụ của Nhà nước, và càng mới so với sinh viên. Hàng loạt vấn đề liên quan đến quyền SHTT trong các trường ĐH, và tiếp đó là các công việc mà sinh viên sau khi tốt nghiệp chưa được giới thiệu tính đến đặc thù của quyền SHTT. Điều này có nghĩa là mối quan hệ giữa quyền SHTT với các hoạt động kinh tế, văn hóa và xã hội chưa được coi trọng. Đây là thực tiễn đáng báo động do vai trò của quyền SHTT ngày càng lớn đối với phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội trong bối cảnh hội nhập quốc tế. 

Nhu cầu phổ cập kiến thức SHTT rất lớn. Thực khó tưởng tượng, một nhà  kinh tế lại chưa hiểu biết về một loại tài sản cơ bản trong nền kinh tế thị trường  thời kỳ toàn cầu hóa là tài sản trí tuệ. Chỉ một tài sản trí tuệ đã có thể so sánh được  với tổng thu nhập quốc dân của một nước như thương hiệu “coca-cola” với giá trị 67 tỷ US$2 . Cũng như vậy, sẽ không hợp lý khi một nhà khoa học nghiên cứu về  một giải pháp kỹ thuật lại không biết rằng kết quả nghiên cứu của mình sẽ không được bảo hộ độc quyền để khai thác thương mại nếu nó bị bộc lộ công khai, hoặc  đơn giản hơn là xác định xem mình có những quyền gì đối với các kết quả nghiên cứu được tạo ra. Chính cái không  hợp lý” này tồn tại ở Việt Nam là một trong những nguyên nhân dẫn đến thực trạng “đau lòng” là trong năm 2005 Việt Nam chỉ có một bằng sáng chế đăng ký quốc tế theo Tổ chức SHTT thế giới (WIPO).

Continue reading

ĐÂU LÀ SỰ BẤT CẬP TRONG VIỆC UỶ QUYỀN THAM GIA TỐ TỤNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG?

Tác giả viết bài này trước thời điểm BLDS năm 2005 và Luật doanh nghiệp năm 2005 được ban hành

LS. TRƯƠNG THANH ĐỨC

Tạp chí Ngân hàng số 7-2002 có bài “Uỷ quyền tham gia tố tụng tại Toà án đối với các vụ án kinh tế, dân sự – những vấn đề bất cập” của tác giả Thái Nguyên Toàn (Viện Kiểm sát Nhân dân tỉnh Quảng Nam), với một số nội dung chính có thể tóm tắt như sau:

– “Uỷ quyền” là việc người đứng đầu cơ quan “giao quyền” cho cấp phó trực tiếp của mình “khi không thể trực tiếp điều hành mọi hoạt động” của cơ quan. Còn “uỷ nhiệm” là việc người đứng đầu cơ quan “giao công việc cụ thể cho cán bộ” khác và những cán bộ này “không có quyền nhân danh cơ quan để ký và đóng dấu cơ quan vào bất cứ quan hệ giao dịch nào”;

– “Các cán bộ công chức từ cấp trưởng, phó phòng trở xuống không có thẩm quyền định đoạt công việc nội tại của cơ quan để được Giám đốc uỷ quyền tham gia tố tụng tại toà án giải quyết các tranh chấp kinh tế, dân sự”;

– Việc Tổng Giám đốc Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam uỷ quyền tham gia tố tụng cho Giám đốc, Phó Giám đốc các Chi nhánh, trưởng các Phòng nghiệp vụ và các chuyên viên pháp chế, chế độ là “uỷ quyền tràn lan không đúng theo quy định của pháp luật”, gây ra sự “đình trệ”, “phiền phức nhiêu khê cho việc giải quyết vụ án”.

Như vậy, liệu có phải lâu nay các Ngân hàng vẫn uỷ quyền sai và các cơ quan tiến hành tố tụng vẫn chấp nhận sự uỷ quyền tham gia tố tụng “không đúng theo quy định của pháp luật”?

Theo tôi, những nhận xét trên quả là kỳ lạ. Nó không dựa trên cơ sở pháp luật và đi ngược lại với đòi hỏi thực tế. Tác giả là cán bộ của một cơ quan pháp luật quan trọng nhưng đã có những sai lầm pháp lý khi viết về một chế định pháp luật.

