COI CHỪNG VI PHẠM HÌNH THỨC HỢP ĐỒNG

signing a contract - photo/picture definition - signing a contract word and phrase imageLÊ TRỌNG DŨNG – Văn phòng Luật sư Gia Phạm

Vụ án dưới đây chỉ là một trong số rất nhiều vụ án tranh chấp hợp đồng liên quan đến việc vi phạm hình thức ở Việt Nam.

Vợ chồng ông A rất thân với vợ chồng ông B và cho vợ chồng ông B mượn nhà để sinh sống. Khi cơ hội đến, vợ chồng ông A đã dùng căn nhà của mình đem thế chấp ngân hàng để vay tiền kinh doanh. Nhưng do việc làm ăn của vợ chồng ông A không thuận lợi, nợ nần quá nhiều, khiến vợ chồng ông B phải cho vợ chồng ông A vay tiền để trả ngân hàng và trang trải nợ nần.

Trước tình hình đó, vợ chồng ông A gợi ý bán căn nhà cho vợ chồng ông B. Sau nhiều lần thỏa thuận, hai bên đã lập bốn văn bản mua bán căn nhà có đầy đủ chữ ký của các bên nhưng không đem đi công chứng, chứng thực. Đang trong quá trình sang tên sổ đỏ, vợ chồng ông A lại làm đơn ra tòa yêu cầu hủy thỏa thuận mua bán căn nhà, buộc vợ chồng ông B phải trả lại nhà.

Qua các cấp xét xử, sơ thẩm rồi đến phúc thẩm, tòa án đều xác nhận việc mua bán căn nhà là có thực, song tuyên bố chấp nhận yêu cầu xin hủy thỏa thuận mua bán căn nhà của vợ chồng ông A và tuyên bố hợp đồng này vô hiệu. Lý do mà tòa án đưa ra là thỏa thuận mua bán căn nhà chưa được hai bên lập hợp đồng, công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật, vi phạm quy định về hình thức hợp đồng.

Tuyên bố hợp đồng mua bán căn nhà vô hiệu, tòa án buộc ông vợ chồng ông B phải trả lại căn nhà; ngược lại, vợ chồng ông A có nghĩa vụ trả lại cho vợ chồng ông B tiền bán căn nhà đã nhận.

Vi phạm về hình thức hợp đồng

Nhằm đảm bảo lợi ích công cộng, sự quản lý của nhà nước, lợi ích của các bên tham gia hợp đồng cũng như lợi ích của người khác, pháp luật quy định hợp đồng liên quan đến tài sản lớn phải được thể hiện dưới một dạng hình thức nhất định.

Continue reading

MỘT SỐ KINH NGHIỆM PHÁP ĐIỂN HÓA CỦA HOA KỲ

TRẦN VĂN LỢI – Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật, Bộ Tư pháp

Ý tưởng pháp điển hóa đã có từ rất sớm ở Mỹ. Căn cứ vào quá trình hình thành các Bộ tập hợp các đạo luật cho đến khi có các Bộ pháp điển, có thể thấy pháp điển hóa ở Mỹ có một quá trình lịch sử và nó hoàn toàn xuất phát từ nhu cầu thực tiễn. Tất nhiên, cùng với ý chí, quyết tâm chính trị, Bộ pháp điển đã ngày càng được hoàn thiện và mau chóng trở thành công cụ quan trọng cho các nhà nghiên cứu, luật sư, công dân Mỹ.

Hiện nay tại Hoa Kỳ tồn tại song song hai Bộ pháp điển: United States Code (U.S Code) Bộ pháp điển gồm các đạo luật của Nghị viện và Code of Federal Regulations (C.F.R) Bộ pháp điển gồm các quy định của các cơ quan hành pháp liên bang.

Bộ pháp điển các luật liên bang – Bộ luật Hoa Kỳ (U.S. Code): Bộ pháp điển này chỉ chứa đựng những đạo luật của Nghị viện mà không có các quy định do cơ quan hành pháp ban hành trong quá trình lập quy. Bộ pháp điển U.S.Code được chia thành 50 chủ đề khác nhau, được tổ chức một cách logíc theo lĩnh vực lập pháp như: Nghị viện, Tổng thống, nông nghiệp, thuế quan, hải quan, giao thông, thương mại, nông nghiệp, giáo dục, tài chính – tiền tệ, phá sản,…. Theo lời nói đầu của Bộ pháp điển (U.S. Code) thì từ năm 1897 đến năm 1907 đã có một ủy ban tiến hành tập hợp được khối lượng lớn các luật nhưng chưa hoàn thành công việc này. Trong những năm hai mươi của thế kỷ hai mươi, một số nghị sỹ của Quốc hội đã khôi phục lại dự án pháp điển hóa và kết quả là Quốc hội đã thông qua Bộ pháp điển vào năm 1926. Cách làm Bộ pháp điển US.Code chính là pháp điển từng chủ đề một, chính thức hóa từng phần của Bộ pháp điển theo thời gian. Hiện tại, sau 85 năm, mới chỉ có 26 trong tổng số 50 chủ đề được chính thức hóa. Những chủ đề còn lại đang tồn tại dưới dạng “luật tham khảo” trong khi đó các luật gốc vẫn tiếp tục có hiệu lực.

Bộ pháp điển các quy định của cơ quan hành chính liên bang (C.F.R): Các quy định pháp luật hiện hành được pháp điển hóa, sắp xếp theo chủ đề gồm 50 chủ đề tương tự với Bộ pháp điển các luật của liên bang (U.S Code). Mỗi quyển của Bộ pháp điển các quy định của cơ quan hành chính liên bang được chia thành chương và phần. Các chương thường mang tên của cơ quan ban hành. Số lượng tập của mỗi quyển – lĩnh vực khác nhau tùy theo khối lượng quy phạm. Tổng cộng hiện nay ứng với 50 chủ đề đã có tới 216 tập/cuốn và số lượng này sẽ còn tăng lên.

