GIẤY CHỨNG NHẬN ĐĂNG KÝ KINH DOANH: NHỮNG LÁT CẮT RỜI RẠC

TRẦN THANH TÙNG

Vào tháng 9-2007, công ty A ký kết hợp đồng mua gạo từ công ty B. Công ty B sau đó không giao hàng và cũng không có động thái thực hiện hợp đồng, dù đã nhận tiền ứng trước từ công ty A.

Từ một vụ án đơn giản

Công ty A kiện công ty B ra tòa án, tố cáo công ty B lừa đảo với lý lẽ rằng tại thời điểm ký kết hợp đồng, công ty B không có chức năng mua bán gạo, người ký hợp đồng cũng không phải là người đại diện theo pháp luật của công ty B.

Tuy nhiên, ngoài một bản fax giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của công ty B từ tháng 10-2007, các bên không thể cung cấp chứng cứ nào khác và công ty B cũng không nhớ nổi ngành nghề của mình vào năm 2007.

Lý do là từ 2007 đến nay, công ty B đã hàng chục lần thay đổi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và mỗi lần đều phải trả lại bản gốc giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cũ trước khi nhận giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh mới. Cuối cùng, tòa án buộc phải nhờ đến sở kế hoạch và đầu tư hỗ trợ nhằm xác định ngành nghề và người đại diện theo pháp luật của công ty B vào tháng 9-2007.

Vụ việc khiến các bên và tòa án mất nhiều thời gian chỉ vì giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh không cho thấy thông tin của công ty B theo thời gian. Rắc rối nhỏ trong vụ án trên đặt ra một vấn đề lớn trong cách thức quản lý doanh nghiệp thông qua giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hiện nay.

Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh: những lát cắt rời rạc

Năng lực pháp lý của doanh nghiệp phụ thuộc vào mục đích hoạt động của doanh nghiệp, thể hiện cụ thể qua phạm vi ngành, nghề kinh doanh trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

Continue reading

THỰC TIỄN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ: THIẾU HƯỚNG DẪN, THI HÀNH ÁN LÚNG TÚNG

NGUYỄN TIẾN HIỂU

Tòa không chịu thụ lý việc xác định tài sản chung, riêng dù luật thi hành án có quy định.

Theo Luật Thi hành án dân sự (LTHADS), trong việc cưỡng chế liên quan tài sản chung, nếu chủ sở hữu chung không khởi kiện xác định phần sở hữu của họ thì người được thi hành án (THA) hoặc chấp hành viên có quyền yêu cầu tòa án xác định phần sở hữu của người phải THA trong khối tài sản chung để đảm bảo THA.

Được quyền kiện nhưng tòa không thụ lý

Mặc dù quy định đã rõ ràng như vậy nhưng cuối cùng THA cũng vướng khi phía tòa không chịu thụ lý việc xác định đâu là tài sản riêng trong khối tài sản chung của các đương sự.

Cụ thể như vụ của ông Nguyễn Văn H. ở quận Bình Thạnh (TP.HCM). Năm 2007, ông yêu cầu ông T. phải thi hành bản án trả nợ. Sau đó, ông phát hiện ông T. có một căn nhà ở quận 10 nên yêu cầu THA cưỡng chế, phát mại. Trớ trêu thay căn nhà trên là tài sản chung của ông T. với người chị. Cơ quan THA đã mời các bên liên quan đến để thỏa thuận phân chia tài sản nhưng chị ông T. không đến. Hai chủ sở hữu chung này cũng không thèm khởi kiện ra tòa để xác định phần tài sản riêng của mình.

Thấy bên kia không hợp tác, căn theo LTHADS, ông H. đã khởi kiện ra tòa yêu cầu xác định phần nhà riêng của ông T. Tuy nhiên, tòa án đã trả lại đơn vì cho rằng không thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa.

Tòa lý giải, theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự. Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó. Ông H. hay cơ quan THA khởi kiện là không được vì không phải đương sự trong vụ án mà chỉ là… người ngoài.

Trước tình hình đó, cơ quan THA đành phải xếp hồ sơ, báo cáo khó khăn, chờ hướng dẫn.

Continue reading

THẾ NÀO LÀ GIÁ THỊ TRƯỜNG?

Căn cứ theo “giá thị trường” là một qui định rất phổ biến hiện nay trong xác định giá trị tài sản là đối tượng của giao dịch hoặc tranh chấp – Civillawinfor

HẢI DƯƠNG

Một trong những nguyên nhân khiến tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước (DNNN) thời gian qua bị chậm là do quy định về: “Xác định giá trị quyền sử dụng đất và giá trị lợi thế vị trí địa lý vào giá trị doanh nghiệp” tại Nghị định số 109/2007/NĐ-CP còn bất cập. Dư luận đặc biệt quan tâm đến vấn đề này khi Bộ Tài chính chuẩn bị trình Thủ tướng bản Dự thảo sửa đổi Nghị định 109.

Nghị định số 109/2007/NĐ-CP nêu rõ: Xác định giá trị doanh nghiệp khi cổ phần hóa phải tính tiền thuê đất, xác định giá trị quyền sử đụng đất, xác định lợi thế vị trí đất vào giá trị doanh nghiệp. Theo đó, việc xác định giá đất phải theo sát giá thị trường tại thời điểm định giá được UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định và công bố. Tuy nhiên, điều khó khăn đã được chỉ ra lâu nay là: Căn cứ nào để đưa ra giá thị trường khi mà thị trường bất động sản luôn luôn biến động?

Theo Điều 31 Dự thảo sửa đổi Nghị định 109, trường hợp doanh nghiệp cổ phần hóa lựa chọn hình thức giao đất (kể cả diện tích đất Nhà nước đã giao cho doanh nghiệp xây dựng nhà để bán hoặc cho thuê kinh doanh khách sạn, kinh doanh thương mại dịch vụ; xây dựng kết cấu hạ tầng để chuyển nhượng hoặc cho thuê) thì phải tính giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị doanh nghiệp theo giá đất được UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (nơi doanh nghiệp có diện tích đất được giao) quy định  sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường theo quy định của pháp luật về đất đai. Trường hợp diện tích đất doanh nghiệp được giao có bao gồm cả diện tích đất sử dụng cho các hoạt động sản xuất cung ứng các dịch vụ, sản phẩm công ích, phúc lợi công cộng như công viên cây xanh, môi trường đô thị, bến bãi xe khách, đất làm công trình thủy lợi…, thì được loại trừ những diện tích này khi xác định giá trị quyền sử dụng đất theo giá thị trường để tính vào giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa.