Continue reading

SỰ TRỞ LẠI ĐÁNG LO NGẠI CỦA MỘT HỌC THUYẾT LỖI THỜI

TS. NGUYỄN QUỐC VINH – Giảng viên Học viện Tư pháp, Cơ sở 2, TP. Hồ Chí Minh

Những tưởng quy định lỗi thời của Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 (Pháp lệnh HĐKT) và Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 1995 rằng, giao dịch do một pháp nhân giao kết khi pháp nhân này không (hoặc chưa) có đăng ký kinh doanh (ĐKKD) trong lĩnh vực cụ thể nào đó sẽ bị vô hiệu, đã được loại bỏ bởi việc ban hành BLDS năm 2005. Nhưng, với số lượng ngày càng tăng các bản án tuyên vô hiệu hợp đồng do doanh nghiệp không ĐKKD trong thời gian gần đây, (thời điểm gần nhất mà chúng tôi được biết là Bản án số 2354/2009/DSPT ngày 10/12/2009 của TAND TP. Hồ Chí Minh1), thì đây là sự trở lại đáng lo ngại của hiện tượng tuyên vô hiệu hợp đồng do pháp nhân không có ĐKKD.

Bài viết, vì vậy, sẽ tập trung phân tích nguồn gốc học thuyết yêu cầu pháp nhân phải kinh doanh trong phạm vi ĐKKD trên thế giới, lược sử áp dụng quy định tại Việt Nam và những khuyến nghị cho Tòa án và cơ quan lập pháp Việt Nam về vấn đề này.

1. Nguồn gốc của học thuyết ultra vires

Học thuyết yêu cầu doanh nghiệp phải kinh doanh trong phạm vi ĐKKD hay trong văn kiện thành lập công ty như Điều lệ (Charter hay Articles of Association) hoặc Thỏa thuận thành lập (Memorandum of Association) được hiểu chung trên thế giới là học thuyết về ultra vires (the doctrine of ultra vires). Học thuyết này có nguồn gốc từ nước Anh. Tại các nước theo hệ thống luật lục địa, học thuyết này không tồn tại (như tại nước Đức) hoặc có phạm vi áp dụng không đáng kể (như tại nước Pháp)2. “Ultra” theo tiếng La-tinh có nghĩa là vượt quá, còn “vires” có nghĩa là thẩm quyền của một người3. Học thuyết ultra vires được áp dụng trong một số ngành luật như luật hiến pháp, hành chính và công ty. Tuy nhiên, học thuyết được áp dụng phổ biến nhất trong luật công ty với nghĩa là hành vi vượt quá phạm vi hoạt động kinh doanh của công ty mà đã được nêu trong văn kiện thành lập công ty (và đã được đăng ký với cơ quan đăng ký công ty)4.

Về lịch sử, học thuyết ultra vires được áp dụng đầu tiên tại Anh đối với công ty thành lập theo các đạo luật của Nghị viện. Các công ty này được thành lập nhằm phục vụ cho các nhu cầu thiết yếu của xã hội như giao thông vận tải, điện lực hay khai thác than… Trong các đạo luật thành lập công ty có các quy định hạn chế phạm vi hoạt động của công ty. Việc vi phạm các quy định hạn chế này được coi là hành vi ultra vires và giao dịch vì vậy sẽ vô hiệu5.

Continue reading

KINH TẾ TẬP THỂ GỒM NHỮNG HÌNH THỨC TỔ CHỨC KINH TẾ NÀO?

ANH THƯ

Một hợp tác xã có 10 thành viên được xem thuộc loại hình kinh tế tập thể trong khi một công ty cổ phần có cả hàng vạn cổ đông thì không. Điều này liệu đã hợp lý?

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng năm 2006 có viết: “Phát triển mạnh hơn các loại hình kinh tế tập thể đa dạng về hình thức sở hữu và hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh, bao gồm các tổ chức hợp tác xã và hợp tác xã kiểu mới”. Như vậy, theo nghị quyết Đại hội X thì kinh tế tập thể gồm các tổ chức hợp tác xã.