Continue reading

QUYẾT ĐỊNH SỐ 16/2010/QĐ-UBND NGÀY 05/05/2010 CỦA UBND THÀNH PHỐ HÀ NỘI quy định về miễn giảm tiền sử dụng đất đối với người có công với cách mạng và hỗ trợ tiền sử dụng đất đối với người có công với cách mạng khi được Nhà nước giao đất tái định cư để giải phóng mặt bằng trên địa bàn thành phố Hà Nội

ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND ngày 26/11/2003;
Căn cứ Luật đất đai năm 2003;
Căn cứ Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 3/12/2004 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất;
Căn cứ Quyết định số 118/TTg ngày 27/2/1996 của Thủ tướng Chính phủ về việc hỗ trợ người có công với cách mạng cải thiện nhà ở; Quyết định số 20/2000/QĐ-TTg ngày 3/2/2000 của Thủ tướng Chính phủ về việc hỗ trợ người hoạt động cách mạng từ trước Cách mạng tháng 8 năm 1945 cải thiện nhà ở; Quyết định số 117/2007/QĐ-TTg ngày 25/7/2007 của Thủ tướng Chính phủ việc sửa đổi bổ sung một số điều của Quyết định số 118/TTg ngày 27/2/1996;
Căn cứ Công văn số 87/HĐND ngày 27/4/2010 của Thường trực Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội về việc tiếp tục một số chính sách hỗ trợ người có công trên địa bàn Thành phố Hà Nội;
Xét đề nghị của Liên ngành: Cục Thuế, Sở Tài chính, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Xây dựng, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội Hà Nội tại Tờ trình số 3929/LN-TT ngày 28/8/2009 về việc miễn giảm tiền sử dụng đất đối với người có công với cách mạng và Báo cáo thẩm định số 1804/STP-VBPQ ngày 29/10/2009 của Sở Tư pháp,

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1. Quy định về thẩm quyền quyết định miễn giảm tiền sử dụng đất đối với người có công với cách mạng

1. Giao Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã quyết định miễn, giảm tiền sử dụng đất cho đối tượng là người có công với cách mạng khi được giao đất, chuyển mục đích sử dụng đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định đối với các thửa đất thuộc địa bàn quản lý.

Continue reading

QUYẾT ĐỊNH SỐ 16/2010/QĐ-UBND NGÀY 05 THÁNG 05 NĂM 2010 CỦA UBND THÀNH PHỐ HÀ NỘI QUY ĐỊNH VỀ MIỄN GIẢM TIỀN SỬ DỤNG ĐẤT ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG VÀ HỖ TRỢ TIỀN SỬ DỤNG ĐẤT ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG KHI ĐƯỢC NHÀ NƯỚC GIAO ĐẤT TÁI ĐỊNH CƯ ĐỂ GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND ngày 26/11/2003;
Căn cứ Luật đất đai năm 2003;
Căn cứ Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 3/12/2004 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất;
Căn cứ Quyết định số 118/TTg ngày 27/2/1996 của Thủ tướng Chính phủ về việc hỗ trợ người có công với cách mạng cải thiện nhà ở; Quyết định số 20/2000/QĐ-TTg ngày 3/2/2000 của Thủ tướng Chính phủ về việc hỗ trợ người hoạt động cách mạng từ trước Cách mạng tháng 8 năm 1945 cải thiện nhà ở; Quyết định số 117/2007/QĐ-TTg ngày 25/7/2007 của Thủ tướng Chính phủ việc sửa đổi bổ sung một số điều của Quyết định số 118/TTg ngày 27/2/1996;
Căn cứ Công văn số 87/HĐND ngày 27/4/2010 của Thường trực Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội về việc tiếp tục một số chính sách hỗ trợ người có công trên địa bàn Thành phố Hà Nội;
Xét đề nghị của Liên ngành: Cục Thuế, Sở Tài chính, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Xây dựng, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội Hà Nội tại Tờ trình số 3929/LN-TT ngày 28/8/2009 về việc miễn giảm tiền sử dụng đất đối với người có công với cách mạng và Báo cáo thẩm định số 1804/STP-VBPQ ngày 29/10/2009 của Sở Tư pháp,

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1. Quy định về thẩm quyền quyết định miễn giảm tiền sử dụng đất đối với người có công với cách mạng

1. Giao Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã quyết định miễn, giảm tiền sử dụng đất cho đối tượng là người có công với cách mạng khi được giao đất, chuyển mục đích sử dụng đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định đối với các thửa đất thuộc địa bàn quản lý.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 47/2010/NĐ-CP NGÀY 06 THÁNG 05 NĂM 2010 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH XỬ PHẠT HÀNH CHÍNH VỀ HÀNH VI VI PHẠM PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Bộ luật Lao động ngày 23 tháng 6 năm 1994; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động ngày 02 tháng 4 năm 2002; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động ngày 29 tháng 11 năm 2006; Luật sửa đổi, bổ sung Điều 73 của Bộ luật Lao động ngày 02 tháng 4 năm 2007;
Căn cứ Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính ngày 02 tháng 7 năm 2002; Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính ngày 02 tháng 4 năm 2008 (sau đây gọi chung là Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính);
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

1. Nghị định này quy định các hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, mức phạt, các biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền, thủ tục xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm pháp luật lao động.

2. Pháp luật lao động được quy định tại Nghị định này bao gồm những quy định trong Bộ luật Lao động và các văn bản hướng dẫn chi tiết thi hành Bộ luật Lao động.

3. Nghị định này không áp dụng đối với các hành vi vi phạm pháp luật lao động thuộc các lĩnh vực dạy nghề, học nghề; đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; bảo hiểm xã hội.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật lao động quy định tại Nghị định này.

Cá nhân, tổ chức nước ngoài vi phạm hành chính pháp luật lao động trong phạm vi lãnh thổ, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng bị xử phạt hành chính theo quy định của Nghị định này, trừ trường hợp Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.

