ÔNG CHỦ VÀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN CỦA DOANH NGHIỆP

LS. TRƯƠNG THANH ĐỨC – Chủ tịch Công ty Luật BASICO

Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp (DN) được ví như “cây nêu” của DN để bàn dân thiên hạ trông vào. Vì vậy, người đại diện theo pháp luật của DN được pháp luật quan tâm tương đối kỹ càng, cụ thể.

Ai là người đại diện theo pháp luật của DN?

Người đại diện theo pháp luật của DN là người bị pháp luật “túm tóc”, giao phó những trách nhiệm cá nhân từ loại nhỏ nhất cho đến loại lớn nhất của DN.

Theo quy định tại Điều 141 của Bộ luật Dân sự (năm 2005), thì người đại diện của DN là người đứng đầu pháp nhân (tức là “thủ trưởng” của DN). Người đại diện theo pháp luật của DN phải được ghi nhận trong Điều lệ, đồng thời phải được ghi nhận trên Giấy chứng nhận ĐKKD của DN. Người đại diện theo pháp luật của DN có thể là Chủ tịch hoặc Giám đốc hay Tổng Giám đốc – Sau đây gọi chung là Giám đốc – (các điều 46, 67, 95 và 116, Luật DN năm 2005), cụ thể với từng loại DN là những người dưới đây:

– Đối với công ty TNHH 1 thành viên, là Chủ tịch HĐTV hay Chủ tịch Công ty hoặc Giám đốc;

– Đối với công ty TNHH 2 thành viên trở lên, là Chủ tịch HĐTV hoặc Giám đốc. Nếu Chủ tịch HĐTV là người đại diện theo pháp luật, thì các giấy tờ giao dịch phải ghi rõ điều đó (khoản 4, Điều 49, Luật DN). Đối với công ty TNHH chỉ có 2 thành viên, nếu có thành viên là cá nhân làm người đại diện theo pháp luật của công ty bị tạm giữ, tạm giam, trốn khỏi nơi cư trú, bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị Tòa án tước quyền hành nghề vì phạm các tội buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép, trốn thuế, lừa dối khách hàng và các tội khác theo quy định của pháp luật, thì thành viên còn lại đương nhiên làm người đại diện theo pháp luật của công ty cho đến khi có quyết định mới của HĐTV (khoản 2, Điều 12, Nghị định số 139/2007/NĐ-CP ngày 05-9-2007 của Chính phủ Hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật DN);

– Đối với công ty cổ phần, là Chủ tịch HĐQT hoặc Giám đốc. Riêng khoản 3, Điều 9, Quy định về tổ chức và hoạt động của HĐQT, Ban kiếm soát, Tổng giám đốc ngân hàng TMCP, ban hành kèm theo Quyết định số 1087/2001/QĐ-NHNN ngày 27-8-2001 của Thống đốc NHNN lại chốt cứng khác với luật là: “Chủ tịch HĐQT là người đại diện theo pháp luật của Ngân hàng TMCP và được ghi trong Điều lệ Ngân hàng TMCP”;

Continue reading

VAI TRÒ VÀ MỤC ĐÍCH CỦA LUẬT ĐẦU TƯ

NGUYỄN NGỌC BÍCH

Xét theo cội nguồn thì Luật Đầu tư là con đường được đắp ra để thu hút nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam năm 1987. Nếu chúng ta coi nó như thế thì Luật Đầu tư đầu tiên đã đặt ra ba loại xe (hợp tác kinh doanh, liên doanh, 100% vốn nước ngoài) để chạy trên con đường đó; rồi làm ba việc:

(i) xem xét mục đích đem tiền vào của nhà đầu tư nước ngoài và tính chất ích quốc lợi dân của việc ấy; (ii) bảo hộ vốn liếng của họ khi bỏ vào Việt Nam và đem về sau này; và (iii) dành cho họ các ưu đãi nhất định. Phương tiện để làm ba việc kia là dự án đầu tư. Chính quyền chấp thuận dự án thì nhà đầu tư sẽ lập ra cỗ xe để đi kiếm tiền. Đó là đầu tư dự án hay là đầu tư trực tiếp.

Nhà đầu tư nước ngoài có xe, thì doanh nhân trong nước cũng phải có. Do vậy, có Luật Công ty năm 1990.

Nhà đầu tư nước ngoài được hưởng ưu đãi, còn doanh nhân trong nước thì không ư? Vậy có Luật Khuyến khích đầu tư trong nước năm 1994. Luật này chỉ làm công việc thứ ba của Luật Đầu tư thôi, nhưng nó cũng phải có phương tiện. Ấy là dự án đầu tư.

Đầu tư dự án buộc doanh nhân phải ngồi trong cỗ xe từ đầu cho đến khi giải thể. Tuy nhiên, có người nhiều tiền lại không muốn chôn chân, mà muốn lên hay xuống tùy tình trạng làm ra tiền của cỗ xe. Đó là đầu tư tài chính (foreign portfolio investment). Ta thuận miệng gọi đó là đầu tư gián tiếp. Bằng cách đầu tư tài chính, nhà đầu tư nước ngoài thoạt đầu mua của các doanh nghiệp trái phiếu chuyển đổi, sau đó mua chứng khoán của các công ty niêm yết và cổ phần của các công ty chưa niêm yết.

Luật Đầu tư được chỉnh sửa hai lần vào năm 1996 và 2000. Trong khi đó Luật Doanh nghiệp được mở rộng với bốn loại xe vào năm 2000 (công ty hợp danh, trách nhiệm hữu hạn một và hai thành viên cùng công ty cổ phần). Cùng với các sự thay đổi này, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Hải quan, Luật Đất đai cũng được sửa đổi nhằm tạo ra một sân chơi bình đẳng và các mức ưu đãi của Luật Đầu tư và Luật Khuyến khích được đưa chung vào. Trong khung cảnh ấy, Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp năm 2005 ra đời.

