M&A CẦN NHIỀU HƠN MỘT KHUNG PHÁP LÝ

NGUYỄN LAN PHƯƠNG

Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam và thế giới đang trải qua giai đoạn khó khăn, hầu hết các doanh nghiệp (DN) đang phải xoay sở cho chính mình thì xu hướng mua bán và sát nhập (M&A) đang phát triển mạnh tại Việt Nam… Sắp tới đây, sẽ có nhiều doanh nghiệp sẵn sàng bán hoặc sáp nhập DN.

Xu hướng tương lai

Hiện nay, có khoảng 350.000 DN đang hoạt động tại Việt Nam, với 95% trong số này là DN nhỏ và vừa. Theo kế hoạch phát triển đến năm 2010, con số này sẽ lên đến 500.000 DN. Theo Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch &Đầu tư) sẽ có khoảng 50% số DN Việt Nam có thể sáp nhập với các đối tác là nhà đầu tư trong và ngoài nước.

Hoạt động M&A tuy mới mẻ với thị trường Việt Nam, nhưng, ở nước ngoài thì hoạt động này đã trở nên phổ biến. Các nhà đầu tư nước ngoài đã quen với các hoạt động M&A tại nước sở tại nên họ sẽ có thuận lợi hơn khi đầu tư vào Việt Nam theo hình thức này.

Có thể thấy, qua các thương vụ M&A, khá nhiều DN vẫn tỏ ra lúng túng, chưa được trang bị những kiến thức cơ bản và tổng thể về M&A, dẫn đến nhiều cuộc thương thảo không thành công, hoặc DN được mua lại, sáp nhập với những điều kiện, giá trị chưa thỏa mãn. DN Việt Nam có thể phải chịu những thiệt thòi nếu thiếu kinh nghiệm và kiến thức cần thiết về M&A.

Phía bên mua, nhà đầu tư nước ngoài am tường quản trị, có tiềm lực tài chính, có nhiều kinh nghiệm trong sáp nhập mua lại DN, có thể đưa ra hợp đồng phức tạp với những điều kiện khó khăn cho DN Việt Nam…

Khung pháp lý hiện hành còn nhiều bất cập

Thị trường mua bán và sáp nhậ doanh nghiệp Việt Nam ở thời điểm này khá hấp dẫn và có khả năng thu hút đồng vốn của các nhà đầu tư nước ngoài. Trong thời gian qua, cũng đã có nhiều thương vụ M&A thực hiện thành công. Song, vẫn tồn tại không ít khó khăn từ hành lang pháp lý, vẫn còn những tồn tại cần khắc phục mà điển hình nhất là khung pháp lý chưa thực sự rõ ràng, nằm rải rác ở một số luật như Luật Đầu tư, Luật Cạnh tranh, Luật Chứng khoán… cũng gây nhiều khó khăn cho cả bên mua và bên bán. Vấn đề hậu M&A thường các doanh nghiệp bên bán ít khi quan tâm đến.

Continue reading

KHI NÀO DOANH NGHIỆP LÀ MỘT PHÁP NHÂN?

LG. CAO BÁ KHOÁT – Thành viên Tổ Thi hành Luật Doanh nghiệp của Thủ tướng Chính phủ

(Bài được viết vào thời điểm Luật Doanh nghiệp năm 2005 và BLDS năm 2005 chưa được ban hành, nên một số thông tin có thể không còn phù hợp – Civillawinfor)

Tuy có nhiều tên gọi khác nhau, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) 1 thành viên, công ty TNHH 2 thành viên trở lên, công ty cổ phần, công ty hợp danh… nhưng nếu xét về trách nhiệm tài sản của nhà đầu tư đối với các khoản nợ của doanh nghiệp thì chỉ có hai loại:

Một là, nhà đầu tư phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với các khoản nợ của doanh nghiệp, thường gọi họ là các thể nhân;

Hai là, nhà đầu tư chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn đối với các khoản nợ của doanh nghiệp, loại doanh nghiệp này được gọi một tên chung là pháp nhân.

Một người khởi nghiệp muốn thành lập doanh nghiệp của mình, trước hết phải có nhận thức đầy đủ về pháp nhân, phải thấy được pháp nhân khác với không có tư cách pháp nhân như thế nào? Theo quy định tại Điều 94 Bộ luật Dân sự, một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ 4 điều kiện sau đây:

1. Được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập, cho phép thành lập, đăng ký hoặc công nhận

Pháp nhân là người do pháp luật sinh ra. Pháp nhân không có đời sống sinh học, không biết yêu, ghét, chỉ có đời sống pháp lý. Do vậy, pháp nhân phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập, cho phép thành lập, đăng ký hoặc công nhận. Được khai sinh hợp pháp là dấu hiệu đầu tiên của một tổ chức muốn được công nhận là pháp nhân. Như vậy, một doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận Đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp, tức là được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chứng nhận việc khai sinh ra doanh nghiệp và tương tự như vậy với các DNNN, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài…

Continue reading

SỰ KHÁC NHAU GIỮA CHI NHÁNH CÔNG TY VÀ CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN

VŨ XUÂN TIỀN

(Bài được viết vào thời điểm Luật Doanh nghiệp năm 2005 chưa được ban hành, nên một số thông tin có thể không còn phù hợp – Civillawinfor)

1. Thế nào là công ty TNHH một thành viên?

Các điều 46, 47, 48, 49 và 50 Luật Doanh nghiệp ban hành năm 1999 đã quy định về công ty TNHH một thành viên. Khoản 1 Điều 46 quy định “Công ty TNHH một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức làm chủ sở hữu (sau đây gọi là chủ sở hữu công ty); chủ sở hữu chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn điều lệ của doanh nghiệp”. Khoản 4 điều 46 quy định “Công ty TNHH một thành viên có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh”.