Continue reading

10 VẤN ĐỀ PHÁP LÝ TRONG VIỆC THẾ CHẤP, BẢO LÃNH BẰNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Tác giả viết bài này vào thời điểm BLDS năm 2005 đang được soạn thảo

LS. TRƯƠNG THANH ĐỨC

Việc thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất là một trong những hình thức bảo đảm tiền vay chủ yếu của các ngân hàng, đồng thời cũng là một vấn đề pháp lý rất phức tạp. Trong khi đó, Luật Đất đai năm 2003, Bộ luật Dân sự năm 1995 và các văn bản khác hướng dẫn thi hành việc thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất theo hướng: Người sử dụng đất chỉ được làm những gì mà pháp luật cho phép. Với tư cách là người nhận thế chấp, bảo lãnh, các Ngân hàng không thể bỏ qua những vấn đề pháp lý trong việc thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất dưới đây:

– Về thời điểm thiết lập hợp đồng thế chấp, bảo lãnh;

– Về mục đích thế chấp, bảo lãnh;

– Về các loại đất được và không được thế chấp, bảo lãnh;

– Về người ký hợp đồng thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất của Hộ gia đình;

– Về việc công chứng, chứng thực hợp đồng thế chấp, bảo lãnh;

– Về việc đăng ký thế chấp, bảo lãnh;

– Về thời hạn đăng ký thế chấp, bảo lãnh;

– Về việc sửa đổi hợp đồng thế chấp, bảo lãnh;

– Về trường hợp vừa thế chấp, vừa bảo lãnh;

– Về sự khác nhau giữa thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất và thế chấp, bảo lãnh bằng tài sản gắn liền với đất.

1. Về thời điểm thiết lập hợp đồng thế chấp, bảo lãnh:

Hợp đồng thế chấp, bảo lãnh chỉ là một biện pháp để bảo đảm để thực hiện hợp đồng tín dụng (hay hợp đồng kinh tế, dân sự khác). Do vậy, hợp đồng tín dụng luôn là hợp đồng chính, được thiết lập trước; còn hợp đồng thế chấp, bảo lãnh là hợp đồng phụ và được thiết lập trên cơ sở đã có quan hệ tín dụng phát sinh.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 2364/LĐTBXH-LĐTL NGÀY 14 THÁNG 7 NĂM 2010 CỦA BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI VỀ TRỢ CẤP THÔI VIỆC

Kính gửi:

Viện Máy và Dụng cụ Công nghiệp
(Địa chỉ: 46 Láng Hạ, Đống Đa, Hà Nội)
 

Trả lời công văn số 335/TH-IMI ngày 29/06/2010 của quý Viện về việc hướng dẫn thời gian và nguồn chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:

1. Theo quy định tại khoản 3, Điều 14 Nghị định số 44/2003/NĐ-CP ngày 09/5/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về hợp đồng lao động và hướng dẫn tại Thông tư số 21/2003/TT-BLĐTBXH ngày 22/9/2003 đã được sửa đổi, bổ sung tại Thông tư số 17/2009/TT-BLĐTBXH ngày 26/5/2009 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định trường hợp người lao động làm việc cho các đơn vị khác thuộc khu vực nhà nước do chuyển công tác trước ngày 01/01/1995 nhưng chưa được nhận trợ cấp thôi việc thì khi chấm dứt hợp đồng lao động, công ty nhà nước cuối cùng (nơi người lao động đã chuyển công tác đến trước ngày 01/01/1995) có trách nhiệm chi trả toàn bộ số tiền trợ cấp thôi việc cho người lao động, kể cả phần trợ cấp thôi việc thuộc trách nhiệm chi trả của công ty, đơn vị thuộc khu vực nhà nước mà người lao động đã làm việc trước khi chuyển công tác trước ngày 01/01/1995, sau đó gửi thông báo để yêu cầu hoàn trả số tiền đã được chi trả hộ, nếu đơn vị cũ đã chấm dứt hoạt động thì ngân sách nhà nước sẽ hoàn trả.

Như vậy, đối với người lao động có thời gian công tác tại lực lượng vũ trang chuyển đến công ty nhà nước trước ngày 01/01/1995 nhưng chưa nhận trợ cấp thôi việc, chuyển ngành, xuất ngũ, phục viên…, nếu thôi việc thì thời gian phục vụ trong lực lượng vũ trang được tính là thời gian làm việc trong khu vực nhà nước để tính trợ cấp thôi việc theo quy định của Nghị định số 44/2003/NĐ-CP và Thông tư số 21/TT-BLĐTBXH nêu trên; đối với người đi hợp tác lao động ở nước ngoài về nước chuyển đến công ty nhà nước ngày 01/01/1995 nhưng chưa nhận trợ cấp thôi việc trong thời gian đi hợp tác lao động ở nước ngoài, nếu thôi việc thì thời gian công tác ở nước ngoài được tính là thời gian công tác của người lao động để giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội hoặc chế độ thôi việc theo quy định tại Thông tư số 11/LĐTBXH-TT ngày 04/11/1991 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện một số chính sách, chế độ đối với người lao động có thời hạn ở nước ngoài về nước hoặc Thông tư liên tịch bộ số 12-TT/LB ngày 03/8/1992 của liên Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội – Tài chính hướng dẫn thực hiện một số chính sách, chế độ đối với người đi lao động có thời hạn ở nước ngoài về nước tùy thuộc vào thời điểm người lao động về nước; thời gian đi học nghề được thực hiện theo quy định tại điểm d, khoản 3, Điều 14 Nghị định số 44/2003/NĐ-CP nêu trên.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 79/2010/NĐ-CP NGÀY 14 THÁNG 7 NĂM 2010 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ NGHIỆP VỤ QUẢN LÝ NỢ CÔNG

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Ngân sách nhà nước ngày 16 tháng 12 năm 2002;
Căn cứ Luật Quản lý nợ công ngày 17 tháng 6 năm 2009;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định về các công cụ quản lý nợ công; quản lý huy động, sử dụng, trả nợ và quản lý rủi ro, cơ cấu lại nợ; hạch toán kế toán, thống kê nợ và kiểm toán; tổ chức thông tin, báo cáo và công khai về nợ công.

Điều 2. Giải thích từ ngữ

Các từ ngữ được sử dụng trong Nghị định này được hiểu như sau:

1. Chiến lược dài hạn về nợ công là văn kiện đưa ra mục tiêu, định hướng, các giải pháp, chính sách đối với quản lý nợ công được xây dựng trong khuôn khổ chiến lược tài chính quốc gia, phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm và chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm của đất nước.

