CÔNG VĂN SỐ 32/BXD-QLN NGÀY 7 THÁNG 6 NĂM 2010 CỦA BỘ XÂY DỰNG VỀ VẤN ĐỀ LIẾN QUAN ĐẾN SỞ HỮU NHÀ Ở TẠI VIỆT NAM CỦA NGƯỜI VIỆT NAM ĐỊNH CƯ Ở NƯỚC NGOÀI

Kính gửi:

Trường Đại học Kiến trúc thành phố Hồ Chí Minh.

Trả lời công văn số 114/CV- ĐHKT ngày 10/5/2010 của Trường Đại học Kiến trúc thành phố Hồ Chí Minh về vấn đề liên quan đến sở hữu nhà ở tại Việt Nam của người Việt Nam định cư ở nước ngoài, Bộ Xây dựng có ý kiến như sau:

Theo quy định của Luật số 34/2009/QH12 về việc sửa đổi, bổ sung Điều 126 của Luật Nhà ở và Điều 121 Luật Đất đai thì đối tượng người Việt Nam định cư ở nước ngoài có gốc Việt Nam (như trường hợp của ông Phan Văn Trường) nếu về Việt Nam làm chuyên gia thì thuộc diện được quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam. Hiện nay, Bộ Xây dựng đang trình Chính phủ ban hành Nghị định hướng dẫn quy định nêu trên theo hướng: trường hợp người Việt Nam định cư ở nước ngoài có gốc Việt Nam, đang tham gia giảng dạy tại trường đại học của Việt Nam mà có nhu cầu mua nhà ở tại Việt Nam thì phải có các giấy tờ chứng minh về đối tượng (gồm Hộ chiếu, Giấy chứng nhận có gốc Việt Nam do cơ quan ngoại giao của Việt Nam cấp, Hợp đồng giảng dạy ký với trường đại học, Giấy xác nhận của Trường Đại học về việc đang giảng dạy tại trường và Giấy tờ chứng minh được phép cư trú tại Việt Nam từ 3 tháng trở lên của cơ quan Công an Việt Nam).

Như vậy, Bộ Xây dựng không có thẩm quyền xác nhận trường hợp của ông Phan Văn Trường như đề nghị của Trường Đại học Kiến trúc TP Hồ Chí Minh. Đề nghị Trường Đại học Kiến trúc thông báo cho ông Trường liên hệ với Sở Xây dựng thành phố Hồ Chí Minh để được giải quyết./.

TL. BỘ TRƯỞNG
CỤC TRƯỞNG CỤC QUẢN LÝ NHÀ
VÀ THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN
Nguyễn Mạnh Hà

CÔNG VĂN SỐ 34/BXD-QLN NGÀY 9 THÁNG 6 NĂM 2010 CỦA BỘ XÂY DỰNG TRẢ LỜI CÔNG VĂN SÔ 3195/SXD-QLN&CS CỦA SỞ XÂY DỰNG TPHCM VỀ VIỆC XÁC LẬP QUYỀN SỞ HỮU CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NHÀ ĐẤT KHÔNG CÓ NGƯỜI THỪA KẾ

Kính gửi:

Sở Xây dựng thành phố Hồ Chí Minh

Bộ Xây dựng nhận được Công văn số 3195/SXD-QLN&CS ngày 27/4/2010 của Sở Xây dựng thành phố Hồ Chí Minh đề nghị hướng dẫn về việc xác lập quyền sở hữu Nhà nước đối với nhà đất không có người thừa kế theo di chúc, thừa kế theo pháp luật hoặc có người thừa kế nhưng không được quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản. Về vấn đề này, Bộ Xây dựng trả lời như sau:

1. Việc xác định và phân chia di sản thừa kế là nhà ở được thực hiện theo quy định của pháp luật dân sự. Đối với trường hợp chủ sở hữu nhà ở chết mà chưa xác định được người thừa kế và chưa có người quản lý nhà ở đó thì Nhà nước tạm thời quản lý và thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng về việc quản lý nhà ở này.

2. Trường hợp sau khi có thông báo mà xác định được người thừa kế di sản thì Nhà nước giao lại nhà ở đó cho người thừa kế để họ làm thủ tục công nhận quyền sở hữu nhà ở theo quy định của pháp luật; nếu người thừa kế không được quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản thì phần di sản này được chia cho các đồng thừa kế khác (nếu có).

Trường hợp hết thời hiệu khởi kiện về thừa kế theo quy định của pháp luật dân sự mà không có người thừa kế thì Nhà nước thực hiện xác lập sở hữu toàn dân và quản lý theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước. Thủ tục xác lập sở hữu toàn dân đối với nhà ở này được thực hiện theo quy định hiện hành.

Đề nghị Sở Xây dựng thành phố căn cứ vào hồ sơ của từng trường hợp cụ thể và đối chiếu với các quy định của pháp luật để giải quyết./.