Continue reading

QUYẾT ĐỊNH SỐ 613/QĐ-TTg NGÀY 06 THÁNG 05 NĂM 2010 CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ VỀ VIỆC TRỢ CẤP HÀNG THÁNG CHO NHỮNG NGƯỜI CÓ TỪ ĐỦ 15 NĂM ĐẾN DƯỚI 20 NĂM CÔNG TÁC THỰC TẾ ĐÃ HẾT THỜI HẠN HƯỞNG TRỢ CẤP MẤT SỨC LAO ĐỘNG

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

Quyết định này quy định trợ cấp hàng tháng, chế độ bảo hiểm y tế và trợ cấp mai táng phí đối với người hưởng trợ cấp mất sức lao động hàng tháng đã hết hạn hưởng trợ cấp, không thuộc diện được tiếp tục hưởng trợ cấp mất sức lao động hàng tháng theo quy định tại Quyết định số 60/HĐBT ngày 01 tháng 3 năm 1990 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ), Quyết định số 812/TTg ngày 12 tháng 12 năm 1995 của Thủ tướng Chính phủ mà có thời gian công tác thực tế từ đủ 15 năm đến dưới 20 năm.

Điều 2. Điều kiện hưởng trợ cấp hàng tháng

Đối tượng quy định tại Điều 1 Quyết định này khi hết tuổi lao động (nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi) thì được hưởng trợ cấp hàng tháng.

Những người thuộc diện trên mà đã hết tuổi lao động trước ngày Quyết định này có hiệu lực thi hành thì được hưởng trợ cấp kể từ ngày 01 tháng 5 năm 2010.

Điều 3. Mức trợ cấp hàng tháng

1. Mức trợ cấp hàng tháng bằng mức trợ cấp đang hưởng của đối tượng quy định tại Quyết định số 91/2000/QĐ-TTg ngày 04 tháng 8 năm 2000 của Thủ tướng Chính phủ và được điều chỉnh theo quy định của Chính phủ.

2. Người hưởng trợ cấp hàng tháng theo Quyết định này được hưởng bảo hiểm y tế; khi chết, người lo mai táng được hưởng tiền mai táng phí theo quy định của pháp luật bảo hiểm xã hội hiện hành.

Continue reading

VI PHẠM PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG – NHÌN TỪ GÓC ĐỘ KINH TẾ

TUẤN HOÀNG

Tình trạng vi phạm pháp luật lao động tại các doanh nghiệp đã trở nên phổ biến. Phân tích hơn 882 vụ tranh chấp lao động tập thể xảy ra trên địa bàn TPHCM từ 1995 đến nay đều thấy có yếu tố vi phạm pháp luật lao động của người sử dụng lao động gây thiệt hại quyền lợi người lao động. Việc thanh tra, kiểm tra tại các doanh nghiệp cũng cho thấy các quy định pháp luật lao động không được các doanh nghiệp tự giác tuân thủ. Vậy đâu là nguyên nhân?

Tuân thủ pháp luật: chi phí lớn và chưa hợp lý

Tiết giảm chi phí, nâng cao lợi nhuận là yếu tố sống còn hàng đầu của doanh nghiệp. Do đó, để xây dựng ý thức tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp, nhà làm luật cần lưu tâm nội dung này. Khi doanh nghiệp phải bỏ ra nhiều khoản chi phí cho việc thực hiện các yêu cầu pháp luật đặt ra, mà những yêu cầu này vốn không hợp lý và chưa gắn liền với lợi ích thiết thân của doanh nghiệp, người lao động thì khuynh hướng không tuân thủ sẽ trở nên phổ biến.

Một ví dụ điển hình, theo quy định tại điều 183 Bộ luật Lao động, người sử dụng lao động có trách nhiệm lập sổ lao động cho người lao động. Với quy định này, Nhà nước mong muốn sổ lao động sẽ là công cụ hữu hiệu chứng minh quá trình làm việc, đào tạo của người lao động, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tuyển dụng đồng thời, qua đó cơ quan quản lý nhà nước cũng đánh giá được một cách chính xác các dữ liệu về lực lượng lao động hiện tại trên địa bàn.

Tuy nhiên, trên thực tế các mục đích trên không thực hiện được do thiếu quy định về các cơ chế hỗ trợ. Vì sổ lao động có thể thay thế bằng sơ yếu lý lịch theo mẫu của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, nên để đơn giản hóa thủ tục và tránh các rắc rối với doanh nghiệp cũ, người lao động thường có khuynh hướng sử dụng sơ yếu lý lịch thay cho sổ lao động khi ứng tuyển ở doanh nghiệp mới.

Continue reading

VIỆT NAM 1918 – 1945, GIỚI VÀ HIỆN ĐẠI: SỰ TRỖI DẬY NHỮNG NHẬN THỨC VÀ TRẢI NGHIỆM MỚI

BÙI TRÂN PHƯỢNG

Lời giới thiệu của Thời Đại Mới: Bài viết mà Thời Đại Mới hân hạnh giới thiệu dưới đây là bản dịch bài trình bày luận văn tiến sĩ sử học của bà Bùi Trân Phượng trước hội đồng giám khảo trường Đại Học Lyon II (Pháp) năm 2008. Nhan đề của luận văn là: "Viet Nam 1918-1945, genre et modernité. Emergence de nouvelles perceptions et expérimentations" ("Việt Nam 1918-1945, giới tính và hiện đại. Sự trỗi dậy của những nhận thức mới và kinh nghiệm mới").

Đây là một công trình nghiên cứu quan trọng và tiên phong về lịch sử giới tính và vai trò của phụ nữ Việt Nam trong công cuộc hiện đại hóa xã hội, gắn liền với các phong trào ái quốc, chống thực dân, tranh đấu cho độc lập của đất nước trong nửa đầu thế kỳ 20. Tầm quan trọng của luận văn trước tiên biểu lộ qua phương pháp nhìn vấn đề, cách phân tích vấn đề, cách lập thuyết, và tài liệu để triển khai luận thuyết. Tầm tiên phong của luận văn thể hiện qua những khám phá độc đáo và nhất là qua những đề nghị mở ra nhiều hướng mới lý thú cho những nghiên cứu tương lai.