2. Chương trình quản lý nợ trung hạn là văn kiện cụ thể hóa nội dung chiến lược dài hạn về nợ công cho giai đoạn 3 năm liền kề phù hợp với khuôn khổ chính sách kinh tế, tài chính và kế hoạch ngân sách trung hạn của Chính phủ.

3. Kế hoạch vay và trả nợ chi tiết hàng năm của Chính phủ là văn kiện được xây dựng hàng năm bao gồm kế hoạch rút vốn vay và trả nợ chi tiết của Chính phủ.

Continue reading

VIỆC BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI CỦA CƠ QUAN NHÀ NƯỚC Ở TRUNG QUỐC VÀ NHẬT BẢN

TRẦN THỊ THU THỦY

1. Trung Quốc về Bồi thường thiệt hại

Vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cơ quan tiến hành tố tụng ở Trung Quốc được quy định trong Luật bồi thường Nhà nước – một chế định pháp luật điều chỉnh quan hệ pháp luật về bồi thường thiệt hại. Hiện nay nhà nước Trung Quốc thừa nhận và chịu trách nhiệm bồi thường đối với hành vi vi phạm pháp luật do cơ quan nhà nước và nhân viên cơ quan nhà nước gây ra tổn hại thực tế cho công dân, pháp nhân hay tổ chức khác. Đây là một loại trách nhiệm pháp luật đặc thù được thể  hiện ở những điểm sau:

Thứ nhất, đặc điểm nổi bật của bồi thường nhà nước là nhà nước thừa nhận trách nhiệm pháp luật và chi trả tiền bồi thường. Trong trường hợp nhân viên cơ quan nhà nước có hành vi vi phạm pháp luật gây tổn hại cho công dân, pháp nhân hay tổ chức khác thì nhân viên đó không trực tiếp bồi thường cho người bị tổn hại mà nhà nước sẽ đứng ra gánh vác trách nhiệm bồi thường cho người bị hại đó. Đặc điểm này không giống với bồi thường dân sự mà ở đó thực hiện nguyên tắc “người nào vi phạm, người đó phải bồi thường”.

Nhà nước thừa nhận trách nhiệm và cơ quan nhà nước có trách nhiệm thực thi nghĩa vụ bồi thường. Đặc điểm nổi bật của bồi thường nhà nước là nhà nước thừa nhận trách nhiệm pháp luật và chi trả tiền bồi thường. Trong trường hợp nhân viên cơ quan nhà nước có hành vi vi phạm pháp luật gây tổn hại cho công dân, pháp nhân hay tổ chức khác thì nhân viên đó không trực tiếp bồi thường cho người bị hại đó. Đặc điểm này không giống với bồi thường dân sự mà ở đó thực hiện nguyên tắc “người nào vi phạm, người đó phải bồi thường”.

Continue reading

QUYỀN MIỄN TRỪ QUỐC GIA trong tư pháp quốc tế Việt Nam

THS. BÀNH QUỐC TUẤN – Khoa Kinh tế , ĐHQG TP. Hồ Chí Minh

Tư pháp quốc tế là một lĩnh vực pháp luật có hệ thống chủ thể riêng của mình bao gồm thể nhân, pháp nhân và quốc gia. Trong đó, quốc gia được xác định là chủ thể đặc biệt của Tư pháp quốc tế. Vấn đề là khi quốc gia tham gia vào các mối quan hệ này, quyền và nghĩa vụ chủ thể của quốc gia hay nói cách khác, quy chế pháp lý của quốc gia được xác định như thế nào. Đối với Việt Nam, khi mà Tư pháp quốc tế chưa phát triển cả về lý luận lẫn thực tiễn, thì việc tiếp tục nghiên cứu và phát triển cả về lý luận lẫn quy định của pháp luật về quyền miễn trừ của quốc gia khi tham gia vào quan hệ dân sự quốc tế có ý nghĩa rất quan trọng trong việc góp phần đưa Tư pháp quốc tế Việt Nam tiến gần hơn các chuẩn mực pháp lý chung của thế giới.

1. Nội dung quyền miễn trừ của quốc gia trong Tư pháp quốc tế

Nhìn chung, Tư pháp quốc tế (TPQT) phần lớn các quốc gia đều thừa nhận tư cách chủ thể đặc biệt của quốc gia khi tham gia vào mối quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Khi tham gia vào quan hệ TPQT, quốc gia được hưởng các quyền miễn trừ trong đó quan trọng nhất là quyền miễn trừ tư pháp và miễn trừ đối với tài sản của quốc gia, gọi chung là quyền miễn trừ của quốc gia. Quyền miễn trừ của quốc gia trong lĩnh vực quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được ghi nhận rải rác trong các điều ước quốc tế, điển hình nhất là Công ước Brussels về thống nhất các quy định về miễn trừ tàu thuyền nhà nước ngày 14/4/1926, Công ước Viên năm 1961 về quan hệ ngoại giao, Công ước Viên 1963 về quan hệ lãnh sự,… Đặc biệt, các nội dung này được quy định một cách cụ thể và tập trung tại Công ước của Liên hiệp quốc (LHQ) về quyền miễn trừ tài phán và miễn trừ tài sản của quốc gia. Các quyền này cũng được ghi nhận trong pháp luật của nhiều quốc gia.

Quyền miễn trừ của quốc gia trong TPQT gồm quyền miễn trừ tư pháp và quyền miễn trừ đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của quốc gia.

Quyền miễn trừ tư pháp

Miễn trừ xét xử tại bất cứ Tòa án nào. Nội dung quyền này thể hiện nếu không có sự đồng ý của quốc gia thì không có một tòa án nước ngoài nào có thẩm quyền thụ lý và giải quyết vụ kiện mà quốc gia là bị đơn (trong lĩnh vực dân sự). Các tranh chấp liên quan đến quốc gia phải được giải quyết bằng con đường thương lượng trực tiếp hoặc con đường ngoại giao, trừ khi quốc gia từ bỏ quyền này. Điều 5 và Điều 6 Công ước của LHQ về quyền miễn trừ tài phán và miễn trừ tài sản của quốc gia quy định: Quốc gia được hưởng quyền miễn trừ tài phán trước một tòa án nước ngoài theo những quy định của Công ước. Các quốc gia có nghĩa vụ đảm bảo quyền miễn trừ tài phán và quyền miễn trừ tài sản của quốc gia khác, cụ thể là không thực thi quyền tài phán chống lại quốc gia khác trong một vụ kiện tại tòa án nước mình.