TL. BỘ TRƯỞNG
CỤC TRƯỞNG CỤC QUẢN LÝ NHÀ VÀ THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN
Nguyễn Mạnh Hà

MỘT SỐ VẤN ĐỀ KINH TẾ TRONG ĐẠI HỌC VÀ KHOA HỌC

NGUYỄN TIẾN DŨNG

Trong bài viết này, tôi muốn phân tích một vấn đề kinh tế tài chính liên quan đến  khoa học và giáo dục đại học, từ đó rút ra một số cải cách và chính sách nên thực hiện để giúp cho nền khoa học công nghệ và hệ thống đại học Việt Nam phát triển tốt hơn.

Muốn có nền kinh tế mạnh, cần có nền khoa học công nghệ mạnh

Nền kinh tế của thế giới ngày nay phát triển theo 3 xu hướng: toàn cầu hóa, môi trường hóa (bảo vệ môi trường và phát triển bền vững trở thành đề tài trọng tâm của thế kỷ 21), và hiểu biết hóa. Trong nền kinh tế này, vai trò của tri thức và khoa học công nghệ ngày càng quan trọng. Những nước có sức cạnh tranh lớn nhất cũng chính là những nước mạnh nhất về khoa học và công nghệ.
Nước Mỹ có nền khoa học mạnh nhất thế giới trong suốt thế kỷ qua, một phần lớn chính là vì họ trả lương cao và tạo điều kiện làm việc tốt để thu hút các nhà khoa học giỏi từ tất cả các nơi khác trên thế giới đến Mỹ. Tất nhiên, người Mỹ không dại gì trả lương cao cho các nhà khoa học, nếu như  điều này không làm lợi cho họ. Họ càng đầu tư nhiều cho khoa học, càng tạo điều kiện tốt cho các nhà khoa học, thì càng có lợi về kinh tế. Các nước khác, từ châu Âu, châu Á cho đến Nam Mỹ, cũng đã nhận thấy động lực này, và ngày nay đang cạnh tranh lại với Mỹ về lương và điều kiện làm việc cho khoa học để thu hút chất xám.
Để đuổi kịp thế giới, Việt Nam cũng phải tuân theo những qui luật trên. Tức là phải chú trọng phát triển khoa học công nghệ để lấy nó làm động lực thúc đẩy phát triển kinh tế. Muốn phát triển khoa học, phải đầu tư, tạo điều kiện làm việc tốt và trả lương xứng đáng cho khoa học. Muốn đạt tầm quốc tế về khoa học, thì phải đầu tư thích đáng, tạo một môi trường sống và làm việc tầm quốc tế cho khoa học.
Trong những năm vừa qua, Chính phủ Việt Nam đã có những cố gắng nhất định trong việc phát triển khoa học. Ví dụ như chương trình “322” cấp học bổng cho sinh viên đi học ở nước ngoài, việc thành lập “Quĩ nghiên cứu khoa học cơ bản”, và quyết định của Thủ tướng về việc thành lập trường Đại học quốc tế “Hanoi University of Sience and Technology”. Tuy nhiên, việc phát triển khoa học ở Việt Nam còn gặp nhiều vướng mắc lớn. Một trong những vướng mắc đó là vấn đề lương cho khoa học.

Continue reading

MÔI GIỚI BẤT ĐỘNG SẢN – CẦN CHẾ TÀI ĐỦ MẠNH

HÀ AN

Sự phát triển của kinh tế thị trường làm xuất hiện nhiều loại hình dịch vụ môi giới, với hình thức, quy mô hoạt động ngày càng rộng rãi và được công nhận là nghề trong xã hội. Trong đó phải kể đến nghề môi giới bất động sản.

Môi giới bất động sản được hiểu là hoạt động của bên thứ 3 (cá nhân hoặc tổ chức) với mục đích giới thiệu, giải quyết những vấn đề liên quan giữa các bên: bên bán, cho thuê với bên mua, bên thuê trong giao dịch như mua, bán, cho thuê, cho thuê lại bất động sản… với khoản phí theo hợp đồng môi giới.

Như vậy, bản thân bên môi giới phải là người chủ động trong các giao dịch liên quan đến bất động sản: họ làm nhiệm vụ kết nối giữa bên bán, cho thuê với bên mua, cần thuê từ việc gặp gỡ, trao đổi, thương thảo cho đến khi kết thúc giao dịch.