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX họp tháng 2-2002 về phát triển kinh tế tư nhân xác định các loại hình doanh nghiệp tư nhân (doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, TNHH một thành viên và hai thành viên trở lên, công ty cổ phần, công ty hợp danh), hộ kinh doanh cá thể, tiểu chủ là các hình thức tổ chức kinh tế của kinh tế tư nhân, không phải là kinh tế tập thể.

Quan hệ sở hữu tư nhân thuộc thành phần kinh tế nào, nên xem xét một cách tổng thể mối quan hệ của nó tới ba quyền (chiếm hữu, sử dụng, định đoạt), cùng với cơ chế quản lý và chế độ phân phối.

Trường hợp cả năm tiêu chí trên thuộc tư nhân thì đó là sở hữu cá nhân (các tài sản để tiêu dùng) hoặc sở hữu tư nhân một người (các tài sản cho sản xuất, kinh doanh). Đó là nhà tư bản thời kỳ tư bản chủ nghĩa giai đoạn đầu hoặc doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH một thành viên của ta hiện nay.

Các công ty TNHH hai thành viên trở lên và công ty cổ phần khác hẳn với doanh nghiệp tư nhân và công ty TNHH một thành viên xét trên năm tiêu chí. Tuy quyền nắm giữ tài sản của công ty dạng này thuộc tư nhân, nhưng quyền sử dụng và định đoạt (quyền quyết định cho mượn, cho thuê, bán, cầm cố, thế chấp, phá hủy) lại thuộc tập thể. Nó được điều hành theo cơ chế quản lý tập thể (đại hội đồng cổ đông, hội đồng thành viên), cơ chế phân phối tập thể (các quỹ).

Continue reading

THỰC TIỄN TỐ TỤNG DÂN SỰ: TÒA BỊ KIỆN NHƯNG KHÔNG CHỊU THỤ LÝ

VĂN ĐOÀN

Tòa không nhận đơn kiện vì đất không phải của đương sự trong khi ở quyết định kê biên thì tòa đã khẳng định đất này là của đương sự.

Tòa huyện chỉ đương sự chạy lên tòa thị xã, còn tòa thị xã bảo đã chuyển về tòa huyện.

Giữa năm 2009, do có tranh chấp về tài sản, ông A. đã kiện vợ chồng ông M. ra TAND huyện Tân Châu (tỉnh Tây Ninh). Sau đó ông A. lại tiếp tục yêu cầu tòa áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời kê biên toàn bộ tài sản của ông M.

TAND huyện đã ra quyết định khẩn cấp tạm thời, phong tỏa hơn 20 ha đất mà tòa cho rằng đây là tài sản của vợ chồng bị đơn. Nhận thấy tòa kê biên sai và lố, ông M. đã khiếu nại. Ông cho rằng trong khối tài sản này có phần đất của con trai ông. Phần này không hề liên quan đến vụ án nhưng lại bị kê biên gộp vào đất ông là vô lý. Hơn nữa sau khi tìm hiểu, ông biết được tòa huyện cũng không buộc ông A. đóng tiền đảm bảo khi yêu cầu tòa áp dụng biện pháp kê biên. Điều này là trái với quy định.

Kiện tòa vì bị kê biên lố

Ông M. đã khởi kiện TAND huyện Tân Châu vì đã ra quyết định kê biên gây thiệt hại cho ông. Cụ thể là đất của cha con ông đang làm thủ tục thế chấp ngân hàng để lấy tiền làm ăn và trả nợ nhưng khi bị kê biên thì không thể thế chấp được…

Tháng 8-2009, TAND huyện Tân Châu đã trả lại đơn kiện của ông M. Tòa cho rằng ông M. không nói rõ số tiền bồi thường là bao nhiêu và không có tài liệu chứng minh tài sản này là của chính ông…

Continue reading

KINH NGHIỆM CỦA NHẬT BẢN TRONG CÁC TRANH CHẤP LIẾN QUAN TỚI THUẾ ĐỐI KHÁNG

KEN MATSUMOTO – Chủ tịch Tập đoàn Hợp tác Quốc tế KM, Nguyên Giám đốc Trung tâm Thương mại Bình đẳng Nhật Bản

I. Kinh nghiệm của Nhật Bản trong các tranh chấp về thuế Chống trợ cấp

(1) Nhật Bản với vị trí nguyên đơn trong các vụ kiện giữa các doanh nghiệp Nhật Bản và doanh nghiệp của các quốc gia khác.