Continue reading

QUYỀN MIỄN TRỪ QUỐC GIA TRONG TƯ PHÁP QUỐC TẾ VIỆT NAM

THS. BÀNH QUỐC TUẤN – Khoa Kinh tế , ĐHQG TP. Hồ Chí Minh

Tư pháp quốc tế là một lĩnh vực pháp luật có hệ thống chủ thể riêng của mình bao gồm thể nhân, pháp nhân và quốc gia. Trong đó, quốc gia được xác định là chủ thể đặc biệt của Tư pháp quốc tế. Vấn đề là khi quốc gia tham gia vào các mối quan hệ này, quyền và nghĩa vụ chủ thể của quốc gia hay nói cách khác, quy chế pháp lý của quốc gia được xác định như thế nào. Đối với Việt Nam, khi mà Tư pháp quốc tế chưa phát triển cả về lý luận lẫn thực tiễn, thì việc tiếp tục nghiên cứu và phát triển cả về lý luận lẫn quy định của pháp luật về quyền miễn trừ của quốc gia khi tham gia vào quan hệ dân sự quốc tế có ý nghĩa rất quan trọng trong việc góp phần đưa Tư pháp quốc tế Việt Nam tiến gần hơn các chuẩn mực pháp lý chung của thế giới.

1. Nội dung quyền miễn trừ của quốc gia trong Tư pháp quốc tế

Nhìn chung, Tư pháp quốc tế (TPQT) phần lớn các quốc gia đều thừa nhận tư cách chủ thể đặc biệt của quốc gia khi tham gia vào mối quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Khi tham gia vào quan hệ TPQT, quốc gia được hưởng các quyền miễn trừ trong đó quan trọng nhất là quyền miễn trừ tư pháp và miễn trừ đối với tài sản của quốc gia, gọi chung là quyền miễn trừ của quốc gia. Quyền miễn trừ của quốc gia trong lĩnh vực quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được ghi nhận rải rác trong các điều ước quốc tế, điển hình nhất là Công ước Brussels về thống nhất các quy định về miễn trừ tàu thuyền nhà nước ngày 14/4/1926, Công ước Viên năm 1961 về quan hệ ngoại giao, Công ước Viên 1963 về quan hệ lãnh sự,… Đặc biệt, các nội dung này được quy định một cách cụ thể và tập trung tại Công ước của Liên hiệp quốc (LHQ) về quyền miễn trừ tài phán và miễn trừ tài sản của quốc gia. Các quyền này cũng được ghi nhận trong pháp luật của nhiều quốc gia.

Quyền miễn trừ của quốc gia trong TPQT gồm quyền miễn trừ tư pháp và quyền miễn trừ đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của quốc gia.

Quyền miễn trừ tư pháp

Miễn trừ xét xử tại bất cứ Tòa án nào. Nội dung quyền này thể hiện nếu không có sự đồng ý của quốc gia thì không có một tòa án nước ngoài nào có thẩm quyền thụ lý và giải quyết vụ kiện mà quốc gia là bị đơn (trong lĩnh vực dân sự). Các tranh chấp liên quan đến quốc gia phải được giải quyết bằng con đường thương lượng trực tiếp hoặc con đường ngoại giao, trừ khi quốc gia từ bỏ quyền này. Điều 5 và Điều 6 Công ước của LHQ về quyền miễn trừ tài phán và miễn trừ tài sản của quốc gia quy định: Quốc gia được hưởng quyền miễn trừ tài phán trước một tòa án nước ngoài theo những quy định của Công ước. Các quốc gia có nghĩa vụ đảm bảo quyền miễn trừ tài phán và quyền miễn trừ tài sản của quốc gia khác, cụ thể là không thực thi quyền tài phán chống lại quốc gia khác trong một vụ kiện tại tòa án nước mình.

Continue reading

NHỮNG RỦI RO TỪ VIỆC CẦM CỐ THẺ TIẾT KIỆM

LS. TRƯƠNG THANH ĐỨC

Việc cho vay trên cơ sở cầm cố bằng thẻ tiết kiệm không phải bao giờ cũng an toàn 100%. Tuy nhiên, nếu nhận diện sai rủi ro đối với biện pháp bảo đảm tiền vay này, thì sẽ tự chuốc thêm sự rắc rối không cần thiết và đánh mất những cơ hội kinh doanh an toàn, hiệu quả.

Những rủi ro có thể?

Tạp chí Ngân hàng số 21 tháng 11-2008 có đăng bài “Nhận cầm cố/thế chấp sổ tiết kiệm do ngân hàng phát hành phải chăng rất an toàn” của tác giả Đỗ Thế Mãi. Tác giả đã đưa ra hai tình huống rủi ro trong trường hợp ngân hàng cho vay và nhận tài sản bảo đảm là thẻ tiết kiệm do chính ngân hàng mình phát hành, đó là: Rủi ro về thứ tự ưu tiên thanh toán và Rủi ro về hợp đồng thế chấp vô hiệu.

Đối với loại Rủi ro về thứ tự ưu tiên thanh toán, tác giả cho rằng: “Ngân hàng nhận cầm cố/thế chấp sổ tiết kiệm do chính mình phát hành có thể không thu được đồng nào từ việc xử lý sổ tiết kiệm khi phải xử lý sổ tiết kiệm của khách hàng để thu nợ do không đăng ký giao dịch bảo đảm đối với hợp đồng cầm cố/thế chấp sổ tiết kiệm”.

Đối với loại Rủi ro về hợp đồng thế chấp vô hiệu, tác giả cho rằng: “Do nhận thức việc cầm cố/thế chấp sổ tiết kiệm là không có rủi ro, vì vậy một số ngân hàng ký kết một hợp đồng thế chấp sổ tiết kiệm để đảm bảo chung cho nhiều hợp đồng tín dụng khác nhau đã không thực hiện đăng ký giao dịch bảo đảm đối với hợp đồng thế chấp nói trên. Như vậy, đối chiếu với quy định của pháp luật giao dịch bảo đảm hiện hành, hợp đồng thế chấp trên đã bị vô hiệu. Dù hậu quả là như thế nào, ngân hàng có thu được nợ hay không thì việc ký một hợp đồng thế chấp mà hợp đồng đó lại vô hiệu là điều không ai muốn, và tất nhiên, lúc này rủi ro vẫn thuộc về ngân hàng”.

Ý kiến trên đã gây ra sự hoài nghi, lo lắng cho các ngân hàng. Liệu từ trước đến nay, tất cả các ngân hàng đều làm sai pháp luật và các hợp đồng bảo đảm bằng thẻ tiết kiệm sẽ bị vô hiệu?

