MỘT SỐ NHẬN XÉT PHẢN BIỆN VỀ DỰ THẢO LUẬT CẠNH TRANH (DỰ THẢO 09) NĂM 2004

Tác giả viết bài này vào thời điểm Luật Cạnh tranh năm 2004 đang được xây dựng ở Dự thảo 9. Một số thông tin không còn phù hợp với thời điểm hiện tại. Song có rất nhiều thông tin còn hữu ích cho việc học tập và nghiên cứu pháp luật.

GS.TS. NGUYỄN VÂN NAM

Do thời gian rất hạn chế, những nhận xét có tính chất phản biện Dự thảo Luật Cạnh Tranh của tôi dưới đây chủ yếu tập trung vào những vấn đề có tính nguyên tắc có khả năng ảnh hưởng rất tiêu cực đến quá trình đàm phán gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO và sẽ gây ra những trở ngại lớn trong quá trình thực thi Luật Cạnh Tranh dẫn đến những hậu qủa đáng tiếc cho quá trình hội nhập kinh tế thế giới của chúng ta.

Trước mắt, tôi cũng sẽ chỉ tập trung nhận xét về Luật Chống Cạnh Tranh Không Lành Mạnh do tính chất quyết định của nó trong việc bảo đảm quyền tự do hoạt động kinh tế của các chủ thể tham gia thị trường, phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội và truyền thống đạo lý của nước ta.

Những phân tích phản biện sau đây được định hướng theo tiêu chuẩn pháp lý tối thiểu mà Tổ chức Thương mại Thế giới WTO yêu cầu các nước thành viên phải thực hiện.

A. TIÊU CHUẨN PHÁP LÝ TỐI THIỂU CỦA WTO.

I. Những vấn đề có tính nguyên tắc.

Với mục đích thúc đẩy tự do hóa thương mại toàn cầu, WTO qui định khung pháp lý- có tính chất định chế chung- cho các nước thành viên trong hoạt động thương mại giữa họ ( Điều II khoản 1 WTO). Tiêu chuẩn pháp lý tối thiểu này của WTO được xây dựng trên hai trụ cột có tính chất bắt buộc đối với mỗi nước thành viên là:

– Nhà nước pháp quyền.

– Hệ thống luật pháp ổn định, minh bạch, có tính dự đoán và có khả năng thực thi.

1.Nhà nước pháp quyền:

a) Nguyên tắc chung:

Mọi hoạt động của Nhà nước và đời sống xã hội đều phải gắn liền và tuân theo pháp luật, bảo đảm công lý.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 1065/TTg – ĐMDN NGÀY 23 THÁNG 6 NĂM 2010 CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ HƯỚNG DẪN MỘT SỐ VƯỚNG MẮC TRONG CHUYỂN ĐỔI CÔNG TY NHÀ NƯỚC THÀNH CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN

Kính gửi:

– Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;
– Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
– Các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước.

Chính phủ đã ban hành Nghị định số 25/2010/NĐ-CP ngày 19 tháng 3 năm 2010 về chuyển đổi công ty nhà nước thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và tổ chức quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu. Trong quá trình triển khai thực hiện Nghị định nói trên có một số vướng mắc, Thủ tướng Chính phủ hướng dẫn thực hiện một số điểm sau đây:

1. Về tên gọi và chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên:

Về tên doanh nghiệp: công ty mẹ của tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, tổng công ty thuộc tập đoàn kinh tế khi chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên được giữ nguyên tên như khi là công ty nhà nước.

Trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp bổ sung thêm loại hình doanh nghiệp: công ty trách nhiệm hữu hạn.

Về chủ sở hữu: công ty mẹ tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập thì trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp ghi chủ sở hữu là Nhà nước.

2. Về Kiểm soát viên trong công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên:

a) Kiểm soát viên phải có các tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định tại Điều 71 Luật Doanh nghiệp và do chủ sở hữu đã được quy định tại Điều 3 Nghị định số 25/2010/NĐ-CP bổ nhiệm, căn cứ vào từng doanh nghiệp và lĩnh vực chủ sở hữu cần giám sát mà cử Kiểm soát viên có trình độ chuyên môn thích hợp nhưng ít nhất phải có một Kiểm soát viên chuyên trách về lĩnh vực tài chính kế toán doanh nghiệp.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 69/2010/NĐ-CP NGÀY 21 THÁNG 6 NĂM 2010 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ AN TOÀN SINH HỌC ĐỐI VỚI SINH VẬT BIẾN ĐỔI GEN, MẪU VẬT DI TRUYỀN VÀ SẢN PHẨM CỦA SINH VẬT BIẾN ĐỔI GEN

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Bảo vệ môi trường ngày 29 tháng 11 năm 2005;
Căn cứ Luật Đa dạng sinh học ngày 13 tháng 11 năm 2008;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định về an toàn sinh học đối với sinh vật biến đổi gen, mẫu vật di truyền và sản phẩm của sinh vật biến đổi gen.

Việc quản lý an toàn sinh học đối với sinh vật biến đổi gen, mẫu vật di truyền và sản phẩm của sinh vật biến đổi gen sử dụng làm dược phẩm được thực hiện theo quy định của pháp luật về dược phẩm.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Nghị định này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân trong nước; tổ chức, cá nhân nước ngoài (sau đây gọi tắt là tổ chức, cá nhân) có hoạt động liên quan đến sinh vật biến đổi gen, mẫu vật di truyền và sản phẩm của sinh vật biến đổi gen trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Nghị định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Giấy chứng nhận an toàn sinh học là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp để chứng nhận sinh vật biến đổi gen an toàn đối với môi trường và đa dạng sinh học và được phép phóng thích vào môi trường trong các điều kiện cụ thể.

2. Sản phẩm của sinh vật biến đổi gen là sản phẩm có chứa toàn bộ hoặc một phần thành phần có nguồn gốc từ sinh vật biến đổi gen, bao gồm cả mẫu vật di truyền của sinh vật biến đổi gen không có khả năng tự tạo cá thể mới trong điều kiện tự nhiên.

Continue reading