Bài trình bày dưới đây giúp độc giả thấy được tầm quan trọng và tiên phong đó của một luận văn đã được hội đồng giám khảo hết lời khen ngợi. Thời Đại Mới hi vọng sẽ có cơ hội lần lượt giới thiệu những phần chính trong luận văn này.

Tác giả Bùi Trân Phượng hiện là hiệu trưởng trường Đại Học Hoa Sen, Thành Phố Hồ Chí Minh.

1.  Tại sao tôi chọn đề tài nầy?

Trước hết để bắt đầu lấp một chỗ trống. Nếu chỉ nhìn thư tịch Việt Nam mà công chúng trong nước được tiếp cận, dẫu có sự phong phú biểu kiến vào lúc nào đó, lịch sử hiện đại vẫn là phần nghèo nàn về phương diện tri thức lịch sử cụ thể. Nó cho biết rất ít về những con người (về người nữ còn hiếm hoi hơn) trong xã hội, trong không gian và thời gian. Trong nghiên cứu quốc tế về Việt Nam, cho đến rất gần đây, phụ nữ cũng không phải là chủ đề được quan tâm.[1] Một hướng mới đầy triển vọng từng được mở ra với những công trình nghiên cứu lịch sử xã hội và/hoặc xã hội học lịch sử lần đầu cho phép hiển thị những người thấp cổ bé họng, những nạn nhân của mọi hình thức đàn áp khác nhau, cho họ có quyền lên tiếng; nhưng những nghiên cứu nầy cũng chưa thật sự tính đến phụ nữ với tư cách là người nữ. Cùng với khoảng trống về lịch sử phụ nữ nói chung, một tấm màn lãng quên hay thờ ơ, lạnh nhạt cũng đồng thời che phủ đời sống trí thức[2] của xã hội Việt và đơn giản là cuộc sống đời thường,[3] nơi các yêu sách chánh trị không phát biểu trực tiếp, lộ liễu.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 4292/BCT-TTTN NGÀY 04 THÁNG 5 NĂM 2010 CỦA BỘ CÔNG THƯƠNG VỀ ĐÍNH CHÍNH THÔNG TƯ SỐ 11/2010/TT-BCT VỀ QUI CHẾ ĐẠI LÝ KINH DOANH DẦU KHÍ MỎ HÓA LỎNG DO BỘ CÔNG THƯƠNG BAN HÀNH

Kính gửi:

– Sở Công thương các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
– Thương nhân kinh doanh khí dầu mỏ hóa lỏng.

Thông tư số 11/2010/TT-BCT ngày 29 tháng 3 năm 2010 của Bộ Công thương ban hành Quy chế đại lý kinh doanh khí dầu mỏ hóa lỏng, tại khoản 1 Điều 4 Quy chế này, quy định: “Bên giao đại lý lựa chọn ký hợp đồng đại lý với tối đa 03 (ba) thương nhân kinh doanh LPG đáp ứng đủ điều kiện quy định làm tổng đại lý, đại lý”.

Nay được sửa lại như sau: “Bên giao đại lý lựa chọn ký hợp đồng đại lý với các thương nhân kinh doanh LPG đáp ứng đủ điều kiện quy định làm tổng đại lý, đại lý”.

Đề nghị Sở Công thương và thương nhân kinh doanh khí dầu mỏ hóa lỏng, thay thế cụm từ trên khi thực hiện quy định tại khoản 1 Điều 4 Quy chế đại lý kinh doanh khí dầu mỏ hóa lỏng.

Văn bản này là bộ phận không thể tách rời Quy chế đại lý kinh doanh khí dầu mỏ hóa lỏng, ban hành kèm theo Thông tư số 11/2010/TT-BCT ngày 29 tháng 3 năm 2010 của Bộ Công thương./.

KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG
Nguyễn Cẩm Tú

THỰC TIỄN ÁP DỤNG LUẬT DÂN SỰ: NHỜ NGƯỜI LẠ GIÁM HỘ CHO CON NHỎ – PHƯỜNG RỐI?!

VĂN ĐOÀN

Có sự xung đột giữa Bộ luật Dân sự và Luật Hôn nhân và Gia đình về việc cử người giám hộ cho người chưa thành niên?

“Chiếu theo Luật Hôn nhân và Gia đình, tôi muốn đề nghị ai làm giám hộ cho con mình thì tôi sẽ nhờ người đó. Cớ sao phường không chịu giải quyết?” – bà B. đặt câu hỏi.

Lạ nên phường không chứng

Đầu tháng 4, bà B. đã mang đơn đến phường X. (quận 3, TP.HCM) nhờ cử người giám hộ cho đứa con khoảng bảy tuổi. Bà cho biết muốn giao lại nhiều tài sản cho con nhưng không muốn cho chồng giám hộ (vì nhiều lý do tế nhị). Do vậy, bà đề nghị phường chấp nhận để một người quen của bà giám hộ cho đứa trẻ này.

Sau khi xem xét, phường thấy yêu cầu của bà B. chưa hợp lý nên trả lại hồ sơ. Phường lý giải, theo quy định của Bộ luật Dân sự, cha mẹ là người giám hộ đương nhiên cho con chưa thành niên. Nếu vì lý do nào đó cha mẹ không giám hộ được thì anh chị em ruột đã thành niên và đủ điều kiện là giám hộ đương nhiên cho em. Nếu không thì là ông bà nội, ngoại. Không nữa thì tới lượt cô dì, chú bác ruột. Ở đây, các điều kiện kia đều đáp ứng khá đủ. Do vậy, người lạ xuất hiện là không được!

Ngay sau đó, bà B. phản ứng vì cho rằng yêu cầu của mình không có gì sai luật và làm đơn khiếu nại. Theo bà, Luật Hôn nhân và Gia đình quy định cha mẹ còn sống nhưng không có điều kiện trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự thì cha mẹ có thể cử người khác giám hộ cho con… Như vậy, luật trên không cấm cha mẹ ruột không được quyền nhờ người lạ làm giám hộ cho con nên bà có quyền nhờ người khác làm giám hộ.

