CÔNG VĂN SỐ 37/BXD-QLN NGÀY 16 THÁNG 6 NĂM 2010 CỦA BỘ XÂY DỰNG VỀ THU HỒI GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỞ HỮU NHÀ ĐàCẤP

Kính gửi:

Sở Xây dựng tỉnh Kon Tum

Bộ Xây dựng nhận được Công văn số 221/SXD-HT ngày 29/4/2010 của Sở Xây dựng tỉnh Kon Tum đề nghị hướng dẫn việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở đã cấp theo Nghị định số 60/CP ngày 05/7/1994 của Chính phủ. Sau khi nghiên cứu, Bộ Xây dựng trả lời như sau:

Về vấn đề nêu trên, ngày 07/9/2009 Bộ Xây dựng có văn bản số 118/BXD-QLN ngày 07/9/2009 trả lời Sở Xây dựng Kom Tum việc thu hồi giấy chứng nhận theo hướng: về nguyên tắc, cơ quan nào cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở thì cơ quan đó có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận đã cấp.

Tuy nhiên, ngày 21/10/2009, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 88/2009/NĐ-CP về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất (Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10/12/2009). Như vậy, hiện nay việc giải quyết các vấn đề liên quan đến giấy chứng nhận, trong đó có nội dung về đính chính, thu hồi giấy chứng nhận đã cấp được thực hiện theo quy định tại Điều 25 của Nghị định số 88/2009/NĐ-CP của Chính phủ.

Đề nghị Sở Xây dựng tỉnh Kon Tum nghiên cứu quy định tại Nghị định số 88/2009/NĐ-CP của Chính phủ để đảm bảo thực hiện việc đính chính, thu hồi giấy chứng nhận theo đúng quy định./.

TL. BỘ TRƯỞNG
CỤC TRƯỞNG CỤC QUẢN LÝ NHÀ
VÀ THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN
Nguyễn Mạnh Hà

THÔNG TƯ SỐ 15/2010/TT-NHNN NGÀY 16 THÁNG 6 NĂM 2010 CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM QUY ĐỊNH VỀ PHÂN LOẠI NỢ, TRÍCH LẬP VÀ SỬ DỤNG DỰ PHÒNG ĐỂ XỬ LÝ RỦI RO CHO VAY TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC TÀI CHÍNH QUY MÔ NHỎ

Căn cứ Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 01/1997/QH10 năm 1997 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 10/2003/QH11 năm 2003;
Căn cứ Luật các Tổ chức tín dụng số 02/1997/QH10 năm 1997 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các Tổ chức tín dụng số 20/2004/QH11 năm 2004;
Căn cứ Nghị định số 96/2008/NĐ-CP ngày 26/8/2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước;
Căn cứ Nghị định số 28/2005/NĐ-CP ngày 09/3/2005 về tổ chức và hoạt động của tổ chức tài chính quy mô nhỏ tại Việt Nam và Nghị định số 165/2007/NĐ-CP ngày 15/11/2007 sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều của Nghị định số 28/2005/NĐ-CP;
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sau đây gọi tắt là Ngân hàng Nhà nước) quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro cho vay trong hoạt động của tổ chức tài chính quy mô nhỏ như sau:

Chương 1.

CÁC QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

1. Tổ chức tài chính quy mô nhỏ hoạt động tại Việt Nam (sau đây gọi tắt là tổ chức tài chính quy mô nhỏ) phải thực hiện việc phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro cho vay theo quy định tại Thông tư này.

2. Việc trích lập dự phòng và sử dụng quỹ dự phòng tài chính thực hiện theo quy định của pháp luật về chế độ tài chính đối với các tổ chức tài chính quy mô nhỏ.

Điều 2. Giải thích từ ngữ

Trong Thông tư này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Phân loại nợ là việc sắp xếp các khoản nợ gốc vào các nhóm nợ quy định tại Khoản 1 Điều 4 Thông tư này.

2. Nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn.

3. Nợ xấu (NPL) là các khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5 quy định tại Khoản 1 Điều 4 Thông tư này.

Continue reading

“SOI LỖI” TỐ TỤNG DÂN SỰ: BỎ LƠ ĐƯƠNG SỰ, XỬ LỐ . . .

