RẮC RỐI CHUYỆN BÍ MẬT ĐỜI TƯ CỦA CÁ NHÂN

LS. NGUYỄN BẢO TRÂM – Công ty Luật TNHH Sài Gòn Luật

Chuyện bí mật đời tư của cá nhân, quyền bí mật đời tư được bảo vệ đến đâu, như thế nào không là chuyện riêng của ca sĩ Hồ Ngọc Hà mà đã là vấn đề chung để giải quyết các trường hợp khác bị xâm phạm đến bí mật đời tư.

Đó cũng là chuyện phải cụ thể hóa quyền, nghĩa vụ của giới truyền thông khi phản ánh những thông tin, sự kiện có liên quan đến đời tư của cá nhân.

Hiện nay, chuyện chị X. nâng ngực, anh Y. “có những phút ngoài vợ”, ông M. bị bệnh ung thư giai đoạn cuối…, đặc biệt là những thông tin, tư liệu, hình ảnh cá nhân văn nghệ sĩ được thu thập một cách vô tư; được đưa ra bàn luận, đưa lên mạng, phương tiện thông tin đại chúng tràn lan. Có một số người thì cho đó là chuyện thú vị, phải có trong xã hội hiện đại. Thế nhưng không ít người, nhất là những người có chuyện riêng tư vốn là “niềm đau chôn giấu” nay bị phơi bày, bị bàn luận công khai lại bức xúc, cho đó là sự xâm phạm nghiêm trọng đến bí mật đời tư của cá nhân được pháp luật bảo vệ.

Quy định pháp luật: Chỗ mờ, chỗ tối

Cho đến nay, pháp luật Việt Nam chưa có quy định rõ ràng về bí mật đời tư là gì, phạm vi của bí mật đời tư là như thế nào, mà chỉ có một số quy định như trong Bộ luật Dân sự (Ðiều 38), Luật Giao dịch điện tử (khoản 2 Điều 46) quy định quyền bí mật đời tư của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ; việc thu thập, công bố thông tin, tư liệu về đời tư cá nhân phải được người đó đồng ý, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; thư từ, điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện tử khác của cá nhân được bảo đảm an toàn, bí mật và việc kiểm soát các loại này được thực hiện khi pháp luật có quy định và phải có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Riêng Bộ luật Hình sự (Điều 125) có quy định: Người nào có hành vi trái pháp luật xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm thì tùy trường hợp sẽ bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 1 triệu đồng đến 5 triệu đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm, phạt tù đến hai năm.

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 16/2010/TT-BLĐTBXH NGÀY 01 THÁNG 06 NĂM 2010 CỦA BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI HƯỚNG DẪN QUYẾT ĐỊNH 613/QĐ-TTG NGÀY 06 THÁNG 5 NĂM 2010 CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ VỀ VIỆC TRỢ CẤP HÀNG THÁNG CHO NHỮNG NGƯỜI CÓ TỪ ĐỦ 15 NĂM ĐẾN DƯỚI 20 NĂM CÔNG TÁC THỰC TẾ ĐÃ HẾT THỜI HẠN HƯỞNG TRỢ CẤP MẤT SỨC LAO ĐỘNG

Căn cứ Nghị định số 186/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội;
Căn cứ Quyết định số 613/QĐ-TTg ngày 06 tháng 5 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc trợ cấp hàng tháng cho những người có từ đủ 15 năm đến dưới 20 năm công tác thực tế đã hết thời hạn hưởng trợ cấp mất sức lao động (sau đây được viết là Quyết định số 613/QĐ-TTg);
Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện Quyết định số 613/QĐ-TTg như sau:

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng

Thông tư này hướng dẫn thực hiện trợ cấp hàng tháng, chế độ bảo hiểm y tế và trợ cấp mai táng đối với người hết thời hạn hưởng trợ cấp mất sức lao động, không thuộc diện được tiếp tục hưởng trợ cấp mất sức lao động hàng tháng theo quy định tại Quyết định số 60/HĐBT ngày 01 tháng 3 năm 1990 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ), Quyết định số 812/TTg ngày 12 tháng 12 năm 1995 của Thủ tướng Chính phủ mà có thời gian công tác thực tế từ đủ 15 năm đến dưới 20 năm (kể cả trường hợp đã hết thời hạn hưởng trợ cấp mất sức lao động theo quy định tại Nghị định số 163/CP ngày 04 tháng 7 năm 1974 của Hội đồng Chính phủ), bao gồm:

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 60/2010/NĐ-CP NGÀY 03 THÁNG 06 NĂM 2010 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC HÀNG KHÔNG DÂN DỤNG

