TRAO ĐỔI VỀ GÓP VỐN BẰNG THƯƠNG HIỆU

LÝ QUÍ TRUNG

Trước bài viết này, đã có nhiều bài viết khác trong và ngoài SAGA, của nhiều nhà nghiên cứu, luật sư,… về vấn đề thương hiệu và sử dụng thương hiệu làm vốn góp kinh doanh. Với chuyên môn của mình, tôi cũng xin đóng góp một số nhận định về vấn đề này.

Thứ nhất, xin khẳng định ngay các Chuẩn mực kế toán Việt Nam hiện hành không hề ngăn cấm việc góp vốn bằng nhãn hiệu (hay “thương hiệu” như các doanh nghiệp thường gọi). Chuẩn mực kế toán chỉ hướng dẫn phương pháp kế toán để phản ánh các nghiệp vụ phát sinh chứ không quy định những nghiệp vụ nào doanh nghiệp được phép tiến hành (và đương nhiên không cấm doanh nghiệp góp vốn bằng nhãn hiệu).

Có tác giả đã viện dẫn quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ và Nghị định 11/2005/NĐ-CP để chứng minh rằng “nhãn hiệu” đủ điều kiện là tài sản, qua đó cho rằng quy định của Chuẩn mực kế toán hiện hành là không hợp lý khi không cho phép ghi nhận thương hiệu (tạo ra từ nộ bộ doanh nghiệp) là tài sản cố định vô hình. Có lẽ tác giả đã nhầm lẫn giữa tiêu chuẩn để xác định một khoản mục thỏa mãn định nghĩa tài sản và tiêu chuẩn để ghi nhận tài sản đó trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp.

Chuẩn mực kế toán hiện hành không hề bác bỏ sự tồn tại của tài sản cố định vô hình là nhãn hiệu. Trên thực tế đối chiếu với Chuẩn mực kế toán số 04 – TSCĐ vô hình và Chuẩn mực Kế toán số 01 – Chuẩn mực chung thì “nhãn hiệu” hoàn toàn thoả mãn định nghĩa của một tài sản (doanh nghiệp kiểm soát được – nếu đã đăng ký bảo hộ; có khả năng mang lại lợi ích kinh tế trong tương lai; hình thành từ các giao dịch trong quá khứ). Continue reading

CẢNH GIÁC CÁC HỢP ĐỒNG TẠM TÍNH TRONG LĨNH VỰC ĐỊA ỐC

LS. NGUYN ĐĂNG LIÊM – Đoàn Lut sư TPHCM

Vừa qua một thân chủ của tôi là giảng viên đại học đề nghị luật sư của VPLS Quang Trung tư vấn về “hợp đồng mua bán nhà của một dự án” ở địa bàn P.11, Q.3, TP.HCM mà hiện nay chủ đầu tư dự án đang có nhiều văn bản thúc hối anh ta phải nhanh chóng “chia sẻ” chi phí phát sinh lên đến 50% trị giá căn hộ đã đặt mua theo hợp đồng từ tháng 10/2003, nếu không sẽ hoàn trả tiền đặt cọc đã trên 50% trị giá căn hộ.