Những rủi ro không có thật

Theo tôi, hoàn toàn không có hậu quả vô hiệu và rủi ro về bảo đảm tiền vay trong trường hợp nhận bảo đảm bằng thẻ tiết kiệm nói trên.

Continue reading

QUY ĐỊNH VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

(Ban hành kèm theo Quyết định số 35/2010/QĐ-UBND ngày 28 tháng 5 năm 2010 của Ủy ban nhân dân thành phố)

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

1. Quy định này quy định về bồi th­ường, hỗ trợ và tái định cư­ khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, mục đích phát triển kinh tế quy định tại Điều 36 (trừ điểm đ khoản 1 và điểm b khoản 2) Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai (gọi là Nghị định số 181/2004/NĐ-CP); khoản 3 Điều 2 Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27 tháng 01 năm 2006 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai và Nghị định số 187/2004/NĐ-CP về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần (gọi là Nghị định số 17/2006/NĐ-CP) và Điều 33, 34, 35, 38, 39, 40 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai (gọi là Nghị định số 84/2007/NĐ-CP).

2. Đối với các dự án sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA): Áp dụng theo quy định tại khoản 2 Điều 1 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất (gọi là Nghị định số 197/2004/NĐ-CP).

3. Các trường hợp không thuộc phạm vi áp dụng Quy định này:

a) Cộng đồng dân cư­ xây dựng, chỉnh trang các công trình phục vụ lợi ích chung của cộng đồng bằng nguồn vốn do nhân dân đóng góp hoặc Nhà nước hỗ trợ;

b) Khi Nhà nước thu hồi đất không thuộc phạm vi quy định tại khoản 1 Điều này.

Continue reading

THU HÚT FDI “SẠCH” CHO PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

PGS.TS. NGUYỄN THỊ LIÊN HOA – TRẦN PHƯƠNG HỒNG HẠNH VÀ BÙI ANH CHÍNH – Viện Nghiên cứu Phát triển TPHCM

Foreign Direct Investment (FDI) không phải là một khái niệm mới, nhưng trong xu hướng toàn cầu hóa hiện nay thì FDI không chỉ được xem xét ở khía cạnh tích cực mà còn ở khía cạnh tiêu cực. Một khái niệm cần phải được xem xét hiện nay là “FDI sạch” trong mối quan hệ đến sự phát triển bền vững nền kinh tế của một quốc gia.

Quan điểm về FDI “sạch”

FDI sạch cần thiết phải hướng đến sự tăng trưởng bền vững của nền kinh tế, cụ thể phải đáp ứng các yêu cầu:

· Lợi ích kinh tế: Nguồn vốn FDI một khi được tiến hành đầu tư thì phải đảm bảo lợi ích cho cả nước đầu tư và nước tiếp nhận đầu tư. Đối với nước đầu tư khi tiến hành đầu tư phải nhận được các lợi ích kinh tế như nguồn lao động và nguyên vật liệu rẻ hơn, tạo ra được lợi nhuận trong quá trình đầu tư. Đối với nước tiếp nhận đầu tư phải đảm bảo tăng trưởng kinh tế cao, ổn định và bền vững; phát triển sản xuất theo hướng thân thiện môi trường, công nghiệp hóa, phát triển nông nghiệp – nông thôn bền vững, phát triển công nghiệp sạch.

· Lợi ích xã hội: thực hiện đồng bộ các biện pháp nhằm các mục tiêu: tiến bộ và công bằng xã hội; xóa đói giảm nghèo; giải quyết việc làm, tăng thu nhập; nâng cao chất lượng giáo dục, nâng cao dân trí, trình độ nghề nghiệp, chăm sóc sức khỏe…

· Bảo vệ môi trường, xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường, phòng chống cháy và chặt phá rừng; khai thác tài nguyên bừa bãi.

Một dự án FDI bền vững được đánh giá đồng thời trên các khía cạnh sau:

· Nguồn vốn đầu tư phải là đầu tư kinh doanh và không nhằm mục đích trục lợi nào khác. Một số tổ chức lợi dụng danh nghĩa đầu tư dưới dạng FDI nhưng thực chất là để rửa tiền, hoặc một số khác có đầu tư kinh doanh nhưng với mục đích khai thác những nguồn tài nguyên thiên nhiên.

Continue reading

CHÍNH SÁCH NHÀ Ở CHO NGƯỜI DÂN CỦA SINGAPORE

THS. NGUYỄN VĂN QUANG – Viện Nghiên cứu Phát triển TPHCM

1. Ủy ban Nhà ở và phát triển Singapore (HDB), cơ quan chuyên lo nhà ở cho người dân Singapore:

Năm 1960, phần lớn người dân Singapore sống trong những điều kiện chật chội đông đúc, tiêu chuẩn vệ sinh kém và thậm chí không có đủ khả năng sở hữu nhà ở. Ủy ban nhà ở và phát triển Singapore (HDB) được Chính phủ giao nhiệm vụ đương đầu với thách thức đó, tiếp thu đất đai và biến những quy hoạch táo bạo thành hành động. Ủy ban nhà ở và phát triển Singapore (HDB) đã thiết kế và xây dựng nhà ở giá cả phải chăng có chất lượng trên toàn đảo quốc Singapore. Gần nửa thế kỷ qua, Ủy ban nhà ở và phát triển Singapore (HDB) đã cung cấp nhà ở cho người Singapore. Họ luôn đưa ra những chương trình và chính sách nhà ở đầy sáng kiến: họ không chỉ xây các nhà ở tập thể mà còn tạo nên những tổ ấm cho người dân; họ không chỉ xây lên các đô thị mà còn hình thành những cộng đồng cho người dân sống gắn bó với nhau. Đến nay, HDB đã cung cấp nhà ở cho hơn 80% dân số Singapore, với khoảng 900.000 căn hộ. HDB cũng đã giúp cho 9 trong số 10 người dân Singapore sở hữu ngôi nhà mà họ đang sống. Có thể nóiSingapore là nước duy nhất trên thế giới đạt được thành tựu là hầu như người dân Singapore ai cũng được sỡ hữu nhà ở.