Trước đây, Nhật Bản ít khi sử dụng các biện pháp phòng vệ thương mại trong hạn chế hàng nhập khẩu. Chỉ có một vài cuộc điều tra về thuế Chống bán phá giá (dưới đây gọi là AD) và một vụ kiện về thuế Chống trợ cấp (dưới đây gọi là CVD) đối với sản phẩm bộ nhớ tiếp cận ngẫu nhiên năng động (DRAM) của Hàn Quốc được sản xuất và xuất khẩu bởi Công ty Hinix Semiconductor (dưới đây gọi là Hinix). Cuộc điều tra CVD được khởi xướng vào tháng 8 – 2004. Thời gian áp thuế từ tháng 1-2006 đến tháng 12-2010 với mức thuế là 27.2%. Nhóm điều tra của Chính phủ Nhật Bản gồm các quan chức đến từ Bộ Tài chính và Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp (METI).

Liên quan tới vấn đề nền kinh tế phi thị trường, năm 1993, Nhật Bản đã công nhận Trung Quốc là nước có nền kinh tế thị trường trong vụ kiện sản phẩm Hợp kim Mangan-Silicon, chất phụ gia trong sản xuất thép. Trong một vụ kiện AD khác về MnO2 điện phân (EMD), nguyên liệu để sản xuất pin, năm 2009, Chính phủ Nhật Bản cũng đã công nhận Trung Quốc có nền kinh tế thị trường.

(2) Nhật Bản trong vai trò là Bị đơn

(A) Bị áp thuế chống trợ cấp

Trong những năm 70, đã có 9 cuộc điều tra CVD đối với các sản phẩm của Nhật Bản do Hoa Kỳ tiến hành, trong đó có 3 trường hợp bị áp thuế chống trợ cấp. Chi tiết về các vụ kiện đã không được làm sáng tỏ. Tuy nhiên, cho dù có báo cáo về các vụ kiện này thì cũng không có ý nghĩa tham khảo nào bởi các vụ kiện diễn tra trước khi Hiệp định về Trợ cấp và các Biện pháp đối kháng có hiệu lực theo khuôn khổ WTO năm 1995.

Continue reading

VỤ KIỆN TỰ VỆ ĐẦU TIÊN CỦA VIỆT NAM – THỰC TIỄN VÀ KINH NGHIỆM

TS. HOÀNG THỊ THANH THỦY – Giảng viên Khoa Luật Đại học KTQD Hà Nội, LS tư vấn tại Văn phòng Luật Gide Loyrette Nouel

Sau gần 3 năm gia nhập WTO, thị trường Việt Nam đã có đủ thời gian để kiểm chứng những tác động của tự do hóa thương mại đem lại. Bên cạnh việc hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam được hưởng những ưu đãi thương mại khi xuất khẩu sang thị trường các nước thành viên khác của WTO, mức nhập siêu trong 11 tháng đầu năm 2009 đạt 10,417 tỷ USD (chiếm tỷ trọng 20,30% kim ngạch xuất khẩu) theo số liệu thống kê của Bộ công thương cũng phần nào thể hiện sức ép cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ nhập khẩu đối với sản xuất và khu vực dịch vụ trong nước.