Qua nghiên cứu nội dung hợp đồng, cho thấy bên A (chủ đầu tư) rào đón rất chặt chẽ bằng các điều khoản như: Điều 2: về giá trị hợp đồng tạm tính  của căn hộ đặt mua là 353.600.136 đồng. Điều 5: về trách nhiệm bên B (tức khách hàng, người đặt mua căn hộ chung cư) nếu không thực hiện đúng hợp đồng, không đóng đủ tiền theo từng giai đoạn, thì bên A sẽ đương nhiên hủy bỏ hợp đồng và trả lại tiền đã nộp của bên B mà không tính lãi. Trong khi phần qui định về trách nhiệm của bên A (chủ đầu tư) lại rất đơn giản là: “giao cho bên B toàn bộ hồ sơ hợp lệ về nhà ở” (Điều 4), thậm chí còn lẫn lộn giữa trách nhiệm và quyền khi qui định: “không chấp nhận việc trả lại nhà ở sau khi bên B đã nhận” (ở Điều 4 khoản 2). Hậu quả của việc qui định ràng buộc trách nhiệm bên A không rõ ràng, chặt chẽ dẫn đến chủ đầu tư (bên A) đòi bên B phải đóng bổ sung thêm đến 189.400.000đ (trên 50% trị giá căn hộ tạm tính ban đầu) với nhiều lý do được nại ra (trong đó có không ít lý do không chính đáng, chẳng hợp lý chút nào) như: do công ty (bên A) phải làm nghĩa vụ tài chính với thành phố (nộp tiền sử dụng đất), do phải chuẩn bị công tác đầu tư (khảo sát, thiết kế, giải phóng mặt bằng vv…), do mua sắm vật tư phục vụ thi công chung cư, do giá cả vật tư, nguyên liệu biến động tăng cao gấp 3 lần so với năm 2003, do trượt giá nhân công, do lãi vay ngân hàng hàng tháng, do lạm phát. Đúng là có những lý do bên A nại ra rất  “kỳ cục” nếu nhìn ở góc độ nhà đầu tư, chủ dự án. Nhưng khách hàng đành “ngậm bồ hòn”, bị bắt buộc, miễn cưỡng phải mở hầu bao chi thêm, nếu không sẽ bị hoàn trả lại tiền không được tính lãi. Rõ ràng bên B (khách hàng cần nhà để ổn định cư trú) đã gánh hết hậu quả từ việc đàm phán thiếu bình đẳng và quá hời hợt trong đàm phán, ký kết hợp đồng với bên A ngay từ đầu. Bên A đã cầm đằng cán, còn bên B nắm phải đằng lưỡi với quá nhiều rủi ro. Một dự thảo hợp đồng nguyên tắc chuyển nhượng đất xây dựng trường học khác (do anh bạn nhà giáo nhờ tư vấn), bên A (chủ dự án) còn chủ động đưa ra điều kiện tạm tính cả về diện tích chuyển nhượng và điều kiện bên B phải thanh toán chặt chẽ làm 4 đợt trong thời gian có 2 tháng (hai tháng) mà không hề ràng buộc mỗi đợt thanh toán, bên A phải đáp ứng cụ thể về tiến độ bàn giao quyền sử dụng đất và đầu tư hạ tầng kỹ thuật như thế nào. Continue reading

TỪNG BƯỚC HOÀN THIỆN CÁC QUI ĐỊNH PHÁP LÝ LIÊN QUAN ĐẾN CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM NGHỀ NGHIỆP LUẬT SƯ

TS.LS. PHAN TRUNG HOÀI – Đoàn Luật sư TPHCM

I/- Khuôn khổ pháp lý và sự cần thiết về việc bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp luật sư Một trong những nguyên tắc hành nghề luật sư được quy định trong khoản 5 điều 5 Luật Luật sư năm 2006 là luật sư phải “chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động nghề nghiệp luật sư”.

Các thành viên của tổ chức hành nghề luật sư phải chịu trách nhiệm liên đới bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi nghĩa vụ của tổ chức hành nghề luật sư. Khoản 5 và 6 điều 40 Luật Luật sư quy định, một trong những nghĩa vụ của tổ chức hành nghề luật sư là phải bồi thường thiệt hại do lỗi mà luật sư của tổ chức mình gây ra cho khách hàng trong khi thực hiện tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng, dịch vụ pháp lý khác và phải mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho luật sư của tổ chức mình theo quy định của pháp luật. Liên quan việc hành nghề tư vấn pháp luật của tổ chức luật sư nước ngoài tại Việt Nam, điều 38 và 39 Nghị định số 87/2003/NĐ-CP ngày 22-7-2003 của Chính phủ quy định tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại vật chất do lỗi của luật sư của tổ chức mình gây ra cho khách hàng và có nghĩa vụ mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho luật sư của mình hành nghề tại Việt Nam.
Nhìn từ khía cạnh kinh doanh bảo hiểm, đó là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. Sự kiện bảo hiểm được hiểu là sự kiện khách quan do các bên thoả thuận hoặc pháp luật quy định mà khi sự kiện đó xảy ra thì doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm. Việt Nam đã ban hành Luật kinh doanh bảo hiểm, có hiệu lực từ 1-4-2001, nhưng chưa có các quy định pháp lý điều chỉnh đối với loại hình nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp luật sư. Continue reading

TRANH CHẤP BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO DANH DỰ, NHÂN PHẨM VÀ UY TÍN BỊ XÂM PHẠM: CỞI ĐỒ, ĐI KIỆN . . .