Continue reading

NHỮNG KHÁI NIỆM MỜ

TÙNG LAM

Khi ra đời, Luật đầu tư và Luật Doanh nghiệp được kỳ vọng sẽ tạo ra làn sóng đầu tư nước ngoài mới vào Việt Nam. Tuy nhiên, thực tế thi hành Luật Đầu tư đã không như kỳ vọng và cho thấy nhiều khiếm khuyết cần suy nghĩ.

Luật Đầu tư được xây dựng trên một số khái niệm cơ bản, trong đó, có hai khái niệm quan trọng nhất là nhà đầu tư (NĐT) và dự án đầu tư. Nhưng hai khái niệm này không được luật xác định rõ ràng.

Nhà đầu tư là ai?

Luật Đầu tư định nghĩa NĐT là tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam, nghĩa là gồm cả NĐT trong nước và NĐT nước ngoài. Tuy nhiên, do Luật Đầu tư và văn bản hướng dẫn thi hành cùng một lúc sử dụng tiêu chí kép để xác định NĐT (gồm quốc tịch và nguồn vốn của NĐT), do đó, rất khó để xác định thế nào là NĐT trong nước hoặc NĐT nước ngoài, hoặc Việt kiều là NĐT trong nước hay nước ngoài (1) .

Từ đây, phát sinh hàng loạt hệ lụy pháp lý về tư cách của các doanh nghiệp do NĐT nước ngoài đầu tư tại Việt Nam. Doanh nghiệp do NĐT nước ngoài đầu tư sẽ được coi là doanh nghiệp trong nước hay doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài? Được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (GCNĐKKD) hay giấy chứng nhận đầu tư (GCNĐT)? Khi nào thì bị coi là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: khi bên nước ngoài chỉ nắm 1% vốn hay phải từ 49% hoặc 51% trở lên? Doanh nghiệp trong nước có phải đổi GCNĐKKD thành GCNĐT khi có vốn nước ngoài hay vẫn tồn tại song song cả hai loại giấy này?…

Thậm chí có sự nhầm lẫn trong tư cách của NĐT trong các biểu mẫu hồ sơ áp dụng cho đầu tư nước ngoài theo Quyết định 1088/2006/QĐ-BKH. Trong các mẫu đơn này, người ký đơn là NĐT. Yêu cầu NĐT ký tên trong các hồ sơ là trái với các quy định trong Luật Doanh nghiệp và nguyên tắc quản lý hành chính.

Theo Luật Doanh nghiệp, người ký đơn là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, chứ không phải là cổ đông, thành viên của doanh nghiệp (tức là NĐT). Về mặt pháp lý, NĐT và doanh nghiệp là hai thực thể pháp lý khác nhau, NĐT không thể đương nhiên đại diện cho doanh nghiệp trước cơ quan nhà nước Việt Nam.

Continue reading

TRANH CHẤP VỀ HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN: HẾT TÌNH, ĐÒI LẠI TIỀN…

H. ANH

Vụ án hy hữu này vừa được tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TP.HCM đưa ra xét xử vào ngày 6/7. Dù biết rành rành số tiền kia là nguyên đơn hoàn toàn "tự nguyện" cho bị đơn trong thời gian "mặn nồng" nhưng do phía nguyên đơn cung cấp được các giấy tờ chứng minh đã chuyển tiền về cho bị đơn nên tòa án vẫn phải tuyên người này thắng kiện.

Theo đơn khởi kiện của ông Trương K. (52 tuổi, Việt kiều Mỹ), do có mối quan hệ thân tình nên ông đã thỏa thuận miệng cho bà Tr.Th.T. (31 tuổi, ngụ Bình Thuận) mượn tiền không có lãi để mua đất, xây nhà tại thị trấn Liên Hương, huyện Tuy Phong (Bình Thuận). Theo đó, từ ngày 12/3/2008 đến 30/3/2009, ông K. đã 15 lần chuyển tiền về cho bà T. qua hệ thống ngân hàng do Công ty Kiều hối Đ.A. chuyển giao với tổng số tiền 30.100 USD.

Sau khi mua đất cất nhà, tháng 12/2008, bà T. đã giao giấy chứng nhận quyền sử dụng nhà và đất mang tên bà T. cho ông K. để làm tin. Bà T. cam kết đến cuối tháng 5/2009 sẽ thanh toán. Tuy nhiên, khi đến hạn, bà T. không trả tiền mà còn không thừa nhận nợ. Vì vậy, ông khởi kiện yêu cầu bà T. phải trả số tiền đã mượn cộng thêm lãi suất từ tháng 5/2009.

Tuy nhiên, bà T. lại trình bày: Bà và ông K. có quan hệ tình cảm với nhau từ năm 2006. Tiền ông K. gửi về là do ông này tự nguyện thỏa thuận miệng tặng trên cơ sở tình cảm. Đến tháng 5/2009, do hai bên không còn quan hệ tình cảm nên ông K. kiện đòi tiền. Vì vậy, bà không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông K. Thụ lý vụ án, TAND tỉnh Bình Thuận đã nhiều lần hòa giải nhưng không thành.