2. Đô thị sôi động:

Ở Singapore, mỗi ngôi nhà và cộng đồng đều khởi đầu tư một trang giấy trắng từ đó triển khai dần những ý tưởng mới. Từ đó mỗi một khu đô thị đều có những nét độc đáo từ cảnh quan đường phố cho đến không gian bầu trời, tạo nên bản sắc riêng. Mỗi khu đô thị được quy hoạch đồng bộ, với các tiện nghi đáp ứng nhu cầu của từng cá nhân, dễ dàng tiếp cận để sử dụng. Các khu đô thị mới được nối với nhau bằng những hệ thống giao thông nối kết chặt chẽ. Cùng với thời gian, các quy hoạch và thiết kế cũng được cải tiến điều chỉnh phù hợp với ước muốn ngày càng tăng của người dân theo ý tưởng là ngày nay con người không chỉ đơn thuần muốn có một ngôi nhà để cư trú mà còn muốn một nơi nào đó mà họ có thể biến những ước mơ của mình trở thành sự thật. Từ ý tưởng đó HDB đảm bảo rằng khi các khu đô thị mới mọc lên, các khu đô thị cũ cũng không bị tụt lại phía sau, bằng cách họ cải tạo nâng cấp khu đô thị cũ đạt tiêu chuẩn của khu đô thị mới. HDB cũng đưa ra các chương trình tái định cư sang khu dân cư mới gần đó để những blốc nhà cũ được đập bỏ để xây lại ngay trên nền đất đó để tối ưu hóa việc sử dụng đất. Điều này không những góp phần tạo sinh lực mới cho các khu dân cư cũ mà còn giữ gìn những giềng mối cộng đồng mạnh mẽ hình thành sau nhiều năm.

Continue reading

VÌ SAO ÍT TRÍ THỨC VIỆT KIỀU VỀ NƯỚC LÀM VIỆC?

NGUYỄN QUỐC VỌNG – Đại học RMIT, Melbourne Vic 3001, Australia

Việt Nam có một lợi thế hơn hẳn so với các nước láng giềng là có khoảng gần 4 triệu người đang sinh sống khắp năm châu mà trong đó khoảng 300,000 người đã tốt nghiệp đại học và sau đại học. Trong số những trí thức Việt Nam này, có nhiều người là những nhà khoa học tên tuổi, chuyên gia đầu ngành hiện đang làm việc tại các đại học, viện nghiên cứu và công ty nổi tiếng ở Mỹ, Úc, Canada, Anh, Hà Lan, Nhật như các đại học Harvard, Standford, Yale, Tokyo, Sydney… các công ty Microsoft, Monsanto, Mitsubishi…

Tuy nhiên vì nền kinh tế Việt Nam được thoát thai từ chế độ bao cấp, doanh nghiệp tư nhân chưa phải là chủ lực, tính cạnh tranh trong thương mại chưa cao nên mối liên hệ giữa viện nghiên cứu, các trường đại học và doanh nghiệp chưa được quan tâm. Vai trò của trí thức, nhất là ở đại học và viện nghiên cứu rất mờ nhạt. Chính vì vậy “kho tàng kiến thức” của những nhà khoa học tên tuổi, những chuyên gia đầu ngành Việt kiều ở nước ngoài không được thực sự quan tâm (thậm chí hầu như bị lãng quên).
Có thể khẳng định, nếu có sự hợp tác về giảng dạy, đào tạo và nghiên cứu của trí thức Việt kiều, dưới bất cứ hình thức nào, cũng sẽ rất có lợi cho công cuộc hiện đại hóa, công nghiệp hoá đất nước.

Nhưng tại sao cho đến nay vẫn có rất ít trí thức Việt kiều trở về nước phục vụ? Qua thực tiễn 2 năm trở về nước được làm việc, tôi thấy có những nguyên nhân chính sau đây:
► Việt Nam chưa thực sự thấy được mối quan hệ hữu cơ giữa khoa học kỹ thuật và phát triển kinh tế, nên một số chính sách và cơ chế để thu hút trí thức không được nghiêm chỉnh thực hiện. Một khi trí thức trong nước chưa được sử dụng đúng mức thì việc trở về của trí thức Việt kiều sẽ không bao giờ xảy ra vì họ đang được làm việc trong điều kiện tốt nhất của nước sở tại;
► Chưa làm tốt việc cung cấp thông tin về những vấn đề nhạy cảm (ví dụ như biên giới biển đảo, Hoàng Sa Trường Sa, quặng mỏ bauxit Tây Nguyên…) nên trí thức Việt kiều không thấy được Việt Nam đã có sự thay đổi, tiến bộ về mặt dân chủ, phản biện, tự do tôn giáo, từ đó đâm ra hoang mang, lo sợ… không muốn trở về nước;

Continue reading

KINH NGHIỆM QUẢN LÝ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM CỦA LIÊN MINH CHÂU ÂU VÀ BÀI HỌC ĐỐI VỚI VIỆT NAM

ĐỖ MAI THÀNH

Vệ sinh an toàn thực phẩm là một trong những vấn đề được quan tâm ngày càng sâu sắc trên phạm vi mỗi quốc gia và quốc tế bởi sự liên quan trực tiếp của nó đến sức khỏe và tính mạng con người, sự duy trì và phát triển nòi giống, cũng như quá trình phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế. Những vụ vi phạm nghiêm trọng gần đây ở trong nước và trên thế giới càng hối thúc các nhà hoạch định chính sách phải mạnh tay hơn nữa. Kinh nghiệm của Liên minh châu Âu (EU) là bài học có giá trị đối với Việt Nam.

1- Kinh nghiệm quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP) của EU

Hệ thống quy định và tiêu chuẩn đối với sản phẩm của EU rất phức tạp và nghiêm ngặt, đặc biệt đối với thực phẩm như thịt, cá, hoa quả. Có thể nói hiện nay hệ thống tiêu chuẩn và quy định của EU so với nhiều nước trên thế giới là hoàn chỉnh hơn cả, điều này thể hiện trong thực tế là nhu cầu của người tiêu dùng ở EU về những sản phẩm sạch và an toàn rất cao. Một số tiêu chuẩn bảo đảm VSATTP của EU bao gồm:

Hệ thống quy định HACCP (viết tắt của chữ Hazard Analysis and Critical Control Point System), nghĩa là “Hệ thống phân tích mối nguy và kiểm soát điểm tới hạn” hay “ Hệ thống phân tích, xác định và tổ chức kiểm soát các mối nguy trọng yếu trong quá trình sản xuất và chế biến thực phẩm”. HACCP là sự tiếp cận có tính khoa học, hợp lý và hệ thống để nhận biết, xác định và kiểm soát mối nguy trong chế tạo, gia công, sản xuất, chuẩn bị và sử dụng thực phẩm nhằm bảo đảm thực phẩm là an toàn khi tiêu dùng. Ví dụ, việc áp dụng hệ thống HACCP trong dây chuyền thực phẩm sẽ bắt đầu từ nông trường và kết thúc bằng việc chuẩn bị thực phẩm riêng biệt hoặc ở khách sạn hoặc ở nhà.

