THÔNG TƯ SỐ 88/2010/TT-BTC NGÀY 15 THÁNG 6 NĂM 2010 CỦA BỘ TÀI CHÍNH HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN MỘT SỐ NỘI DUNG CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 96/2009/NĐ-CP NGÀY 30 THÁNG 10 NĂM 2009 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ VIỆC XỬ LÝ TÀI SẢN BỊ CHÔN GIẤU, BỊ CHÌM ĐẮM ĐƯỢC PHÁT HIỆN HOẶC TÌM THẤY THUỘC ĐẤT LIỀN, CÁC HẢI ĐẢO VÀ VÙNG BIỂN VIỆT NAM

Căn cứ Nghị định số 96/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ về việc xử lý tài sản bị chôn giấu, bị chìm đắm được phát hiện hoặc tìm thấy thuộc đất liền, các hải đảo và vùng biển Việt Nam;
Căn cứ Nghị định số 118/2008/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính;
Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 96/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ về việc xử lý tài sản bị chôn giấu, bị chìm đắm được phát hiện hoặc tìm thấy thuộc đất liền, các hải đảo và vùng biển Việt Nam (sau đây gọi chung là Nghị định số 96/2009/NĐ-CP) như sau:

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

1. Thông tư này hướng dẫn thực hiện một số nội dung sau:

a) Thành lập Hội đồng định giá, xác định giá trị tài sản bị chôn giấu, bị chìm đắm được tìm thấy;

b) Thanh toán các khoản chi phí liên quan đến việc thăm dò, khai quật, trục vớt, xử lý tài sản quy định tại khoản 2 Điều 12 và Điều 18 Nghị định số 96/2009/NĐ-CP; chi thưởng cho tổ chức, cá nhân quy định tại Điều 16 Nghị định số 96/2009/NĐ-CP và thanh toán phần giá trị của tài sản cho tổ chức, cá nhân ngẫu nhiên tìm thấy quy định tại Điều 17 Nghị định số 96/2009/NĐ-CP.

2. Trường hợp Điều ước quốc tế về xử lý tài sản bị chôn giấu, bị chìm đắm mà Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định tại Thông tư này thì thực hiện theo Điều ước quốc tế đó.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Tổ chức, cá nhân phát hiện hoặc tìm thấy tài sản bị chôn giấu, bị chìm đắm.

2. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý tài sản bị chôn giấu, bị chìm đắm được phát hiện hoặc tìm thấy.

Continue reading

THỦ TỤC ĐĂNG KÝ KINH DOANH CÒN BẤT CẬP

NGUYỄN MAI

Thành lập doanh nghiệp là yêu cầu tất yếu để đầu tư, phát triển kinh tế trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên người dân, doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế còn gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện các quy định về đăng ký kinh doanh.

Vốn pháp định còn hình thức

Điều 5 Nghị định 139/2007/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp quy định về ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và điều kiện kinh doanh, trong đó có quy định về vốn pháp định. Theo đó, có khoảng 16 ngành nghề kinh doanh yêu cầu phải có vốn pháp định. Tuy nhiên, Nghị định 139 không quy định rõ trình tự, thủ tục, cơ quan có thẩm quyền xác định về vốn pháp định. Trên thực tế, việc xác định vốn pháp định thường được thực hiện bởi ngân hàng trên cơ sở một khoản tiền nhà đầu tư gửi vào. Luật Doanh nghiệp, Nghị định 139/2007/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp, Nghị định 88/2006/NĐ-CP hướng dẫn thủ tục đăng ký kinh doanh cũng không hướng dẫn việc chứng minh vốn pháp định. Nội dung này quy định chung chung “văn bản xác nhận vốn pháp định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền”, nhưng cơ quan, tổ chức nào có thẩm quyền, văn bản xác nhận ra sao thì không cụ thể. Do đó, nhiều nhà đầu tư cho rằng, việc xác nhận vốn pháp định như hiện nay là hình thức, nhưng lại gây khó khăn cho doanh nghiệp. Các cơ quan quản lý cũng không kiểm soát được việc xác nhận có thực chất và doanh nghiệp đó có vốn pháp định hay không.