Continue reading

MỘT VÀI NÉT VỀ SỞ HỮU VỚI PHÂN ĐỊNH CÁC THÀNH PHẦN KINH TẾ VÀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CÁC LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP, KHÁC KHU VỰC KINH TẾ

NGUYỄN THỊ BÍCH HỒNG

1. Việc phân định các thành phần kinh tế, khu vực kinh tế, loại hình doanh nghiệp và những vấn đề đặt ra.

Từ việc hình thành những hình thức sở hữu khác nhau và theo nó là những hình thức thực hiện lợi ích kinh tế khác nhau qua việc phân định theo thành phần kinh tế, khu vực kinh tế và loại hình doanh nghiệp (DN) như sau:

Bảng 1: Thành phần kinh tế. Loại hình doanh nghiệp. Khu vực kinh tế

Presentation1

Continue reading

CÁC LOẠI HÌNH TỔ HỢP TÁC, MỐI LIÊN HỆ VỚI CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG

NGUYỄN MẠNH HÙNG

Tổ hợp tác là hình thức tổ chức của xã hội dân sự, người dân thành lập tổ giải quyết các nhu cầu sản xuất, đời sống theo hướng thoả thuận dân sự, là đầu mối liên kết với chính quyền cơ sở, đối tác của các chương trình dự án cộng đồng, là khách hàng của các doanh nghiệp, nhà cung cấp hàng hoá, nơi thực hiện công tác vận động xã hội, xây dựng cụm, dân cư, làng bản văn hoá,…VCA giới thiệu bài viết của TS.Nguyễn Mạnh Hùng, trao đổi với bạn đọc.

Tổ hợp tác hoạt động theo Điều 111 đến 120 của Bộ Luật Dân sự năm 2005: “Tổ hợp tác được hình thành trên cơ sở hợp đồng hợp tác có chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn của từ ba cá nhân trở lên, cùng đóng góp tài sản, công sức để thực hiện những công việc nhất định, cùng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm là chủ thể trong các quan hệ dân sự”

Nghị định 151/2007/NĐ-CP và Thông tư 04/2008/TT-BKH hướng dẫn tổ chức, hoạt động của tổ hợp tác (THT) với những đặc điểm cơ bản: THT do các cá nhân tự nguyên thành lập, là một loại hình của kinh tế tập thể, của tổ chức xã hội dân sự số lượng thành viên tối thiểu là 3 người, UBND cấp xã chứng thực hợp đồng hợp tác; THT không phải là pháp nhân, hoạt động vì mục đích kinh tế, xã hội, sở thích nhóm không trái với pháp luật.

Theo quy định hiện hành thì các tổ sau là THT:

Thứ nhất: Tổ vay vốn của hệ thống ngân hàng nông nghiệp Việt Nam triển khai cho vay kinh tế hộ hình thức như tổ tín chấp, tổ liên đới trách nhiệm, tổ tương hỗ.

Thứ hai: Tổ tiết kiệm và vay vốn do Ngân hàng chính sách xã hội quy định 5 thành viên và tối đa 50 thành viên cư trú trên cùng một địa bàn thôn, ấp, bản… , được UBND cấp xã chứng thực.

Thứ ba: Các THT hoạt động theo ngành, nghề, giới, sở thích nhóm. Số liệu 340000 THT hiện nay do Liên minh HTX Việt Nam đưa ra chưa tính đến tổ thứ nhất, thứ hai.

Continue reading

THỰC TIỄN ÁP DỤNG LUẬT DÂN SỰ: CỬ NGƯỜI GIÁM HỘ, THEO LUẬT NÀO?

VĂN ĐOÀN

Các đồng thừa kế có sự xung đột về lợi ích, đợi để họ thỏa thuận chọn một người làm giám hộ cho người mất năng lực hành vi dân sự là điều rất khó.

Xung quanh việc chính quyền địa phương cử người giám hộ cho người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự không có người giám hộ đương nhiên, giữa Bộ luật Dân sự và Luật Hôn nhân và Gia đình hiện đang có sự xung đột.

Một vụ tranh chấp thừa kế mà TAND TP.HCM thụ lý hiện đang bị ách lại vì chính quyền địa phương chưa thể cử được người giám hộ cho một người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

Tòa nhờ ủy ban

Tháng 10-2008, TAND TP.HCM thụ lý vụ tranh chấp thừa kế mà ông T. là bị đơn. Ông H. ở Việt Nam và bốn người em khác ở nước ngoài được tòa xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Trước đó, ông H. từng bị TAND TP tuyên bố bị mất năng lực hành vi dân sự. Theo luật, các giao dịch dân sự của ông phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện nên ngày 8-3-2010, TAND TP.HCM có công văn gửi UBND phường 4, quận 3 yêu cầu UBND phường cử người giám hộ cho ông H.

Theo công văn trên, ông H. và ông T. là anh em ruột, ở cùng một nhà nhưng ông T. không phải là người giám hộ đương nhiên cho ông H. Do ông T. có đơn tự nguyện làm người giám hộ cho ông H. nên căn cứ vào Điều 63 Bộ luật Dân sự, tòa đề nghị UBND phường 4 có văn bản cử ông T. làm người đại diện theo pháp luật cho ông H. để giải quyết vụ kiện. Công văn của tòa cũng nêu rõ nếu UBND phường 4 không thực hiện được thì phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho tòa biết.

Ủy ban vướng luật

Từ đó đến nay đã hai tháng nhưng UBND phường 4 vẫn chưa đáp ứng yêu cầu của tòa.

Continue reading

THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT ÁN HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH: KHÓ LY HÔN VÌ CHỒNG Ở … LUNG TUNG

TẤN LỘC

Các tòa án liên tục chuyển hồ sơ qua lại, chưa thể giải quyết ly hôn vì người chồng liên tục thay đổi chỗ ở. Chưa ly hôn lại tiếp tục kết hôn.