Trong lĩnh vực Thương mại quốc tế, Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam VCCI cũng đánh giá 2009 là năm kỷ lục về số lượng các vụ điều tra phòng vệ thương mại đối với hàng hóa xuất khẩu từ Việt nam.[1] Do các ưu thế về giá thành nguyên liệu đầu vào và giá lao động cạnh tranh, hàng hóa Việt Nam thường bị các nước nhập khẩu điều tra áp dụng các biện pháp chống bán phá giá. Bên cạnh việc đối phó với các vụ kiện phòng vệ thương mại tại các thị trường xuất khẩu của Việt Nam trên thế giới, doanh nghiệp và các hiệp hội cũng nên chủ động trong việc áp dụng các công cụ pháp lý hợp pháp theo qui định của WTO, tận dụng cơ hội nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp ngay trên thị trường nội địa. Một trong những công cụ đó là thủ tục áp dụng các biện pháp tự vệ thương mại trong trường hợp khẩn cấp, khi hàng hóa nhập khẩu có sự gia tăng đột biến, không lường trước được, gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe dọa gây thiệt hại nghiêm trọng đến sản xuất trong nước. Giữa năm 2009, Công ty kính nổi Viglacera (VIFG) và Công ty Kính nổi Việt Nam (VFG) đã chính thức nộp đơn yêu cầu Bộ công thương tiến hành điều tra áp dụng các biện pháp tự vệ thương mại đối với sản phẩm kính nổi nhập khẩu (Float Glass). Tuy rằng các biện pháp tự vệ thương mại đối với mặt hàng kính nổi nhập khẩu theo đơn yêu cầu của nguyên đơn không được Bộ công thương chấp nhận do kết quả điều tra cuối cùng cho thấy không đủ điều kiện áp dụng các biện pháp tự vệ thương mại theo qui định của WTO. Song đối với hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam, đây là một sự kiện có ý nghĩa quan trọng bởi lần đầu tiên doanh nghiệp trong nước đã chủ động yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ quyền lợi của mình theo qui định của pháp luật WTO. Đây cũng là lần đầu tiên kể từ ngày gia nhập WTO, Việt Nam chính thức tiến hành thủ tục điều tra và cân nhắc áp dụng các biện pháp tự vệ thương mại với tư cách quốc gia nhập khẩu.

Continue reading

VỀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN thể chế kinh doanh hiện nay ở Việt Nam

TS. NGUYỄN THỊ NHIỄU – Bộ Công Thương

Thể chế kinh doanh có tác động rất lớn tới sức cạnh tranh và sự phát triển của nền kinh tế, tới các quyết định đầu tư, tổ chức sản xuất kinh doanh. Ngoài ra, thể chế kinh doanh còn giữ vai trò trung tâm trong chính sách, chiến lược phân phối lợi ích và chia sẻ chi phí xã hội. Do đó, nghiên cứu và hoàn thiện thể chế kinh doanh trong thời gian tới là điều quan trọng trong bối cảnh hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế thị trường nước ta.

1 – Khái quát chung về thể chế kinh doanh của Việt Nam

Thể chế có thể được hiểu là cái tạo thành khung khổ trật tự cho các quan hệ của con người, định vị cơ chế thực thi và giới hạn của các quan hệ giữa các bên tham gia tương tác; là ý chí chung của cộng đồng xã hội trong việc xác lập trật tự, những quy tắc, những ràng buộc và các chuẩn mực, giá trị chung được mọi người chia sẻ…

Môi trường thể chế được xác định là khung khổ hành chính và pháp lý điều chỉnh hành vi và các mối quan hệ giữa chính phủ, doanh nghiệp và cá nhân nhằm tạo ra thu nhập và của cải vật chất của một nền kinh tế (Diễn đàn Kinh tế thế giới WEF- Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu năm 2009/2010).

Như vậy, có thể thấy được 3 yếu tố chính trong nội hàm của khái niệm thể chế kinh doanh gồm: (1) Hệ thống pháp luật về kinh doanh, các quy tắc xã hội điều chỉnh các mối quan hệ kinh doanh và các hành vi kinh doanh được pháp luật thừa nhận của một quốc gia; (2) Các chủ thể thực hiện và quản lý hệ thống kinh doanh (bao gồm nhà nước, cộng đồng doanh nghiệp, các tổ chức xã hội dân sự); (3) Các cơ chế, phương pháp, thủ tục thực hiện hoạt động kinh doanh, quản lý và điều hành hệ thống kinh doanh.

Vai trò của thể chế phụ thuộc lớn vào chất lượng của khung khổ pháp luật; sự can thiệp của chính phủ vào thị trường, mức độ tự do hóa và hiệu quả hoạt động của thị trường. Tình trạng quan liêu hay can thiệp quá mức, tham nhũng, tình trạng thiếu trung thực trong thực hiện các hợp đồng mua sắm công, hoặc thiếu minh bạch, công khai, sự phụ thuộc lớn của hệ thống tư pháp có thể khiến chi phí kinh doanh trở nên đắt đỏ và cản trở phát triển kinh tế.