Chứng chỉ hành nghề chưa phù hợp

Tại khoản 4 Điều 14 Nghị định số 88/2006/NĐ-CP của Chính phủ về đăng ký kinh doanh quy định: “Bản sao hợp lệ chứng chỉ hành nghề của Giám đốc (Tổng giám đốc) và cá nhân khác quy định tại khoản 13 Điều 4 của Luật Doanh nghiệp đối với doanh nghiệp tư nhân kinh doanh các ngành, nghề mà theo quy định của pháp luật phải có chứng chỉ hành nghề”. Theo quy định hiện hành, hiện có khoảng 14 ngành nghề yêu cầu phải có chứng chỉ. Một số ngành nghề yêu cầu giám đốc (hoặc người đứng đầu cơ sở kinh doanh) phải có chứng chỉ hành nghề; ngành nghề khác thì chỉ yêu cầu chứng chỉ của người trực tiếp hoặc phụ trách hoạt động đó. Quy định này không phù hợp với thực tế, bởi Giám đốc là người quản lý chung, điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày của doanh nghiệp. Đối với hoạt động chuyên môn, doanh nghiệp có thể đi thuê nhân viên quản lý có đủ trình độ phụ trách và quản lý lĩnh vực kinh doanh tương ứng. Mặt khác, trong trường hợp công ty kinh doanh nhiều lĩnh vực thì một Giám đốc không thể có nhiều chứng chỉ hành nghề. Việc yêu cầu này chỉ có ý nghĩa về mặt hình thức vì trên thực tế, khi thành lập doanh nghiệp hoặc bổ sung ngành nghề kinh doanh theo quy định phải có chứng chỉ hành nghề, đa số chủ sở hữu “mượn” chứng chỉ để hợp pháp hóa về mặt thủ tục. Ngoài ra, những cá nhân có chứng chỉ hành nghề xét về mặt pháp lý chỉ là người lao động của doanh nghiệp, hợp đồng lao động với doanh nghiệp có thể chấm dứt bất kỳ lúc nào, cơ quan đăng ký kinh doanh không thể kiểm soát được.

Continue reading

MỘT DẠNG VI PHẠM PHỔ BIẾN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

PHẠM DÂN

Theo quy định tại Điều 4 và 5 Luật Thi hành án dân sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan trong phạm vi trách nhiệm của mình phải chấp hành nghiêm chỉnh các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật; trong quá trình tổ chức thi hành án, quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được tôn trọng và pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên trong thực tế, các quy định này không phải lúc nào cũng được thực hiện nghiêm túc.

Khi thụ lý, giải quyết các đơn khởi kiện tranh chấp về quan hệ vay mượn, mua bán, tặng cho tài sản (tiền, vàng hoặc lợi ích vật chất khác), Tòa án thường phải tiến hành hòa giải rất nhiều lần, chủ yếu thuyết phục, động viên các bên thống nhất với nhau về cách thức, phương pháp và thời gian trả nợ nhằm giảm bớt sự hao tốn về thời gian và công sức. Trong các buổi hòa giải, nguyên đơn bao giờ cũng đưa ra yêu cầu trả nhanh và phải trả một lần; ngược lại bị đơn thường cố “kèo nài” được trả chậm, trả nhiều lần, làm cho không khí hòa giải diễn ra căng thẳng. Tuy nhiên, nếu các bên đều thể hiện thiện chí của mình thì cách thức, phương pháp trả nợ cũng có thể được thống nhất một cách nhanh chóng. Việc thỏa thuận này được pháp luật tôn trọng, dựa trên nguyên tắc “tự do, tự nguyện cam kết thỏa thuận” theo quy định của Bộ luật Dân sự và không trái với đạo đức xã hội. Tuy nhiên, thỏa thuận trả như thế nào, bao nhiêu lần, mỗi lần bao nhiêu… thì Tòa án phải ban hành quyết định (có giá trị như một bản án), trên cơ sở nội dung các bên đã thống nhất trong biên bản hòa giải. Khi yêu cầu của mỗi bên không được đáp ứng thì Tòa án mới quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung. Bản án Tòa tuyên trong trường hợp này với tinh thần buộc bị đơn phải trả nợ một lần; các quyết định công nhận có ghi rõ thời gian, số tiền phải trả kèm theo các điều kiện khác theo thoả thuận. Luật Dân sự còn quy định, nếu người phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ thì ngoài việc có nghĩa vụ trả nợ gốc còn phải chịu lãi suất ngân hàng theo từng thời điểm, tương ứng với thời gian chậm thanh toán.

Continue reading