LÊ NGA

TAND Q.12, TP.HCM vừa tiếp nhận vụ kiện đòi bồi thường khá hy hữu và đây là lần đầu tiên một siêu thị bị kiện vì lý do đã đi quá giới hạn trong việc kiểm tra hàng hóa, xúc phạm đến danh dự khách hàng.

Tuột áo, cởi quần giữa đám đông

Nguyên đơn trong vụ kiện này là bà Nguyễn Thị Kim Định, Giám đốc Công ty TNHH TM XD DV Thủy Tiên (ngụ quận Gò Vấp, TP.HCM) và bị đơn là siêu thị Metro Hiệp Phú (phường Tân Thới Hiệp, Q.12, TP.HCM).

Theo đơn khởi kiện, bà Định trình bày chiều ngày 18.5, bà đến siêu thị Metro Hiệp Phú mua hàng. Sau khi hàng được đẩy ra cửa an ninh thì máy soi chiếu phát ra tín hiệu. Căn cứ vào đó bảo vệ siêu thị đã xác định bà Định là đối tượng bị kiểm tra. Ngay sau đó nhân viên bảo vệ yêu cầu khám xét người bà tại nơi công cộng. Bà Định từ chối, đề nghị phải có phòng riêng và lập biên bản kèm theo sự chứng kiến của đại diện BGĐ siêu thị.

Sau khoảng 20 phút không thấy có ai đến để làm việc, bà Định bỏ về. Lúc này, lực lượng bảo vệ giằng co làm cho chiếc áo đang mặc bị tuột khỏi người của bà Định. Bức xúc và muốn chứng minh mình không lấy cắp bất kỳ hàng hóa gì của siêu thị nên bà Định cởi nốt chiếc quần dài ra để bảo vệ kiểm tra. Continue reading

TRANH CHẤP QUYỀN GIÁM HỘ: GIÀNH GIẬT NUÔI NGƯỜI TÂM THẦN

TRUNG TÍNH

Một bên ngờ rằng bên kia giành nuôi ông T. để giành thừa kế. Buổi hòa giải diễn ra cả nửa ngày trời và chỉ toàn những lời đấu khẩu nặng nhẹ nhau của hai bên, không bên nào chịu nhượng bộ bên nào.

Mẹ nuôi mất chưa được bao lâu thì ông T. (bị bệnh tâm thần) lại rơi vào hoàn cảnh trớ trêu: Chị của mẹ nuôi và em ruột đều mong muốn được nuôi dưỡng ông. Hòa giải không xong, vụ việc đang có nhiều khả năng sẽ ra đến tòa…

Cô, cháu giành nhau

Hơn 40 năm trước, ông T. được mẹ nuôi (cũng là cô ruột) đưa về chăm sóc, nuôi nấng. Bà đã chạy khắp nơi chữa trị căn bệnh thiểu năng trí não cho ông nhưng đành bất lực. Đầu năm nay, biết mình không qua khỏi, bà đã nhờ một người chị giúp mình nuôi ông T. Thế rồi khi bà mất đi, một người xưng là em của ông T. đã đến xin rước ông về nuôi dưỡng, điều trị.

Người cô đang nuôi ông T. phản đối kịch liệt nên mới đây vụ việc được đưa ra ấp hòa giải. Tại đây, người em ông T. bảo vì chiến tranh khắc nghiệt nên mẹ đành phải nhờ cô nuôi em. Nay cô mất, là tình cảm ruột thịt nên bà có quyền đưa ông về chăm dưỡng… Continue reading