Dù biết lời khai của bà T. là sự thật (quan hệ với ông K. tình cảm, ông K. tự nguyện cho tiền), tuy nhiên do việc giao nhận tiền được thực hiện qua hệ thống dịch vụ ngân hàng (được nơi này ghi lại), thể hiện bà T. 15 lần đến ngân hàng ký nhận tiền từ tài khoản ông K. gửi về với tổng số tiền 30.100 USD, vì vậy xử sơ thẩm, TAND tỉnh Bình Thuận cho rằng, đủ cơ sở để xác định nguyên, bị đơn đã xác lập giao dịch dân sự trên cơ sở thỏa thuận miệng và bị đơn đã nhận số tiền do nguyên đơn chuyển từ nước ngoài về.

Continue reading

BÀN VỀ KHÁI NIỆM GIAO DỊCH BẢO ĐẢM THEO QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM – NHÌN TỪ GIÁC ĐỘ ĐỐI TƯỢNG CỦA HOẠT ĐỘNG ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM

NGUYỄN QUANG HƯƠNG TRÀ – Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm

Có thể nói, vấn đề mà người có quyền trong các giao dịch dân sự quan tâm chính là khả năng thực hiện nghĩa vụ dân sự của người có nghĩa vụ. Do đó, các quy định về biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự ra đời trước hết là nhằm hướng đến mục tiêu bảo vệ bên có quyền trong sự ổn định và hài hoà các quan hệ dân sự. Ngoài ra, trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng, vấn đề bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự còn có sự tác động trực tiếp, mạnh mẽ tới quyết định cấp tín dụng của các tổ chức tín dụng.

Điều này chứng tỏ, giao dịch bảo đảm ngoài vai trò bảo vệ bên có quyền còn giữ một vai trò quan trọng khác đối với đời sống kinh tế – xã hội của các quốc gia, đó là tăng cường đầu tư trong dân doanh thông qua việc mở rộng cơ hội tiếp cận tín dụng.

Thực tiễn cho thấy, một trong những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định cấp tín dụng của các tổ chức tín dụng đó chính là thông tin về tình trạng pháp lý của tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Bởi lẽ, việc nắm bắt các thông tin này sẽ giúp ích rất nhiều cho quá trình phân tích, đánh giá mức độ rủi ro của các giao dịch bảo đảm mà tổ chức tín dụng dự định thiết lập, làm cơ sở cho việc đưa ra các quyết định tài trợ vốn đúng đắn. Điều này minh chứng rằng, tiếp cận và sử dụng thông tin về tình trạng pháp lý của tài sản là nhu cầu mang tính tất yếu của các nhà đầu tư trong môi trường kinh doanh của nền tài chính hiện đại. Vấn đề đặt ra ở đây là, cơ chế nào hữu hiệu cho việc công khai và minh bạch hoá thông tin về tình trạng pháp lý của tài sản đang được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự.

Trên thế giới hiện nay, có thể khẳng định rằng, cơ chế công khai hoá thông tin về tài sản bảo đảm được xem là phổ biến với tư cách là sản phẩm của nền tài chính hiện đại đó chính là đăng ký giao dịch bảo đảm. Hiển nhiên, việc đăng ký giao dịch bảo đảm (mà nhiều nước gọi là đăng ký các quyền lợi bảo đảm) chỉ thực sự mang lại ý nghĩa và tác dụng tích cực đối với hoạt động cấp tín dụng khi pháp luật thiết lập một khuôn khổ, trật tự hay nói theo một cách khác là cơ chế xác định thứ tự ưu tiên (trong đó bao gồm cả thứ tự ưu tiên thanh toán) khi xử lý tài sản bảo đảm; và một phạm vi thông tin về tình trạng pháp lý của tài sản đang được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự được công khai hoá, phục vụ trực tiếp cho việc đánh giá mức độ rủi ro của các quyết định tài trợ. Thực tế cho thấy, cả hai vấn đề quan trọng này trong nhiều trường hợp lại phụ thuộc rất nhiều vào cách tiếp cận của pháp luật về giao dịch bảo đảm.

Continue reading

NHỮNG BẤT CẬP TRONG THỰC THI LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

DƯƠNG VĂN THỊNH – Viện KSND huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên

Sau 1 năm đi vào cuộc sống Luật thi hành án dân sự năm 2009 (Luật THADS năm 2009) đã góp phần không nhỏ trong công tác thi hành án dân sự. Tuy nhiên, từ thực tiễn của công tác này đã nảy sinh những bất cập cần có văn bản hướng dẫn cụ thể.

Kéo dài thời gian, chậm thi hành vì thiếu hướng dẫn

Điều 38 Luật THADS năm 2009 quy định: các quyết định về thi hành án phải được gửi cho Viện kiểm sát (VKS) cùng cấp để thực hiện việc kiểm sát. Tuy nhiên, điều luật lại không quy định rõ trong thời hạn bao nhiêu ngày, kể từ khi ra các quyết định về thi hành án thì cơ quan thi hành án (Cục; Chi cục Thi hành án) phải gửi các quyết định đó cho VKS. Do vậy, có trường hợp sau một thời gian dài kể từ khi ra quyết định (hoặc đến khi giao được quyết định cho đương sự) thì cơ quan thi hành án mới gửi quyết định cho VKS để thụ lý và kiểm sát việc thi hành. Từ đó dẫn tới việc cập nhật của VKS không kịp thời, số liệu thống kê giữa các ngành không được chính xác (ví dụ ra quyết định tháng 10 nhưng đến tháng 12 mới gửi cho VKS do đó VKS phải báo cáo vào số liệu tháng 12 – thuộc năm thống kê khác). Hơn nữa, việc không quy định rõ thời gian gửi các quyết định dẫn đến tình trạng VKS cũng không có căn cứ để kiến nghị hoặc kháng nghị các quyết định về thi hành án của cơ quan thi hành án.