Quy định HACCP được đặc biệt coi trọng đối với các nhà xuất khẩu ở các nước đang phát triển khi xuất khẩu vào thị trường EU, bởi nếu không thực hiện quy định HACCP sẽ không thể xuất được hàng của mình sang thị trường này. Chẳng hạn, trong ngành thủy sản các nhà sản xuất buộc phải tuân thủ chỉ thị 91/492/EEC (ngụ ý họ phải thực hiện hệ thống HACCP) để được phép xuất khẩu thủy sản vào EU. Một viện kiểm tra được điều hành bởi Ủy ban châu Âu sẽ tiến hành thanh tra các công ty chế biến cá, chỉ khi qua được khâu kiểm tra này thì các công ty mới chính thức được công nhận và có tên trong “danh sách giới hạn” để được phép nhập khẩu.

Continue reading

THỰC TIỄN ĐÒI HỎI SỰ BẢO ĐẢM CAO HƠN ĐỐI VỚI DỰ LUẬT ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM

LS. TRƯƠNG THANH ĐỨC – Chủ tịch Công ty Luật BASICO

1. Đi tìm ý nghĩa, tác dụng thực tế của Luật Đăng ký giao dịch bảo đảm

Trước hết, tôi xin được chia sẻ với Ban soạn thảo và Tổ biên tập Dự thảo Luật Đăng ký giao dịch bảo đảm về những vướng mắc phát sinh khi mục đích đề ra của dự thảo Luật là tạo ra bước đột phá để giải quyết tình trạng phân tán, manh mún, bất hợp lý về đăng ký giao dịch bảo đảm được quy định trong một số văn bản hiện hành như: Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Hàng không dân dụng, Bộ luật Hàng hải,…

Một điểm mấu chốt mà Luật này cần phải khắc phục, đó là pháp luật hiện hành chưa phân định rõ về giá trị pháp lý của giao dịch bảo đảm và giá trị pháp lý của đăng ký giao dịch bảo đảm. Theo tôi, dự thảo Luật cần khẳng định theo một hướng duy nhất, đã được quy định tại khoản 3 Điều 323 của Bộ luật Dân sự: “Trường hợp giao dịch bảo đảm được đăng ký theo quy định của pháp luật thì giao dịch bảo đảm đó có giá trị pháp lý đối với người thứ ba, kể từ thời điểm đăng ký”. Xét về bản chất, nếu giao dịch bảo đảm đã xuất phát từ sự tự nguyện của các bên tham gia, các nội dung thỏa thuận không trái với quy định của pháp luật thì phải có hiệu lực ngay với các bên tham gia giao dịch. Việc đăng ký giao dịch bảo đảm chỉ có giá trị đối kháng với người thứ 3, chứ không phải là quyết định giá trị hiệu lực của giao dịch bảo đảm như quy định hiện nay đối với với các trường hợp bắt buộc phải đăng ký giao dịch bảo đảm.

Để giải quyết vấn đề này, Luật Đăng ký giao dịch bảo đảm nên quy định thống nhất, tập trung những nội dung đang còn bất hợp lý trong các quy định của pháp luật chuyên ngành, chứ không nên chỉ quy định đơn thuần về mặt thủ tục và hình thức đăng ký giao dịch bảo đảm.

2. Cần tập trung về một đầu mối đăng ký giao dịch bảo đảm

Dự thảo Luật Đăng ký giao dịch bảo đảm cần tập trung hoạt động đăng ký giao dịch bảo đảm vào một đầu mối đăng ký và đề cao vai trò của Cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm quốc gia. Về quy định, thì Cục Đăng ký Quốc gia Giao dịch bảo đảm có vai trò rất quan trọng trong việc giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp thống nhất quản lý nhà nước về đăng ký giao dịch bảo đảm trong phạm vi toàn quốc. Tuy nhiên, trên thực tế, mới chỉ xây dựng thể chế, pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm và đảm nhận quản lý việc đăng ký giao dịch bảo đảm đối với động sản của các Trung tâm Đăng ký. Trong khi đó, giao dịch bảo đảm bằng bất động sản và tàu thuỷ, tàu bay có vị trí quan trọng, chiếm phần lớn trị giá của giao dịch bảo đảm, nhưng lại đang do các cơ quan chuyên ngành (Tài nguyên và Môi trường, Hàng không, Hàng hải) trực tiếp đảm nhận nhiệm vụ đăng ký. Do đó, Luật Đăng ký giao dịch bảo đảm chỉ thật sự cần thiết, có ý nghĩa và đáp ứng được đòi hỏi thực tế khi có đầy đủ các quy phạm pháp luật nhằm thống nhất về một đầu mối đăng ký giao dịch bảo đảm.

Continue reading

DẪN NHẬP VỀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG MANG TÍNH XàHỘI

image GS.TS. NGUYỄN VÂN NAM

1. Vài nét về kinh tế thị trường mang tính xã hội

Trong hoàn cảnh đất nước bị tàn phá hoàn toàn trong chiến tranh và cho đến năm 1948 trở thành một trong những nước nghèo nhất thế giới, CHLB Đức (Tây Ðức) buộc phải tìm bằng được một chiến lược kinh tế thích hợp, giúp nó thoát khỏi đói nghèo và nhục nhã. Cuộc tranh luận công khai, không khoan nhượng, để tìm kiếm mô hình kinh tế thích hợp đã nổ ra khắp nơi và thu hút sự tham gia rộng rãi của mọi tầng lớp nhân dân. Một mô hình KT thích hợp phải là mô hình động viên được sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội và bảo đảm được môi trường ổn định cho phát triển. Các mô hình Kinh tế kế hoạch chỉ huy, Kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa và KTTT mang tính xã hội đã được đem ra mổ xẻ, phân tích kỹ lưỡng.

Nhờ nền Kinh tế thị trường mang tính Xã hội (KTTTMTXH), Cộng Hòa Liên Bang Ðức đã vươn lên trở thành cường quốc xuất khẩu lớn nhất thế giới, với nền kinh tế mạnh thứ ba trên thế giới (sau Mỹ và Nhật) chỉ trong vòng 20 năm. Ðức cũng là cường quốc KTTTMTXH đứng đầu thế giới. Nếu chúng ta để ý rằng, nền kinh tế thị trường tự do thuần túy chỉ có ở Hoa kỳ và Canada (mà hiện nay thực tế cũng đã bắt đầu chuyển hướng sang KTTTMTXH), trong khi tất cả các nước công nghiệp phát triển khác đều thực hiện KTTTMTXH, thì mới có thể hiểu được tầm quan trọng đặc biệt của mô hình này.