Continue reading

VỀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN THỂ CHẾ KINH DOANH HIỆN NAY Ở VIỆT NAM

TS. NGUYỄN THỊ NHIỄU – Bộ Công thương

Thể chế kinh doanh có tác động rất lớn tới sức cạnh tranh và sự phát triển của nền kinh tế, tới các quyết định đầu tư, tổ chức sản xuất kinh doanh. Ngoài ra, thể chế kinh doanh còn giữ vai trò trung tâm trong chính sách, chiến lược phân phối lợi ích và chia sẻ chi phí xã hội. Do đó, nghiên cứu và hoàn thiện thể chế kinh doanh trong thời gian tới là điều quan trọng trong bối cảnh hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế thị trường nước ta.

1 – Khái quát chung về thể chế kinh doanh của Việt Nam

Thể chế có thể được hiểu là cái tạo thành khung khổ trật tự cho các quan hệ của con người, định vị cơ chế thực thi và giới hạn của các quan hệ giữa các bên tham gia tương tác; là ý chí chung của cộng đồng xã hội trong việc xác lập trật tự, những quy tắc, những ràng buộc và các chuẩn mực, giá trị chung được mọi người chia sẻ…

Môi trường thể chế được xác định là khung khổ hành chính và pháp lý điều chỉnh hành vi và các mối quan hệ giữa chính phủ, doanh nghiệp và cá nhân nhằm tạo ra thu nhập và của cải vật chất của một nền kinh tế (Diễn đàn Kinh tế thế giới WEF- Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu năm 2009/2010).

Như vậy, có thể thấy được 3 yếu tố chính trong nội hàm của khái niệm thể chế kinh doanh gồm: (1) Hệ thống pháp luật về kinh doanh, các quy tắc xã hội điều chỉnh các mối quan hệ kinh doanh và các hành vi kinh doanh được pháp luật thừa nhận của một quốc gia; (2) Các chủ thể thực hiện và quản lý hệ thống kinh doanh (bao gồm nhà nước, cộng đồng doanh nghiệp, các tổ chức xã hội dân sự); (3) Các cơ chế, phương pháp, thủ tục thực hiện hoạt động kinh doanh, quản lý và điều hành hệ thống kinh doanh.

Vai trò của thể chế phụ thuộc lớn vào chất lượng của khung khổ pháp luật; sự can thiệp của chính phủ vào thị trường, mức độ tự do hóa và hiệu quả hoạt động của thị trường. Tình trạng quan liêu hay can thiệp quá mức, tham nhũng, tình trạng thiếu trung thực trong thực hiện các hợp đồng mua sắm công, hoặc thiếu minh bạch, công khai, sự phụ thuộc lớn của hệ thống tư pháp có thể khiến chi phí kinh doanh trở nên đắt đỏ và cản trở phát triển kinh tế.

Continue reading

ĐÀM PHÁN HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

LS. NGÔ VĂN HIỆP – Văn phòng luật sư Hiệp và  Liên danh

Đàm phán, ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là một loại đàm phán trong đó có ít nhất hai bên chủ thể có trụ sở thương mại ở những nước khác nhau tham gia đàm phán để xác lập hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, hoặc tài sản là đối tượng của hợp đồng ở nước ngoài đối với các bên hay sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ giao dịch ở nước ngoài đối với các bên.

Đặc điểm của đàm phán

Hoạt động đàm phán hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế bên cạnh những đặc điểm chung như đàm phán các loại hợp đồng thông thường khác thì cũng có những đặc điểm riêng biệt, đó là:
– Các quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thường chịu sự điều chỉnh của một hoặc một số điều ước quốc tế song phương hoặc đa phương, hoặc quy định của hệ thống pháp luật một quốc gia nhất định với tư cách là khuôn khổ pháp lý.
– Đàm phán hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế luôn chịu sự chi phối, tác động của các quy luật kinh tế. Bên cạnh đó, nó còn bị chi phối, ảnh hưởng bởi phương pháp và thủ thuật kinh doanh, đặc biệt là phương pháp marketing quốc tế và cạnh tranh.
– Đàm phán hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thường chịu ảnh hưởng bởi sự biến động của nền kinh tế và thị trường quốc tế có tính chất thường xuyên, liên tục.
– Đàm phán hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thường chịu ảnh hưởng của các yếu tố chính trị và ngoại giao do có yếu tố quốc tế và thường liên quan tới ít nhất hai quốc gia khác nhau.