Trước khi hoạt động môi giới diễn ra thì bên môi giới phải tiếp xúc với khách hàng của mình để nắm được nhu cầu của khách hàng và khả năng tài chính thực sự của họ. Đây là khâu cần thiết trong bất kỳ hoạt động môi giới nào. Bằng kinh nghiệm, khả năng phân tích, phán đoán hoặc sự nhạy cảm nghề nghiệp bên môi giới có thể xác định được độ khả thi của kết quả môi giới đến đâu giúp cả 3 bên (bên môi giới, bên bán, cho thuê và bên mua, thuê) tiết kiệm được thời gian, cũng như các khoản chi phí không cần thiết khác…

Để trở thành nhà môi giới thành công, có thương hiệu, uy tín lớn, ngoài sự am hiểu về kiến thức pháp luật liên quan đến bất động sản như: Luật Đất đai, Luật Kinh doanh bất động sản, Luật Xây dựng, các dự án quy hoạch, kiến thức phong thủy… thì họ cần phải chứng tỏ cho khách hàng biết khả năng nhạy bén thị trường của mình cũng như sự hiểu biết kiến thức thông qua việc tư vấn cho khách hàng (bên mua, bên thuê) các khoản vay tín dụng có hỗ trợ lãi suất từ các tổ chức tín dụng, ngân hàng… Đây là điều mà bất kỳ khách hàng nào khi tham gia giao dịch cũng mong muốn có được từ các nhà môi giới và tạo ra điểm khác biệt giữa môi giới bất động sản chuyên nghiệp và các loại hình môi giới khác. Chính nhà môi giới là người cung cấp thông tin về pháp luật, chính sách của Nhà nước một cách đầy đủ và trung thực cho khách hàng từ việc dự án quy hoạch xây dựng như thế nào cho đến những những chính sách pháp luật mới thay đổi ảnh hưởng đến thị trường bất động sản ra sao? Sự linh hoạt nhạy bén cùng với sự trung thực của nhà môi giới sẽ tạo nên uy tín, thương hiệu cũng như sự tin cậy từ phía khách hàng. Tực tế thời gian qua một số nhà môi giới đã làm rất tốt, góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh bất động sản ở nước ta sôi động hơn. Bên cạnh đó vẫn còn tồn tại một số yếu kém cần phải thay đổi.

Continue reading

THẤY GÌ QUA HAI QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT YÊU CẦU CÔNG NHẬN VÀ CHO THI HÀNH TẠI VIỆT NAM BẢN ÁN CỦA TÒA ÁN NƯỚC NGOÀI

TRẦN THỊ HỒNG VIỆT

Nội dung vụ việc: 1.Bà DTNH cư trú tại Việt Nam và ông DTH cư trú tại Canada kết hôn theo quy định của pháp luật Việt Nam vào năm 2006. Sau khi kết hôn bà DTNH vẫn ở tại Việt Nam còn ông DTH sinh sống tại Canada. Sau đó ông DTH xin ly hôn với bà DTNH tại Canada.

Ngày 07/08/2008 Tòa án tối cao British Columbia, Canada cho ông DTH được ly hôn với bà DTNH theo bản án ly hôn số E080672. Về con chung và tài sản chung không có. Ngày 21/9/2009, bà DTNH có đơn yêu cầu Bộ Tư pháp công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án nêu trên. Đơn và các tài liệu kèm theo của bà DTNH được chuyển đến Tòa án có thẩm quyền của Việt Nam để giải quyết. Thụ lý đơn, thẩm phán được phân công giải quyết cho rằng do ông DTH đang cư trú tại Canada nên bà DTNH chưa đủ điều kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết nên ngày 26/01/2010 đã ra quyết định đình chỉ giải quyết yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt nam bản án của Tòa án nước ngoài. Các căn cứ đã viện dẫn Điều 342; Điều 343; khoản 1 Điều 344; điểm b khoản 1 Điều 354,; Điều 357 và Điều 358 Bộ luật tố tụng dân sự.

2.Bà GNP cư trú tại Việt Nam và ông TDD cư trú tại Hợp chủng quốc Hoa Kỳ kết hôn theo quy định của pháp luật Việt Nam. Sau dó ông TDD xin lý hôn với bà GNP tại Hoa Kỳ. Ngày 04/03/2009 Tòa Thượng thẩm bang California, hạt San Bernardino, hợp chủng quốc Hoa kỳ cho ông TDD ly hôn với bà GNP theo bản án ly hôn số FAMRS số 802358. Về con chung và tài sản chung không có. Ngày 01/08/2009 bà GNP có đơn gửi đến Bộ Tư pháp để yêu cầu công nhận và cho thi hành bản án nêu trên tại Việt Nam. Đơn và các tài liệu kèm theo của bà GNP được chuyển đến Tòa án có thẩm quyền của Việt Nam để giải quyết. Cùng lý lẽ như vụ việc trên, ngày 18/11/2009 Tòa án đã ra quyết định đình chỉ giải quyết yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt nam bản án của Tòa án nước ngoài. Căn cứ để viện dẫn Điều 194; Điều 342; Điều 343; khoản 1 Điều 344; điểm b khoản 1 Điều 354,; Điều 357 và Điều 358 Bộ luật tố tụng dân sự.

Continue reading