Sau khi cưới nhau, có hai con, vợ chồng chị T. thường xuyên lục đục. Anh chồng hay đi làm xa, mỗi lần về lại sinh sự đánh đập vợ con. Chịu không nổi cảnh này, năm 2005, chị T. đã gửi đơn ra TAND huyện Sông Hinh (Phú Yên) xin được ly hôn.

Tòa chuyển tới chuyển lui

Đi xác minh, tòa huyện này nhận thấy vợ chồng chị T. có hộ khẩu ở huyện (do anh chồng đứng tên) nhưng đã bán nhà đi khỏi địa phương. Do đó, tòa huyện trả lại đơn. Chị này vội vàng cung cấp địa chỉ tạm trú của vợ chồng tại TP Tuy Hòa (Phú Yên). Tuy nhiên, Tòa án huyện Sông Hinh vẫn không nhận thụ lý giải quyết vì cho rằng không thuộc thẩm quyền lãnh thổ.

Bẵng đi một thời gian, chị T. lại tiếp tục gửi đơn đến TAND huyện Sông Hinh đề nghị giải quyết ly hôn vì cho rằng hai vợ chồng vẫn đang đăng ký hộ khẩu tại huyện. Tòa án huyện lại tiếp tục xác minh và thấy đúng là vợ chồng chị T. có hộ khẩu ở đây thật nên thụ lý giải quyết.

Sau đó, biết tin anh chồng đang sống với người khác ở huyện Tây Hòa, Tòa án huyện Sông Hinh đã chuyển đơn của chị T. đến tòa huyện này. Thế nhưng, Tòa án huyện Tây Hòa đã trả lại đơn khởi kiện cho Tòa án huyện Sông Hinh vì cho rằng anh T. không có hộ khẩu ở huyện.

Mới đây, chị T. lại báo cho Tòa án Sông Hinh biết anh chồng đã dạt qua huyện Đông Hòa sinh sống. Xác minh đúng như vậy, tòa này lại vội chuyển hồ sơ của chị T. đến Tòa án huyện Đông Hòa để giải quyết theo thẩm quyền. Hiện nay, Tòa án huyện Đông Hòa đang xem xét việc tiếp nhận hồ sơ.

Continue reading

TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI: TRANH CHẤP GIỮA HAI DOANH NGHIỆP – RẮC RỐI BỞI . . .TÒA ÁN

CAO NGUYỄN HOÀNG HƯNG

Việc mua 12.500 tấn phân urea, không ngờ lại gây nhiều phiền toái cho phía Cty CP vật tư nông sản.

Một vụ án đơn thuần tranh chấp hợp đồng kinh tế, nhưng thời gian qua, Toà án Nhân dân (TAND) Q.7 (TPHCM) đã làm rắc rối thêm vụ việc, khi ban hành các biện pháp khẩn cấp tạm thời không cần thiết, ngăn chặn và phong toả tài sản tiền gửi của DN, gây nhiều khó khăn cho DN.

Kiện ra toà để… “xù” tiền bảo lãnh thực hiện hợp đồng?

Ngày 11.8.2009, Cty CP Kim Phú Gia (bên bán) và Cty CP vật tư nông sản (bên mua) ký với nhau một hợp đồng kinh tế. Theo đó, Cty Kim Phú Gia sẽ bán 12.500 tấn phân urea N46% (do Nga sản xuất) cho Cty vật tư nông sản (VTNS). Tổng giá trị mua – bán số lượng phân hơn 3,4 triệu USD (61,8 tỉ đồng VN).
Hai bên thoả thuận, Ngân hàng NNPTNTVN – chi nhánh 8 ở TPHCM, sẽ phát hành một chứng thư bảo lãnh thực hiện hợp đồng tương ứng 3% giá trị lô hàng (1,8 tỉ đồng) cho bên bán. Một khi bên bán – Cty Kim Phú Gia – không giao hàng, thì bên mua – Cty VTNS – sẽ tịch thu khoản tiền 1,8 tỉ đồng của bên bán.
Bên cạnh đó, Cty VTNS (bên mua) cũng yêu cầu Ngân hàng Đầu tư – Phát triển VN (BIDV) – chi nhánh Hà Thành – phát hành một chứng thư bảo lãnh thanh toán 100% giá trị hợp đồng (61,8 tỉ đồng VN) cho bên bán. Người được thụ hưởng chứng thư bảo lãnh trên là Ngân hàng TMCP Phương Nam (TPHCM).
Trong khi hợp đồng mua – bán 12.500 tấn phân trên chưa thực hiện; bất ngờ xảy ra tranh cãi giữa 2 Cty Kim Phú Gia và VTNS. Theo Cty Kim Phú Gia, chứng thư bảo lãnh của BIDV Hà Thành phát hành không được Ngân hàng Phương Nam đồng ý (?). Cty Kim Phú Gia cũng cho rằng Ngân hàng Phương Nam “đòi hỏi những cái không cần thiết” v.v… Từ đó, Cty Kim Phú Gia đề nghị chuyển người thụ hưởng từ Ngân hàng Phương Nam sang Ngân hàng NNPTNT – chi nhánh Sài Gòn. Song, phía bên mua là Cty VTNS đã không đồng ý thay đổi này.
Ông Nguyễn Tiến Dũng – Tổng GĐ Cty VTNS – cho biết: “Chúng tôi đã làm theo đúng như cam kết trong hợp đồng. Việc thay đổi người thụ hưởng là ngân hàng này hay ngân hàng kia, hợp đồng không ràng buộc, đó là việc của bên mua tự sắp xếp; không phải việc của chúng tôi”. Sau đó, hợp đồng mua – bán phân bón phải tiếp tục được thực thi như đã cam kết. Khi Cty Kim Phú Gia không hoàn thành trách nhiệm giao hàng, lẽ đương nhiên Cty VTNS tịch thu 1,8 tỉ đồng tiền bảo lãnh thực hiện hợp đồng của Cty Kim Phú Gia.

Continue reading

ĐẠI HỌC ĐI VỀ ĐÂU?