Các yếu tố cơ bản của hoạt động đàm phán

– Bối cảnh đàm phán là tổng hợp các yếu tố khách quan có liên quan trực tiếp và gián tiếp tới hoạt động đàm phán và thường bao gồm các yếu tố kinh tế, xã hội, chính trị… Trong đó thời gian, địa điểm và ngôn ngữ đàm phán là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc đàm phán.

Continue reading

VÀI NÉT VỀ ĐÀO TẠO TÍN CHỈ NGÀNH LUẬT TẠI ĐẠI HỌC SAARLAND – CHLB ĐỨC

NGUYỄN MINH TUẤN (Tổng hợp)

1. Việc học

– Sinh viên năm thứ nhất được các giáo sư ở tất cả các chuyên ngành trực tiếp giới thiệu phương pháp cũng như những kỹ năng cần thiết cho việc học tín chỉ của từng môn học.
– Bên cạnh các môn khoa học pháp lý cơ bản (như Lịch sử pháp luật, triết học pháp luật, xã hội học pháp luật, Lịch sử các học thuyết pháp lý và Phương pháp luận nghiên cứu luật học) là các môn khoa học pháp lý chuyên ngành (ở Đức có 3 ngành luật truyền thống là luật dân sự, luật hình sự và luật công (Zivilrecht, Strafrecht, Öffentliches Recht)và các môn học chuyên sâu của từng ngành tương ứng (intensive Ausbildung in denjenigen Rechtsfächern). Bên cạnh đó, học viên có thể lựa chọn một số môn học khác để tích lũy đủ số tín chỉ theo yêu cầu như môn Luật so sánh (Rechtsvergleichung), Công pháp quốc tế (Völkerrecht), Tư pháp quốc tế (Internationales Privatrecht), Luật hình sự quốc tế (Internationales Strafrecht), Luật kinh tế và luật thuế quốc tế, (Internationales Wirtschafts- und Steuerrecht) và Luật liên minh Châu Âu (das Europarecht).
– Mỗi môn học, bên cạnh việc tham dự các bài giảng (Vorlesung), sinh viên được tham dự các buổi seminar, các buổi học nhóm (Tutorien/ AG – Arbeitsgemeinschaft). Việc nghe giảng cũng như học nhóm là hoàn toàn tự nguyện, không có điểm danh.
– Trước khi bắt đầu môn học, sinh viên có thể truy cập vào trang web của Giáo sư để tìm hiểu trước các tài liệu tham khảo, mục lục các bài giảng. Sau mỗi bài giảng trên lớp, sinh viên có thể truy cập trang web này để download nội dung chính của bài giảng và các bài tập, tình huống pháp lý để tự nghiên cứu.
– Chỉ có Giáo sư thực thụ mới được đứng lớp giảng dạy. Các học viên sau tiến sĩ, tiến sĩ, hoặc nghiên cứu sinh (những người đã qua kỳ thi quốc gia) chưa được phong hàm giáo sư chính thức chỉ có thể tham gia hướng dẫn các buổi học nhóm. Giảng đường và các phòng học nhóm được bố trí tương ứng, phù hợp với số lượng sinh viên.
– Trong mỗi buổi học nhóm, sinh viên và người hướng dẫn học nhóm được trao đổi, thảo luận về các tình huống pháp lý do Giáo sư của môn học đó đưa ra.

Continue reading

THỰC TIỄN TỐ TỤNG: NƠI Ở CUỐI CÙNG CỦA BỊ ĐƠN Ở ĐÂU?

HOÀNG YẾN

Nhiều tòa mạnh dạn thụ lý giải quyết để bảo vệ quyền lợi của đương sự thì lại bị tòa cấp phúc thẩm hủy án.

Điểm a khoản 1 Điều 36 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) quy định: “Nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết”. Thế nhưng trong thực tế đã xuất hiện nhiều tranh cãi khi vận dụng điều luật này.

Đã đi mất, vẫn thụ lý

TAND TP.HCM vừa hủy một bản án của TAND quận 1 vì cho rằng tòa này vận dụng không đúng quy định về điều luật nói trên.