Ngoài ra, tại các Điều 30, 31 Luật THADS năm 2009, quy định về việc thi hành án theo đơn của người được thi hành án (hoặc người phải thi hành án) thì phải làm đơn yêu cầu cơ quan có thẩm quyền ra quyết định thi hành, đồng thời phải cung cấp thông tin về tài sản của người phải thi hành án cho cơ quan thi hành án. Tuy nhiên, do hiện nay chưa có mẫu đơn áp dụng thống nhất, nên mỗi nơi có một loại mẫu đơn khác nhau, hoặc người có yêu cầu tự viết tay và nộp cho cơ quan thi hành án. Trong cả 2 trường hợp này, việc hướng dẫn người được thi hành án viết đơn mất rất nhiều thời gian do điền không đúng, không đủ thông tin cần thiết hoặc không đạt yêu cầu về pháp lý. Do đó người được thi hành án phải làm đi làm lại nhiều lần, gây phiền hà, bức xúc dẫn đến khiếu kiện và hậu quả tất yếu là vụ việc chậm được xử lý, tồn đọng.

Continue reading

LUẬT TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI NĂM 2010 (LUẬT SỐ: 54/2010/QH12)

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;
Quốc hội ban hành Luật Trọng tài thương mại.

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Luật này quy định về thẩm quyền của Trọng tài thương mại, các hình thức trọng tài, tổ chức trọng tài, Trọng tài viên; trình tự, thủ tục trọng tài; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên trong tố tụng trọng tài; thẩm quyền của Tòa án đối với hoạt động trọng tài; tổ chức và hoạt động của Trọng tài nước ngoài tại Việt Nam, thi hành phán quyết trọng tài.

Điều 2. Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp của Trọng tài

1. Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại.

2. Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại.

3. Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài.

Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thoả thuận và được tiến hành theo quy định của Luật này.

2. Thoả thuận trọng tài là thoả thuận giữa các bên về việc giải quyết bằng Trọng tài tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh.

Continue reading

LUẬT NUÔI CON NUÔI NĂM 2010 (LUẬT SỐ: 52/2010/QH12)

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;
Quốc hội ban hành Luật nuôi con nuôi,

Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Luật này quy định nguyên tắc, điều kiện nuôi con nuôi; thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết việc nuôi con nuôi; quyền, nghĩa vụ của cha mẹ nuôi, con nuôi và cha mẹ đẻ; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong việc nuôi con nuôi.

Điều 2. Mục đích nuôi con nuôi

Việc nuôi con nuôi nhằm xác lập quan hệ cha, mẹ và con lâu dài, bền vững, vì lợi ích tốt nhất của người được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho con nuôi được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trong môi trường gia đình.

Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Luật này, những từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha, mẹ và con giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi.

2. Cha mẹ nuôi là người nhận con nuôi sau khi việc nuôi con nuôi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký.

3. Con nuôi là người được nhận làm con nuôi sau khi việc nuôi con nuôi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký.

4. Nuôi con nuôi trong nước là việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với nhau thường trú ở Việt Nam.

Continue reading

LUẬT BƯU CHÍNH NĂM 2010 (LUẬT SỐ: 49/2010/QH12)

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;
Quốc hội ban hành Luật bưu chính.

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Luật này quy định về hoạt động bưu chính; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong hoạt động bưu chính và quản lý nhà nước về hoạt động bưu chính.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Luật này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân thực hiện, tham gia thực hiện hoạt động bưu chính tại Việt Nam.

Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Hoạt động bưu chính gồm các hoạt động đầu tư, kinh doanh, cung ứng, sử dụng dịch vụ bưu chính, dịch vụ bưu chính công ích, tem bưu chính.

2. Bưu gửi bao gồm thư, gói, kiện hàng hoá được chấp nhận, vận chuyển và phát hợp pháp qua mạng bưu chính.

3. Dịch vụ bưu chính là dịch vụ chấp nhận, vận chuyển và phát bưu gửi bằng các phương thức từ địa điểm của người gửi đến địa điểm của người nhận qua mạng bưu chính, trừ phương thức điện tử.

4. Dịch vụ bưu chính công ích là dịch vụ bưu chính được cung ứng theo yêu cầu của Nhà nước, gồm dịch vụ bưu chính phổ cập, dịch vụ bưu chính phục vụ quốc phòng, an ninh và nhiệm vụ đặc thù khác.

Continue reading

LUẬT CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG NĂM 2010 (LUẬT SỐ: 47/2010/QH12)

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;
Quốc hội ban hành Luật các tổ chức tín dụng.

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh1

Luật này quy định về việc thành lập, tổ chức, hoạt động, kiểm soát đặc biệt, tổ chức lại, giải thể tổ chức tín dụng; việc thành lập, tổ chức, hoạt động của chi nhánh ngân hàng nước ngoài, văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Luật này áp dụng đối với các đối tượng sau đây:

1. Tổ chức tín dụng;

2. Chi nhánh ngân hàng nước ngoài;

3. Văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng;

4. Tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc thành lập, tổ chức, hoạt động, kiểm soát đặc biệt, tổ chức lại, giải thể tổ chức tín dụng; việc thành lập, tổ chức, hoạt động của chi nhánh ngân hàng nước ngoài, văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng.