Từ những quy định đã trích dẫn trên, một công ty đã thành lập và hoạt động ở một tỉnh, thành phố, ví dụ là Hà Nội, có quyền thành lập một công ty TNHH một thành viên tại một tỉnh khác. Thủ tục thành lập công ty TNHH một thành viên tương tự như thủ tục thành lập công ty theo quy định của Luật Doanh nghiệp.

2. Sự giống nhau giữa chi nhánh công ty và công ty TNHH một thành viên

Giữa chi nhánh công ty và công ty TNHH một thành viên có những điểm giống nhau như sau:

– Đều là những đơn vị có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng, tài khoản riêng tại ngân hàng;

– Đều do một công ty có vị trí là công ty mẹ đầu tư vốn.

3. Sự khác nhau giữa chi nhánh công ty và công ty TNHH một thành viên

Những khác biệt chủ yếu giữa chi nhánh công ty và công ty TNHH một thành viên thể hiện qua bảng so sánh sau đây:

Tiêu chí so sánh

Chi nhánh công ty

Công ty TNHH một thành viên

Hình thức công nhận Đăng ký hoạt động chi nhánh Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
Vốn điều lệ Không ghi nhận, do công ty giao cho chi nhánh Qui định tại Điều lệ và ghi nhận trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
Trách nhiệm của chủ sở hữu khi giải thể, phá sản Chủ sở hữu chịu trách nhiệm toàn bộ Chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi vốn đã góp vào công ty
Tổ chức công tác kế toán Là đơn vị kế toán cấp cơ sở, công ty là đơn vị kế toán cấp trên, báo cáo tài chính phải hợp nhất với báo cáo tài chính của công ty Là đơn vị kế toán độc lập, báo cáo tài chính không bắt buộc phải hợp nhất trong BCTC của công ty mẹ (chỉ phải hợp nhất theo yêu cầu quản trị nội bộ)
Nghĩa vụ nộp thuế TNDN Có thể chuyển lợi nhuận trước thuế về công ty để nộp thuế TNDN Không được chuyển lợi nhuận trước thuế về công ty mẹ, phải nộp thuế TNDN tại trụ sở công ty
Tài khoản kế toán sử dụng khi công ty chuyển vốn Vốn giao cho chi nhánh là giao vốn cho đơn vị trực thuộc, theo dõi trên TK 136.1 hoặc 138 Vốn góp cho công ty là một khoản đầu tư tài chính. Công ty mẹ theo dõi trên TK 2218- Đầu tư dài hạn khác
Về mã số đối tượng nộp thuế Theo mã số đối tượng nộp thuế của công ty Được cấp một mã số độc lập

 

Continue reading

ĐƠN GIẢN HÓA THỦ TỤC HÀNH CHÍNH LIÊN QUAN ĐẾN THẾ CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT, TÀI SẢN GẮN LIỀN VỚI ĐẤT

HỒ QUANG HUY

Thực tiễn cho thấy, thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất là giao dịch chủ yếu trong số các giao dịch mà người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thực hiện ở nước ta trong thời gian qua. Ngoài ra, theo khảo sát của IFC thì bất động sản là tài sản chủ yếu mà các ngân hàng Việt Nam lựa chọn để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ vay (hiện chiếm khoảng 80%). Do vậy, việc tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp luật liên quan đến thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất có ý nghĩa quan trọng nhằm tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp khi thực hiện các quyền dân sự và giúp môi trường đầu tư, kinh doanh trong nước thực sự thông thoáng, hiệu quả.

1. Đối với quy định về công chứng hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất

Xuất phát từ tính chất phức tạp của các quan hệ về bất động sản (trong đó đặc biệt là quyền sử dụng đất) và do nhận thức của người dân, doanh nghiệp còn hạn chế nên bên cạnh thiết chế đăng ký thế chấp, Nhà nước cần tiếp tục duy trì thiết chế công chứng hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất nhằm đảm bảo tính an toàn pháp lý cho các giao dịch. Việc thực hiện công chứng hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất không chỉ trực tiếp bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức, mà còn giúp tăng cường hơn nữa trật tự xã hội, hạn chế những tranh chấp có thể phát sinh trong quá trình xác lập, thực hiện hợp đồng, giao dịch. Mặt khác, thực tiễn cho thấy, nếu Nhà nước không quy định công chứng bắt buộc đối với hợp đồng thế chấp về quyền sử dụng đất thì sẽ làm phát sinh khó khăn cho Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, vì những vấn đề mang tính pháp lý (ví dụ: người tham gia hợp đồng, giao dịch hoàn toàn tự nguyện; có đầy đủ năng lực hành vi dân sự; mục đích và nội dung của hợp đồng, giao dịch không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội…) thực sự “nằm ngoài”khả năng của cán bộ đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất. Do vậy, công chứng có thể xem là một “bộ lọc” quan trọng và cần thiết trước khi người dân, doanh nghiệp thực hiện việc đăng ký theo quy định của pháp luật. 

2. Rà soát, hoàn thiện các quy định liên quan đến công chứng và đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất

Trong thời gian tới, thủ tục công chứng và đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất cần tiếp tục được rà soát, hoàn thiện nhằm khắc phục một số tồn tại chủ yếu sau đây:

Continue reading