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Hàng không dân dụng Việt Nam ngày 29 tháng 6 năm 2006;
Căn cứ Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính số 44/2002/PL-UBTVQH10 ngày 02 tháng 7 năm 2002 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính số 04/2008/PL-UBTVQH12 ngày 02 tháng 4 năm 2008 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (sau đây gọi chung là Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính);
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

1. Nghị định này quy định về hành vi vi phạm, hình thức và mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền và thủ tục xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hàng không dân dụng

2. Vi phạm hành chính trong lĩnh vực hàng không dân dụng là những hành vi do các tổ chức, cá nhân thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý vi phạm quy định của pháp luật về hàng không dân dụng mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính, bao gồm:

a) Vi phạm quy định về tàu bay;

b) Vi phạm quy định về cảng hàng không, sân bay;

c) Vi phạm quy định về nhân viên hàng không;

d) Vi phạm quy định về hoạt động bay;

đ) Vi phạm quy định về hoạt động vận chuyển hàng không và hàng không chung;

e) Vi phạm quy định về an ninh hàng không.

3. Các hành vi vi phạm hành chính khác tại cảng hàng không, sân bay bị xử phạt theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực tương ứng.

Continue reading

THẤY GÌ QUA VIỆC NHÃN HIỆU DO CÁC DOANH NGHIỆP NGHỆ AN ĐỀ NGHỊ ĐƯỢC BẢO HỘ HOẶC BỊ TỪ CHỐI BẢO HỘ?

TS. TRẦN VĂN HẢI – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Dẫn nhập

Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, khi mà Việt Nam đã trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới WTO thì các doanh nghiệp không những chỉ phải quan tâm đến công tác tổ chức sản xuất, kinh doanh mà còn phải quan tâm đến việc xây dựng và phát triển nhãn hiệu (trước đây gọi là nhãn hiệu hàng hóa). Nhãn hiệu là một trong những yếu tố làm nên giá trị của một doanh nghiệp, trong nhiều trường hợp người tiêu dùng không quan tâm đến tên doanh nghiệp mà chỉ biết đến sản phẩm hoặc dịch vụ của doanh nghiệp thông qua nhãn hiệu, ví dụ người tiêu dùng chỉ biết đến nhãn hiệu Clear, OMO, Lipton… chứ không cần biết đến tên doanh nghiệp Unilever, nhưng trách nhiệm của doanh nghiệp với tư cách là chủ sở hữu nhãn hiệu là phải tổ chức sản xuất, kinh doanh để làm nên giá trị của hàng hóa/dịch vụ mang nhãn hiệu, mặt khác doanh nghiệp còn có quyền chống lại mọi sự xâm phạm đến nhãn hiệu của mình do các chủ thể khác thực hiện.

Vậy trên thực tế, các doanh nghiệp Nghệ An (cụm từ “doanh nghiệp Nghệ An” dùng để chỉ doanh nghiệp có trụ sở trên địa bàn tỉnh Nghệ An) đã làm như thế nào để xây dựng và phát triển nhãn hiệu của mình? Bài nghiên cứu này sẽ phân tích một số trường hợp các doanh nghiệp Nghệ An nộp đơn đề nghị bảo hộ nhãn hiệu đã được Cục Sở hữu trí tuệ (SHTT) chấp nhận bảo hộ hoặc đã bị từ chối bảo hộ, trên cơ sở đó đưa ra một số khuyến nghị để các doanh nghiệp có thể tự xây dựng và phát triển nhãn hiệu của mình.

1. Tổng quan về việc bảo hộ nhãn hiệu cho các doanh nghiệp Nghệ An

Theo số liệu do Cục SHTT quản lý cập nhật đến 19.3.2010 thì các doanh nghiệp Nghệ An đã có 330 đơn đề nghị được bảo hộ nhãn hiệu, trong đó đã có 158 Giấy Chứng nhận đăng ký nhãn hiệu được cấp, tỷ lệ thành công là 47,8% (tỷ lệ này ở Hà Tĩnh là 47,4%). So sánh số Giấy Chứng nhận đăng ký nhãn hiệu do Cục SHTT đã cấp cho doanh nghiệp các tỉnh khác (không kể các doanh nghiệp thuộc địa bàn Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh) thì số lượng nhãn hiệu được bảo hộ cho các doanh nghiệp Nghệ An thuộc tốp trên, nhưng tỷ lệ thành công của nhãn hiệu được bảo hộ/số đơn đề nghị thì thuộc tốp trung bình. Bảng số liệu sau đây minh họa cho nhận định này, chúng tôi chọn Hà Tĩnh làm đối chứng vì Hà Tĩnh và Nghệ An đều tách ra từ tỉnh Nghệ Tĩnh cũ (lưu ý: trong năm 2009 số Giấy Chứng nhận đăng ký nhãn hiệu được cấp cho Hà Tĩnh nhiều hơn số đơn là do đơn được nộp từ các năm trước).

Continue reading