Điều 3. Áp dụng Luật các tổ chức tín dụng, điều ước quốc tế, tập quán thương mại quốc tế và các luật có liên quan

1. Việc thành lập, tổ chức và hoạt động, kiểm soát đặc biệt, tổ chức lại, giải thể tổ chức tín dụng; việc thành lập, tổ chức và hoạt động của chi nhánh ngân hàng nước ngoài, văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng phải tuân theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

Continue reading

LUẬT NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM NĂM 2010 (LUẬT SỐ: 46/2010/QH12)

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;
Quốc hội ban hành Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Luật này quy định về tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Điều 2. Vị trí và chức năng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

1. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sau đây gọi là Ngân hàng Nhà nước) là cơ quan ngang bộ của Chính phủ, là Ngân hàng trung ương của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2. Ngân hàng Nhà nước là pháp nhân, có vốn pháp định thuộc sở hữu nhà nước, có trụ sở chính tại Thủ đô Hà Nội.

3. Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối (sau đây gọi là tiền tệ và ngân hàng); thực hiện chức năng của Ngân hàng trung ương về phát hành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng và cung ứng dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ.

Điều 3. Chính sách tiền tệ quốc gia và thẩm quyền quyết định chính sách tiền tệ quốc gia

1. Chính sách tiền tệ quốc gia là các quyết định về tiền tệ ở tầm quốc gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bao gồm quyết định mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát, quyết định sử dụng các công cụ và biện pháp để thực hiện mục tiêu đề ra.

Continue reading

LUẬT AN TOÀN THỰC PHẨM NĂM 2010 (LUẬT SỐ: 55/2010/QH12)

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;
Quốc hội ban hành Luật an toàn thực phẩm.

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Luật này quy định về quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong bảo đảm an toàn thực phẩm; điều kiện bảo đảm an toàn đối với thực phẩm, sản xuất, kinh doanh thực phẩm và nhập khẩu, xuất khẩu thực phẩm; quảng cáo, ghi nhãn thực phẩm; kiểm nghiệm thực phẩm; phân tích nguy cơ đối với an toàn thực phẩm; phòng ngừa, ngăn chặn và khắc phục sự cố về an toàn thực phẩm; thông tin, giáo dục, truyền thông về an toàn thực phẩm; trách nhiệm quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm.

Điều 2. Giải thích từ ngữ

Trong luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. An toàn thực phẩm là việc bảo đảm để thực phẩm không gây hại đến sức khỏe, tính mạng con người.

2. Bệnh truyền qua thực phẩm là bệnh do ăn, uống thực phẩm bị nhiễm tác nhân gây bệnh.

3. Chất hỗ trợ chế biến thực phẩm là chất được chủ định sử dụng trong quá trình chế biến nguyên liệu thực phẩm hay các thành phần của thực phẩm nhằm thực hiện mục đích công nghệ, có thể được tách ra hoặc còn lại trong thực phẩm.

4. Chế biến thực phẩm là quá trình xử lý thực phẩm đã qua sơ chế hoặc thực phẩm tươi sống theo phương pháp công nghiệp hoặc thủ công để tạo thành nguyên liệu thực phẩm hoặc sản phẩm thực phẩm.

Continue reading

LUẬT THUẾ SỬ DỤNG ĐẤT PHI NÔNG NGHIỆP NĂM 2010 (LUẬT SỐ 48/2010/QH12)

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;
Quốc hội ban hành Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp,

Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Luật này quy định về đối tượng chịu thuế, đối tượng không chịu thuế; người nộp thuế; căn cứ tính thuế; đăng ký, khai, tính và nộp thuế; miễn, giảm thuế sử dụng đất phi nông nghiệp.

Điều 2. Đối tượng chịu thuế

1. Đất ở tại nông thôn, đất ở tại đô thị.

2. Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp bao gồm: đất xây dựng khu công nghiệp; đất làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh; đất khai thác, chế biến khoáng sản; đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm.

3. Đất phi nông nghiệp quy định tại Điều 3 của Luật này sử dụng vào mục đích kinh doanh.

Điều 3. Đối tượng không chịu thuế

Đất phi nông nghiệp sử dụng không vào mục đích kinh doanh bao gồm:

1. Đất sử dụng vào mục đích công cộng bao gồm: đất giao thông, thủy lợi; đất xây dựng công trình văn hóa, y tế, giáo dục và đào tạo, thể dục thể thao phục vụ lợi ích công cộng; đất có di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh; đất xây dựng công trình công cộng khác theo quy định của Chính phủ;

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ KINH TẾ TRONG ĐẠI HỌC VÀ KHOA HỌC

NGUYỄN TIẾN DŨNG

Trong bài viết này, tôi muốn phân tích một vấn đề kinh tế tài chính liên quan đến  khoa học và giáo dục đại học, từ đó rút ra một số cải cách và chính sách nên thực hiện để giúp cho nền khoa học công nghệ và hệ thống đại học Việt Nam phát triển tốt hơn.