CAO HUY THUẦN – Giáo sư emeritus Đại Học Picardie (Pháp)

Năm ngoái, tôi đã có dịp trình bày về đề tài "Đại học là hàng hóa hay công ích".[1] Tôi đã nói nhiều về chủ nghĩa tân tự do, nguồn cội của những biến chuyển hiện nay trong đại học trên thế giới. Ở đây, tôi sẽ không trở lại với lý thuyết nữa, tôi chỉ triển khai những biến chuyển đó trong cụ thể. Đại học bất cứ ở đâu đều chịu ảnh hưởng của những biến chuyển ấy và dù muốn dù không đều sẽ bị lôi cuốn theo chiều hướng ấy. Đại học Việt Nam e cũng sẽ thế mà thôi.

Tuy nhiên, đại học, văn hóa của một nước, không dễ gì để đánh mất bản sắc quốc gia của mình. Văn hóa Việt Nam, nếu nói theo Khổng thì là trung dung, nếu nói theo Phật thì là trung đạo. Tôi hy vọng tinh thần đó sẽ hướng chúng ta trả lời câu hỏi chung đặt ra cho mọi đại học: đại học là gì ? Từ câu trả lời đó, ta sẽ biết đi về đâu vào thế kỷ mới.

Với sức hiểu biết hạn hẹp của tôi, tôi chỉ có thể trình bày những biến chuyển trong đại học Mỹ và Âu châu. Đại học Mỹ, vì đó là mẫu mực của thời đại tân tự do, khuynh hướng của thế kỷ mới. Đại học Âu châu, vì ở đây, cây đang ngã theo gió nhưng lại gắng gượng không để quỵ. Tình trạng chưa cong nhưng không còn thẳng ấy đưa đến khủng hoảng chưa bao giờ thấy trong đại học Pháp từ đầu năm nay. Dù ở Mỹ hay ở Pháp, tôi lại hạn chế vấn đề vào những tranh luận diễn ra trong lòng các đại học đó. Qua các tranh luận ấy, hy vọng ta sẽ tìm được vài ý cho câu trả lời của chính ta.

I. Tri thức và tiền: đại học Mỹ

Từ lâu, kinh tế tư bản đã đưa thị trường vào đại học Mỹ với cốt lõi của nó là cạnh tranh. Trên lý thuyết, muốn cạnh tranh phải quản lý tốt, quản lý tốt đưa đến hiệu quả. Cạnh tranh, hiệu quả: châm ngôn đó của đại học Mỹ bây giờ đã trở thành kinh nhật tụng của mọi đại học trên thế giới. Dù đàng sau hậu trường của châm ngôn ấy là chủ thuyết tân tự do mà không phải ai cũng chấp nhận, khắp nơi trăm miệng một lời song song: phải cải thiện hiệu quả của đại học và nghiên cứu để đạt cho bằng được lý tưởng "kinh tế tri thức", "xã hội tri thức".

Continue reading

LAO ĐỘNG CÓ KỸ NĂNG: LỖ HỔNG NGHIÊM TRỌNG TRONG PHÁT TRIỂN Ở VIỆT NAM

HỒNG LÊ THỌ

Con số 70% lao động chưa qua đào tạo và 80% chưa qua đào tạo nghề khi tham gia thị trường lao động (theo Báo cáo của Bộ Lao động-Thương binh-Xã hội) đang trở thành rào cản, kìm hãm tốc độ phát triển kinh tế-xã hội.

Phần 1: Từ con số điển hình ở Đồng bằng sông Cửu long (ĐBSCL)

Trong báo cáo về “Nguồn nhân lực ở Đồng bằng sông Cửu Long” (tháng 1/2005) của nhóm nghiên cứu do GS Võ Tòng Xuân làm trưởng đã công bố trên cơ sở những số liệu của Tổng cục Thống kê và khảo sát tại chỗ các tỉnh, kết luận rằng “nguồn nhân lực ở vùng nầy tương đối thấp, tỷ lệ mù chữ là 6%, 33% không học hết tiểu học; 14% tốt nghiệp bậc tiểu học là cấp học bắt buộc theo hiến pháp; 8% tốt nghiệp trung học cơ sở. Như thế, 77% đội ngũ lao động có trình độ học vấn căn bản (trung học cơ sở) trở xuống (!) và 83% lực lượng lao động không được đào tạo tay nghề” (xem Hộp 1 và 2). Chính con số nầy cho thấy đó một trong những yếu tố cản trở sự phát triển của nền kinh tế địa phương cũng như gây lo ngại đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước khi đặt chân đến làm ăn. Có người gọi đó là một trong “nút thắt” ngăn chặn dòng chảy của vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) về các địa phương.

 

Hộp 1: Số người trong độ tuổi lao động

§ Năm 2006 số người trong độ tuổi lao động là 43-44 triệu người, số lao động trong độ tuổi thanh niên là 47% (từ 15-34 tuổi), cả nước mới có 25,4% số lao động qua đào tạo (trong đó 20% qua đào tạo nghề).

§ Số thanh niên tham gia lực lượng lao động bình quân tăng 200.000 người/năm, 50% là tốt nghiệp THCS, THPT.

Nguồn: Vụ LĐ-Việc làm (Bộ Lao động-Thương Binh & Xã hội, tháng 4/2007)

 

Hộp 2:  Thanh niên lao động

§ Cả nước hiện có khoảng 17 triệu thanh niên nông thôn trong độ tuổi 16-33, chiếm 74% tổng số thanh niên và 50% lực lượng lao động trong nông nghiệp.

§ Lao động thanh niên đô thị trong độ tuổi 15-30 chiếm khoảng 25% tổng số thanh niên cả nước và chiếm 43% dân đô thị, 90% thanh niên đô thị có việc làm, thất nghiệp khoảng 6 %.