Ý tưởng về KTTTMTXH ra đời từ những năm 30, khi người ta càng ngày càng nhận rõ rằng, chủ nghĩa tư bản hoang dại không thể có tương lai, nếu nó không tự cải tổ để mang nhiều tính xã hội hơn nữa.KTTTMTXH là một nền kinh tế tự do hoạt động theo các qui luật của thị trường, nhà nước chỉ đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm phân chia công bằng sản phẩm xã hội, sao cho kinh tế và xã hội trở thành một tổng thể không thể tách rời phục vụ con người tự do. Ở đây, xin nói thêm là, mô hình KTTTMTXH đang có những thay đổi cơ bản dưới tác động của quá trình Toàn cầu hóa và nhất là do sự trưởng thành của ý thức công dân. Vai trò của nhà nước ngày càng giảm. Không phải vì nhà nước bất lực, mà vì người dân càng có điều kiện trực tiếp tham gia vào hoạt động kinh tế, vào qúa trình hình thành những quyết định về chính sách xã hội hơn. Và vì vậy, cơ cấu phân chia sản phẩm xã hội cũng đang thay đổi một cách cơ bản.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 2258/LĐTBXH-LĐTL NGÀY 07 THÁNG 07 NĂM 2010 CỦA BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI VỀ HƯỚNG DẪN GIẢI QUYẾT CHẾ ĐỘ THÔI VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG

Kính gửi:

Viện Chiến lược và Chính sách Y tế
(138 Giảng Võ, Hà Nội)

Trả lời công văn số 165/CV-CL&CSYT ngày 25/5/2010 của quý Viện về việc hướng dẫn giải quyết chế độ trợ cấp thôi việc cho người lao động, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:

1. Theo quy định tại Điều 5 Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính phủ về thực hiện chế độ hợp đồng một số loại công việc trong cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp thì các công việc quy định tại Điều 1 của Nghị định số 68/2000/NĐ-CP được thực hiện thông qua ký kết hợp đồng giữa cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp với cá nhân trực tiếp làm dưới dạng hợp đồng dịch vụ, hợp đồng lao động, hợp đồng kinh tế và các hợp đồng khác theo quy định của pháp luật, theo quy định tại khoản 2, mục II Thông tư số 15/2001/TT-BTCCBCP ngày 11/4/2001 của Ban Tổ chức – Cán bộ Chính phủ hướng dẫn thực hiện Nghị định số 68/2000/NĐ-CP nêu trên thì việc ký kết, thực hiện, thay đổi, chấm dứt, thanh lý và giải quyết tranh chấp giữa các bên tuân theo các quy định hiện hành của pháp luật về hợp đồng kinh tế, hợp đồng lao động, hợp đồng dịch vụ.

Vì vậy, trường hợp người lao động của quý Viện thuộc đối tượng điều chỉnh của Nghị định số 68/2000/NĐ-CP nêu trên có ký kết hợp đồng lao động thì khi chấm dứt hợp đồng lao động phải tuân thủ các quy định của Bộ luật Lao động về hợp đồng lao động.

2. Bộ luật Lao động có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 1995, theo đó từ ngày Bộ luật Lao động có hiệu lực thi hành, không còn chế độ chuyển công tác đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động từ doanh nghiệp này sang doanh nghiệp khác. Khi người lao động thôi việc ở cơ quan, đơn vị thì thực hiện chấm dứt hợp đồng lao động, sau đó chuyển sang doanh nghiệp khác làm việc thì thực hiện giao kết hợp đồng lao động mới.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 2253/LĐTBXH-LĐTL NGÀY 07 THÁNG 07 NĂM 2010 CỦA BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI VỀ CHẾ ĐỘ TRỢ CẤP THÔI VIỆC

Kính gửi:

Công ty Cổ phần In Diên Hồng
(Địa chỉ: 187D, Giảng Võ, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội)

Trả lời Công văn số 97/CV-DH ngày 20/6/2010 của quý Công ty về việc chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:

1. Bộ luật Lao động có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 1995, theo đó từ ngày Bộ luật Lao động có hiệu lực thi hành, không còn chế độ chuyển công tác đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động từ doanh nghiệp này sang doanh nghiệp khác. Khi người lao động thôi việc ở cơ quan, đơn vị thì thực hiện chấm dứt hợp đồng lao động, sau đó chuyển sang doanh nghiệp khác làm việc thì thực hiện giao kết hợp đồng lao động mới.

2. Theo quy định tại điểm c, khoản 3, Điều 14 Nghị định số 44/2003/NĐ-CP ngày 09/5/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về hợp đồng lao động và hướng dẫn tại Thông tư số 21/2003/TT-BLĐTBXH ngày 22/9/2003 đã được sửa đổi, bổ sung tại Thông tư số 17/2009/TT-BLĐTBXH ngày 26/5/2009 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội chỉ quy định đối với trường hợp người lao động làm việc ở nhiều công ty nhà nước chuyển công tác trước ngày 01/01/1995, trợ cấp thôi việc được tính theo thời gian làm việc ở từng doanh nghiệp, công ty nhà nước cuối cùng có trách nhiệm chi trả toàn bộ số tiền trợ cấp thôi việc cho người lao động, kể cả phn trợ cấp thôi việc thuộc trách nhiệm chi trả của công ty nhà nước mà người lao động đã làm việc trước khi chuyển công tác trước ngày 01/01/1995, sau đó gửi thông báo để yêu cầu hoàn trả số tiền đã được chi trả hộ.

Như vậy, trường hợp Bà Phan Thị Như làm việc ở Công ty In Nghệ An đến tháng 01/2005 chuyển về làm việc tại Công ty Cổ phần In Diên Hồng từ tháng 02/2005 (sau ngày 01/01/1995), không thuộc đối tượng vận dụng quy định nêu trên. Việc thanh toán tiền trợ cấp thôi việc cho bà Như khi chấm dứt hợp đồng lao động với Công ty In Nghệ An là trách nhiệm của Công ty In Nghệ An. Theo trình bày của Công ty tại công văn số 97/CV-DH nói trên thì Công ty đã trả hộ khoản trợ cấp thôi việc cho thời gian bà Như làm việc tại Công ty In Nghệ An, vì vậy, đề nghị Công ty làm việc cụ thể với Công ty In Nghệ An và bà Như để giải quyết.

Continue reading