Muốn có nền kinh tế mạnh, cần có nền khoa học công nghệ mạnh

Nền kinh tế của thế giới ngày nay phát triển theo 3 xu hướng: toàn cầu hóa, môi trường hóa (bảo vệ môi trường và phát triển bền vững trở thành đề tài trọng tâm của thế kỷ 21), và hiểu biết hóa. Trong nền kinh tế này, vai trò của tri thức và khoa học công nghệ ngày càng quan trọng. Những nước có sức cạnh tranh lớn nhất cũng chính là những nước mạnh nhất về khoa học và công nghệ.
Nước Mỹ có nền khoa học mạnh nhất thế giới trong suốt thế kỷ qua, một phần lớn chính là vì họ trả lương cao và tạo điều kiện làm việc tốt để thu hút các nhà khoa học giỏi từ tất cả các nơi khác trên thế giới đến Mỹ. Tất nhiên, người Mỹ không dại gì trả lương cao cho các nhà khoa học, nếu như  điều này không làm lợi cho họ. Họ càng đầu tư nhiều cho khoa học, càng tạo điều kiện tốt cho các nhà khoa học, thì càng có lợi về kinh tế. Các nước khác, từ châu Âu, châu Á cho đến Nam Mỹ, cũng đã nhận thấy động lực này, và ngày nay đang cạnh tranh lại với Mỹ về lương và điều kiện làm việc cho khoa học để thu hút chất xám.
Để đuổi kịp thế giới, Việt Nam cũng phải tuân theo những qui luật trên. Tức là phải chú trọng phát triển khoa học công nghệ để lấy nó làm động lực thúc đẩy phát triển kinh tế. Muốn phát triển khoa học, phải đầu tư, tạo điều kiện làm việc tốt và trả lương xứng đáng cho khoa học. Muốn đạt tầm quốc tế về khoa học, thì phải đầu tư thích đáng, tạo một môi trường sống và làm việc tầm quốc tế cho khoa học.
Trong những năm vừa qua, Chính phủ Việt Nam đã có những cố gắng nhất định trong việc phát triển khoa học. Ví dụ như chương trình “322” cấp học bổng cho sinh viên đi học ở nước ngoài, việc thành lập “Quĩ nghiên cứu khoa học cơ bản”, và quyết định của Thủ tướng về việc thành lập trường Đại học quốc tế “Hanoi University of Sience and Technology”. Tuy nhiên, việc phát triển khoa học ở Việt Nam còn gặp nhiều vướng mắc lớn. Một trong những vướng mắc đó là vấn đề lương cho khoa học

Lương cho khoa học đang quá thấp

Hiện tại lương cho giới khoa học Việt Nam đang quá thấp. Hệ quả là khoa học kém phát triển, lãng phí tiềm năng, và các viện nghiên cứu cũng như các trường đại học rất khó khăn trong việc tuyển người có đủ trình độ vào làm việc.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH 87/2009/NĐ-CP – “SÁNG TẠO” TRONG LÀM LUẬT?

QUỐC DŨNG

Đó là băn khoăn của giới doanh nghiệp đối với Nghị định 87/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 về vận tải đa phương thức. Hàm ý chỉ cách “định nghĩa” lạ đời của Nghị định.

Không có trong hiệp định

Năm 2003, Chính phủ đã ban hành Nghị định 125/2003/NĐ – CP về vận tải đa phương thức quốc tế. Điều 2 của nghị định này định nghĩa: “Vận tải đa phương thức quốc tế” (sau đây gọi tắt là vận tải đa phương thức) là việc vận chuyển hàng hóa bằng ít nhất hai phương thức vận tải khác nhau trên cơ sở một hợp đồng vận tải đa phương thức từ nơi người kinh doanh vận tải đa phương thức tiếp nhận hàng hóa ở một nước đến một địa điểm được chỉ định giao trả hàng ở nước khác. Đây là định nghĩa có tham khảo Công ước Quốc tế về vận tải đa phương thức và ý kiến của các doanh nghiệp tại Việt Nam

Tháng 11/2005, Việt Nam ký Hiệp định khung ASEAN về vận tải đa phương thức. Dĩ nhiên, mục đích tham gia Hiệp định phải là nhằm tạo điều kiện thuận lợi, khuyến khích phát triển loại hình vận tải đa phương thức trong khu vực nói chung và Việt Nam nói riêng. Tới ngày 19/10/2009, Chính phủ ban hành Nghị định 87/2009/NĐ – CP về vận tải đa phương thức, và bãi bỏ Nghị định 125. Nghị định 87/2009/NĐ – CP đã đưa ra định nghĩa mới về vận tải đa phương thức. Theo đó, vận tải đa phương thức “là việc vận chuyển hàng hóa bằng ít nhất hai phương thức vận tải khác nhau trên cơ sở hợp đồng vận tải đa phương thức”.

Từ định nghĩa này, Nghị định 87/2009/NĐ – CP tiếp tục chia thành hai loại hình vận tải đa phương thức. Trong đó, một là vận tải đa phương thức quốc tế với định nghĩa “là vận tải đa phương thức từ nơi người kinh doanh vận tải đa phương thức tiếp nhận hàng hóa ở Việt Nam đến một địa điểm được chỉ định giao trả hàng ở nước khác và ngược lại”. Và hai là: vận tải đa phương thức nội địa với định nghĩa “là vận tải đa phương thức được thực hiện trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam”. Kèm theo là các quy định quản lý với từng loại hình vận tải ấy. Vấn đề là ở chỗ, theo Công ước vận tải đa phương thức quốc tế do Liên hiệp quốc ban hành, và Hiệp định khung ASEAN về vận tải đa phương thức mà Việt Nam đã tham gia, thì không có loại hình vận tải đa phương thức nội địa. Theo khẳng định của Hiệp hội Giao nhận Kho vận Việt Nam (VIFFAS), hiện cũng chưa quốc gia nào trên thế giới có quy định về “vận tải đa phương thức nội địa”. Hay nói cách khác là các nhà làm luật Việt Nam đã “sáng tạo” ra loại hình vận tải này.