THANH TÙNG

Thẩm phán thường mắc nhiều lỗi khiến nhiều bản án bị hủy, sửa. Để nâng cao chất lượng xét xử, Tòa Dân sự TAND Tối cao thường tổ chức rút kinh nghiệm.

Tại một buổi rút kinh nghiệm mới đây, Tòa Dân sự TAND Tối cao cho biết thực tiễn xét xử cho thấy nhiều tòa không đưa những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng khiến vụ án bị hủy, sửa một cách đáng tiếc.

“Quên” người liên quan

Chẳng hạn, một người thuộc hàng thừa kế trong vụ tranh chấp nhưng không ủy quyền cho người khác, không từ chối tham gia nhưng nhiều thẩm phán “quên” đưa họ vào vụ án. Thậm chí có trường hợp người thứ ba trong tranh chấp đã được tặng cho một phần tài sản và đang sử dụng, quản lý nhưng tòa cũng “bỏ lơ” họ trong khi trong bản án vẫn giải quyết cả phần tài sản họ đang quản lý. Ngoài ra trong các tranh chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà có nhiều người đang quản lý, sử dụng hoặc được cho thuê hay thế chấp ngân hàng, nhiều tòa cũng không “đụng chạm” gì đến những người này.

Trái ngược với việc “quên” triệu tập thì một số thẩm phán lại giải quyết không đúng hoặc vượt quá yêu cầu của đương sự. Tòa Dân sự TAND Tối cao dẫn chứng, có vụ người khởi kiện chỉ yêu cầu đòi hoặc chia thừa kế một phần tài sản, hay chỉ yêu cầu trả nợ gốc (không yêu cầu lãi) nhưng tòa lại buộc bị đơn trả lại toàn bộ tài sản, chia toàn bộ di sản, hoặc buộc trả cả tiền gốc và lãi.

Làm đương sự mất quyền kháng cáo

Một dạng sai phạm khác là sau khi xử sơ thẩm vắng mặt đương sự, có tòa không làm thủ tục tống đạt bản án khiến họ không biết, dẫn đến mất quyền kháng cáo. Theo Tòa Dân sự, có tình huống cười ra nước mắt là khi xử sơ thẩm và thi hành xong thì đương sự bị thi hành án mới biết vì họ vắng mặt tại tòa và không có mặt tại địa phương.

Continue reading

ĐẠI HỌC HAY HỌC ĐẠI?

NGUYỄN LÂN DŨNG

Thành tích xây dựng hệ thống các trường đại học cao đẳng ở nước ta là rất lớn. Nhưng về chất lượng đào tạo thì quả thật là có quá nhiều vấn đề cần bàn.

Thành tích xây dựng hệ thống các trường ĐHCĐ ở nước ta là rất lớn. Không dễ gì có tới 62/63 tỉnh thành đã có trường ĐHCĐ, đấy là một cố gắng đáng kể với con số 180 trường đại học, 232 trường cao đẳng và 28 trường thuộc các ngành quốc phòng an ninh và với tổng số sinh viên ĐHCĐ niên học 2008-2009 lên đến trên 1,7 triệu. Nhưng về chất lượng đào tạo thì quả thật là có quá nhiều vấn đề cần bàn.

Truyền thống hiếu học của nhân dân ta thật quý giá. Không phải có nhiều nước mà hầu hết học sinh đều muốn học tiếp đại học, cao đẳng (ĐHCĐ) và các phụ huynh cũng đều muốn như vậy. Nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá cũng yêu cầu cần có số người tốt nghiệp ĐH không thấp hơn nhiều so với các nước khác.

Từ lâu, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã có chỉ đạo rất xác đáng là yêu cầu “Trường ra trường, lớp ra lớp, thầy ra thầy, trò ra trò”.

Hiện nay đâu phải trường nào cũng ra trường! Có tới 15/87 các trường ngoài công lập chưa xây dựng được trường theo địa điểm đã đăng ký. Thậm chí có trường mở trong các hốc trống của sân vận động (!) Có trường thuê mướn rất nhiều cơ sở ở khá phân tán trong thành phố. Các trường tập trung quá nhiều ở khu vực đồng bằng sông Hồng. Đây là nơi có trên 18 triệu dân nhưng sinh viên trên 1 vạn dân là 393, trong khi ở đồng bằng sông Cửu Long với dân số cũng tới trên 17 triệu dân thì chỉ có 75 sinh viên/1 vạn dân.

Continue reading