Trước đó, ông N. đã vay nợ của bà A. Sau một thời gian tìm kiếm, bà A. biết nơi ở cuối cùng của ông này là ở quận 1 nên khởi kiện… TAND quận 1 đã thụ lý giải quyết, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Tuy nhiên, VKSND TP.HCM kháng nghị vì cho rằng tòa thụ lý sai.

Tòa thành phố xử phúc thẩm nhận định theo xác minh tại địa phương, bị đơn đã bán nhà đi đâu không rõ trước khi Tòa quận 1 thụ lý vụ án. Như vậy, bị đơn đã bỏ đi trước khi nguyên đơn khởi kiện và nguyên đơn cũng không cung cấp được địa chỉ mới của bị đơn nên xem đây là trường hợp không xác định được địa chỉ của bị đơn. Tòa phải trả lại đơn khởi kiện. Nhưng tòa quận lại tiến hành niêm yết công khai các văn bản tố tụng đối với ông N. tại nơi ông không còn cư trú để xét xử vắng mặt. Giải quyết như vậy là không đúng, vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng. Tòa chấp nhận kháng nghị, hủy toàn bộ bản án sơ thẩm…

Continue reading

TỪ VỤ VEDAN: NHÌN NHẬN NHỮNG KHUYẾT TẬT CỦA HỆ THỐNG PHÁP LÝ

TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN

Thời hiệu khởi kiện trong vụ Vedan đã gần hết. Dùng dằng mãi cho đến nay, người nông dân mòn mỏi chờ thiện chí của doanh nghiệp để tìm một lối ra đơn giản, ít tốn kém và thỏa đáng cho cuộc đôi co thông qua thương lượng. Nhưng bây giờ hầu như họ không còn sự lựa chọn nào khác ngoài theo đuổi mục tiêu được bồi thường thiệt hại bằng con đường pháp đình.

Thực ra diễn biến này không nằm ngoài dự kiến và do đó, không làm ai bất ngờ. Điều gây trăn trở là để thực hiện hành trình đòi công lý được dự báo là rất cam go này, đặc biệt đòi hỏi khả năng theo đuổi dài hơi, trong khi người nông dân – nguyên đơn lại không có điều kiện chuẩn bị hành trang pháp lý cần thiết cho mình, như sự mong muốn của tất cả những ai yêu chuộng công lý, lẽ phải.

Chắc chắn không nên để người nông dân có bất kỳ ảo tưởng nào về khả năng tiến hành một vụ kiện mang tính tập thể, vì lợi ích chung của những người bị thiệt hại. Luật hiện hành không ghi nhận loại kiện này, mà chỉ thừa nhận quyền kiện cáo theo luật chung về trách nhiệm dân sự: ai mất gì, thì phải nhân danh chính mình mà đòi lại. Giả sử tất cả nguyên đơn trong vụ Vedan đều ủy quyền cho một tổ chức nào đó, Hội Nông dân chẳng hạn, đứng đơn kiện thay mình, thì cũng không thể có một vụ kiện duy nhất: có bao nhiêu nguyên đơn, thì vẫn phải có chừng đó vụ kiện và người được ủy quyền phải đại diện cho từng nguyên đơn một, trong từng vụ. Chi phí xã hội cao do có nhiều vụ kiện cùng tính chất được lặp đi lặp lại một cách máy móc là không tránh khỏi.

Cần suy nghĩ một cách nghiêm túc và có trách nhiệm nhằm tìm kiếm giải pháp cải cách sâu rộng, để xã hội không phải bó tay trước những chuyện bất hợp lý và bất công rành rành như thế.

Cũng theo luật chung, mỗi nguyên đơn phải chứng minh thiệt hại của riêng mình để được bồi thường trực tiếp, độc lập với yêu cầu bồi thường của nguyên đơn khác. Nhà chức trách công đã cam kết ủng hộ người bị thiệt hại trong việc thiết lập căn cứ pháp lý khách quan cho yêu cầu bồi thường của họ. Nhưng hứa, thậm chí thật lòng muốn giữ đúng lời hứa, là một chuyện, thực hiện lại là chuyện khác. Trong khi đó, việc điều tra, giám định để xác định mối liên hệ nguyên nhân – hệ quả giữa hành vi xả chất thải và thiệt hại được ghi nhận là công tác kỹ thuật không hề đơn giản và rất tốn kém.

Continue reading