Continue reading

DẪN NHẬP VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VÀ VẤN ĐỀ THỰC THI LUẬT

GS.TS. NGUYỄN VÂN NAM

I. Dẫn nhập

1. Nhà nước và Quyền lực tối cao

Giả sử rằng, chúng ta đang trên con tàu du lịch biển đông. Chợt một đợt sóng thần ập đến cuốn phăng tất cả đến một hoang đảo xa lạ, đầy thú dữ, nguy hiểm. Chúng ta ngay lập tức đều hiểu rằng mỗi người không thể sống sót nếu sống đơn độc. Chính là nhu cầu tự bảo vệ khiến mỗi người ý thức được phải đoàn kết với những người khác thành một cộng đồng của tất cả. Chúng ta cũng hiểu ngay rằng phải tổ chức cộng đồng của mình dưới một hình thức nào đó sao cho nó trước hết phải có khả năng bảo vệ mỗi người một cách tốt nhất- nếu không ta chẳng cần cái cộng đồng ấy làm gì- và sau đó là phát triển sức mạnh chung của cộng đồng. Muốn vậy, cộng đồng này phải được trang bị một quyền lực quyết định trong mọi lĩnh vực và buộc mỗi các nhân phải tuân theo: quyền lực tối cao. Như thế, chúng ta đã có một hình thái cộng đồng có quyền lực tối cao đối với tất cả thành viên và có hiệu lực trên phạm vi hoang đảo. Một hình thái tổ chức xã hội như vậy chúng ta đã quen biết, đó chính là Nhà nước.

2. Hiến pháp và giới hạn quyền lực tối cao

Là những trí thức bị dạt vào hoang đảo, chúng ta đều có thể hiểu rằng điều nguy hiểm nhất đối với mỗi người là khi quyền lực Nhà nước tối cao bị lạm dụng. Vì vậy, buổi họp đầu tiên của chúng ta phải là buổi họp thông qua một hệ thống những nguyên tắc cơ bản nhất, những nền tảng quan trọng nhất mà mọi hoạt động của Nhà nước, của mỗi thành viên cộng đồng đều phải nằm trong giới hạn được hệ thống ấy cho phép . Cái mà chúng ta thông qua đó, được gọi là Hiến pháp. Và buổi họp ấy mang tên Quốc hội lập hiến. Hiến pháp cùng với hệ thống các bộ luật, các điều luật, qui định do những cơ quan có thẩm quyền ban hành và không đi ngược lại Hiến pháp hợp thành hệ thống pháp luật. Như vậy, rõ ràng chúng ta đã nhất trí rằng có một cái gì đó còn cao hơn quyền lực tối cao, là giới hạn của quyền lực tối cao, đó chính là pháp luật.

Continue reading

TRANH CHẤP VỀ XÁC ĐỊNH NGƯỜI THỪA KẾ: MỘT NGƯỜI HAI GIẤY KẾT HÔN

HOÀNG YẾN

Một vụ tranh chấp di sản thừa kế đang bị bế tắc bởi nguyên đơn có cùng lúc… hai giấy đăng ký kết hôn với hai người chồng.

Tháng 2-2010, bà H. đã nộp đơn khởi kiện đến TAND quận 11 (TP.HCM) để tranh chấp tài sản thừa kế với các anh em bên gia đình chồng.

Kiện tranh chấp di sản

Trong đơn, bà H. trình bày: Năm 2001, bà lập gia đình với ông L., có đăng ký kết hôn tại phường 13. Bốn năm sau, họ sinh được một bé gái. Năm 2009, chồng bà bị bệnh qua đời, bà ở vậy trong căn nhà của chồng (do cha mẹ chồng đã mất để lại) và chăm sóc một người anh chồng bị bệnh tâm thần.

Thế rồi các anh chị của chồng bà ở gần đó liên tục kéo đến gây chuyện, đòi đuổi bà ra khỏi nhà. Có lần xung đột căng thẳng, bà phải nhờ công an đến giải quyết. Nay bà không dám về nhà nữa vì mỗi lần về đều bị anh chị của chồng chửi rủa. Bà yêu cầu tòa xác định phần thừa kế của bà trong căn nhà này với các anh chị bên chồng để có điều kiện tạo lập cuộc sống mới.

Làm việc với tòa, phía gia đình bên chồng bà H. không đồng ý với yêu cầu trên. Theo họ, người mẹ trước khi mất đã dặn không được bán căn nhà này, để lại làm nhà thờ tổ và làm chỗ ở cho người anh bị tâm thần.

Phía bị đơn còn yêu cầu tòa xem xét bé gái con bà H. có đúng là con của em trai họ hay không. Bởi giấy khai sinh của bé ghi sinh năm 2005, không có tên cha trong khi đến năm 2006 em trai họ mới kết hôn với bà H., không phải từ năm 2001 như bà H. nói. Họ còn cho rằng lúc còn sống, em trai họ cũng không thừa nhận đứa con này…

Continue reading

CÁC YẾU TỐ SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP TÁC ĐỘNG ĐẾN HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA HỢP ĐỒNG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ

TS. TRẦN VĂN HẢI – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

1. Dẫn nhập

Do yêu cầu công tác, tác giả cùng với các học viên sau đại học chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ đã nghiên cứu nhiều bản hợp đồng chuyển giao công nghệ (CGCN) đã và đang được thực hiện, điều đáng nói là trong số đó có khá nhiều hợp đồng CGCN từ nước ngoài vào Việt Nam mang lại hiệu quả kinh tế không cao đối với bên nhận chuyển giao – là các doanh nghiệp Việt Nam, có nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này, nhưng một trong những nguyên nhân đó là các bên tham gia hợp đồng CGCN không tính đến hoặc không thể lường trước được hợp đồng CGCN đã bị các yếu tố của quyền sở hữu công nghiệp (SHCN) tác động như thế nào.