Nguồn: Vụ LĐ-Việc làm (Bộ Lao động-Thương Binh & Xã hội, tháng 4/2007)

Continue reading

BÀN VỀ CHỨNG TỪ GỐC TRONG GIAO DỊCH THƯ TÍN DỤNG

PHẠM THỊ THANH NGA – Sở giao dịch VietinBank

Trong hoạt động tín dụng chứng từ, việc xác định một chứng từ là bản gốc (original) hay bản sao (copy) là một vấn đề hết sức quan trọng. Chính vì vậy mà trong các văn bản liên quan đến tín dụng chứng từ như UCP, ISPB,.v.v. đều có những điều khoản rõ ràng quy định việc xác định tính chất gốc của một loại chứng từ. Tuy vậy, trong thực tế giao dịch thư tín dụng, các quy định này trong nhiều trường hợp đã từng bị cáo buộc là kẻ tội đồ gây tranh cãi và kiện tụng nhiều nhất. Trong phạm vi bài viết này, tác giả sẽ điểm lại các quy định về chứng từ gốc tại UCP 500, ISBP và gần đây nhất là UCP 600 với mong muốn được chia sẻ kinh nghiệm, các tình huống thực tế với những người mà công việc hàng ngày gắn liền với các giao dịch thư tín dụng.

Quy định về chứng từ gốc tại điều 20(b) UCP 500

Điều 20(b) UCP 500 quy định về chứng từ gốc như sau: “ Trừ phi LC quy định khác, các ngân hàng cũng sẽ chấp nhận là chứng từ gốc (đối với) chứng từ được tạo lập hoặc thể hiện là đã được tạo lập:
(i)     Bằng hệ thống sao chụp, tự động hoặc được vi tính hóa;
(ii)     Là các bản sao bằng giấy than;
Miễn là chứng từ đó được ghi chú là bản gốc và thể hiện được ký ở nơi cần thiết. Chứng từ có thể ký bằng chữ viết tay, bằng chữ ký qua fax, bằng chữ ký đục lỗ, bằng con dấu, bằng biểu tượng, hoặc bằng bất cứ phương pháp xác thực bằng điện tử hay cơ khí khác.”
Quy định về chứng từ gốc như vậy tưởng là đã quá rõ ràng cho các bên thực hành LC. Nhưng trên thực tế đã có không ít tranh chấp liên quan đến vấn đề chứng từ gốc xảy ra. Hai vụ tranh chấp dưới đây đã được tranh luận rất nhiều trên các diễn đàn của cộng đồng những người thực hành thư tín dụng trên toàn thế giới.

Những phán quyết trái ngược của các tòa án khi xác định tính chất gốc của chứng từ.
Vụ tranh chấp 1: Glencore International AG v Bank of China, [1996]

Continue reading

GÓP Ý VỀ DỰ THẢO BỘ LUẬT DÂN SỰ: BỎ QUA CÁI GỐC, QUAN TÂM CÁI NGỌN

(Bài được tác giả viết để góp ý cho Dự thảo sửa đổi, bổ sung BLDS năm 1995. Tuy nhiên, một số ý kiến có thể còn giá trị tham khảo cho việc sửa đổi, bổ sung BLDS năm 2005)

NGUYÊN LÂM

Tại các thành phố lớn ở nước ta, mỗi buổi sáng có hàng chục vạn, thậm chí hàng triệu hợp đồng được giao kết: ăn sáng, mua đồ, mua thực phẩm, đi xe buýt… Thế nhưng, phần lớn người giao kết hợp đồng đều không đọc Bộ luật Dân sự cũng như Luật Thương mại, hay một văn bản pháp luật liên quan nào đó… Ví dụ này cho thấy, việc dân sự vẫn diễn ra rất nhiều mà không cần đến luật, và một Bộ luật dù đồ sộ đến mấy cũng không thể ôm hết được. Bởi lẽ, trong lĩnh vực luật tư, cuộc sống vô cùng phong phú, pháp luật chỉ là cái hỗ trợ, cái bổ sung. Vì vậy, không cần bận tâm với câu hỏi: Bộ luật Dân sự đã điều chỉnh hết các quan hệ dân sự chưa; mà nên đặt vấn đề: điều chỉnh như thế nào?

Vậy thì pháp luật dân sự ở ta đang điều chỉnh các quan hệ dân sự như thế nào? Để trả lời, có thể lấy lĩnh vực hợp đồng làm ví dụ. Có lẽ ai trong giới luật cũng biết, bản chất của giao dịch dân sự là quyền tự định đoạt của các chủ thể khi giao kết hợp đồng, dù đó là bằng miệng hay văn bản, quyền tự do hợp đồng. Tuy nhiên, thực tế hiện nay lại cho thấy, các quy định trong Bộ luật Dân sự hầu như chưa thể hiện được điều này, nhìn chung là còn gò bó, cản trở việc thực hiện quyền tự do khế ước ở nước ta.

Chẳng hạn, điều kiện vô hiệu của hợp đồng được quy định trong Bộ luật Dân sự hiện hành là quá rộng (như trong điều 131, 139), là cơ hội “tốt” để tòa án có thể ra quyết định tuyên bố vô hiệu rất nhiều hợp đồng, mặc dù những vi phạm đối với hợp đồng là hoàn toàn không đáng kể, do đó đã tạo cơ hội cho các cơ quan công quyền can thiệp một cách quá mức cần thiết vào việc hình thành, tồn tại của các quan hệ hợp đồng. 

Không những thế, điều kiện để hợp đồng được coi là đã được hình thành được quy định quá chặt chẽ, gây khó khăn cho việc hình thành các quan hệ hợp đồng, không tạo điều kiện cho các giao dịch dân sự phát triển (điều 401). Việc công chứng, chứng thực như những hình thức can thiệp của các cơ quan công quyền vào quá trình ký kết hợp đồng là quá lớn, ảnh hưởng xấu đến sự hình thành các quan hệ hợp đồng (điều 400). Theo các chuyên gia, việc công chứng, chứng thực, đăng ký chỉ nên coi là điều kiện để công khai hoá quyền, nghĩa vụ của các bên hoặc được lấy làm thời điểm chuyển dịch quyền mà không nên lấy làm điều kiện để hợp đồng có hiệu lực.

Continue reading