Đã có một số nhà nghiên cứu đề cập đến các yếu tố của quyền SHCN trong lĩnh vực CGCN, ví dụ cuốn Cẩm nang chuyển giao công nghệ của Bộ KH&CN phối hợp với Trung tâm CGCN Châu Á – Thái Bình Dương do Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật phát hành năm 2005, cuốn Các phương pháp thẩm định giá quyền sở hữu trí tuệ của Đoàn Văn Trường do Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật phát hành năm 2007, cuốn Valuation and Princing of Technology – Based Intellectual Property của Richard Razgaitis do John Wiley & Sons, Inc. xuất bản năm 2003 (cuốn này chưa được dịch sang tiếng Việt)… Để đảm bảo tính mới của nghiên cứu, trong bài viết này chúng tôi chỉ trình bày những vấn đề mà các tác giả trên chưa đề cập.

Giới hạn của thuật ngữ CGCN trong bài viết này không bao hàm chuyển nhượng quyền sở hữu công nghệ, mà chỉ đề cập đến chuyển giao quyền sử dụng công nghệ. Mặt khác, bài viết này chỉ giới hạn xem xét công nghệ được chuyển giao có gắn với yếu tố SHCN, bao gồm công nghệ được bảo hộ dưới dạng cấp Bằng độc quyền sáng chế và công nghệ được bảo hộ dưới dạng bí mật kinh doanh, trong đó chỉ đề cập đến “phần mềm” của công nghệ phần vô hình mà không đề cập đến “phần cứng” trang thiết bị đi kèm công nghệ như là phần hữu hình của công nghệ.

Để tiện theo dõi, chúng tôi xin quy ước: bên CGCN là A; bên nhận CGCN từ A là B, B1, B2… bên nhận CGCN từ B là C, C1, C2… (trong trường hợp này bên CGCN lại là B). Thuật ngữ “License” dùng để chỉ hợp đồng CGCN.

Continue reading

BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG TRƯỚC VIỆC TĂNG GIÁ NHƯ THẾ NÀO?

GS.TS. NGUYỄN VÂN NAM

Khác với Việt nam, Luật Cạnh tranh (gồm Luật chống độc quyền và Luật chống cạnh tranh không lành mạnh) ở các nước phát triển luôn giữ một vai trò đặc biệt quan trọng trong hoạt động kinh doanh, điều tiết kinh tế và gần đây cũng trở thành công cụ sắc bén bảo vệ trực tiếp người tiêu dùng trong tư cách là một thành phần tham gia hoạt động cạnh tranh trên thị trường.

Vì vậy, phán quyết vào ngày 10/12/2008 (KVR 2/08) của Tòa án Tối cao CHLB Đức (BGH) về việc công ty khí đốt của thành phố Uelzen tăng giá bán khí đốt đã ngay lập tức được chính phủ của hàng loạt nước thành viên Liên minh Châu Âu (EU) đặc biệt chú ý. Phán quyết đưa ra những nhận định làm cơ sở cho việc xác định: a) thẩm quyền và trách nhiệm can thiệp của Nhà nước vào việc tăng giá bán lẻ; b) quyền tự chủ về giá cả của doanh nghiệp Nhà nước; c) vị trí thống lĩnh thị trường của một doanh nghiệp dưới góc độ bảo vệ người tiêu dùng và d) khi nào quyền tự do lựa chọn của người tiêu dùng bị vi phạm hay nói một cách khác, khi nào môi trường tự do cạnh tranh bị làm sai lệch?

Công ty cung cấp khí đốt của thành phố Uelzen (công ty U) là một công ty Nhà nước (Ở Đức và tất cả các nước Tây Âu, tuyệt đại đa số các công ty hoạt động trong lĩnh vực cung cấp điện, nước, khí đốt, sửa ấm, bưu điện, giao thông công cộng, là những công ty Nhà nước). Do giá nhập khẩu khí đốt tăng mạnh, công ty U đã nhiều lần tăng giá bán lẻ trong khoảng thời gian từ tháng 11 năm 2005 đến tháng 03 năm 2006. Theo đơn khiếu nại của một người tiêu dùng mua khí đốt để sưởi ấm, cục chống độc quyền (CĐQ) tiểu bang đã tiến hành điều tra và đi đến kết luận công ty U thật sự đã lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để tăng giá một cách quá đáng. Nên đã ra quyết định buộc công ty U trả lại cho mọi người đã mua khí đốt khoản tiền tăng giá quá đáng là từ 0,3 đến 0,5 xu (cent) cho một mét khối.

Công ty U khởi kiện yêu cầu Tòa án tiểu bang hủy quyết định của cục CĐQ. Theo công ty U, một mặt quyền tự do quyết định giá cả của doanh nghiệp là bất khả xâm phạm đã được chính BGH xác nhận bằng phán quyết số VIII ZR 138/07; mặt khác nếu người tiêu dùng không muốn mua khí đốt vì giá cao, họ vẫn có thể lựa chọn chuyển sang sử dụng các nguồn năng lượng khác như điện, dầu diesel, điện mặt trời hay sưởi ấm bằng nước nóng. Cạnh tranh ở đây cần được hiểu là cạnh tranh trong thị trường cung cấp năng lượng chung gồm điện, dầu, khí, năng lượng tái sinh…Như vậy người tiêu dùng vẫn có quyền tự do lựa chọn, họ hoàn toàn không bị ép buộc phải chấp nhận giá của công ty U. Tòa án tiểu bang đồng ý với lập luận của công ty U, đồng thời nhận định công ty U-dù là doanh nghiệp Nhà nước và có thị phần hơn 33% – vẫn không có vị trí thống lĩnh thị trường vì người tiêu dùng có thể lựa chọn sử dụng các dạng năng lượng khác. Môi trường cạnh tranh vẫn không bị làm sai lệch. Do không có vị trí thống lĩnh thị trường nên-trên nguyên tắc- việc tăng giá của công ty U không phải chịu sự kiểm soát của cục CĐQ. Vì thế, Tòa án đã hủy quyết định của cục CĐQ.

Continue reading