MUỐN LÀM ĐÚNG LUẬT ĐÂU CÓ DỄ

image LS. TRƯƠNG THANH ĐỨC – Chủ tịch Công ty Luật BASICO

Việc xác định các tỷ lệ tối thiểu để thông qua các quyết định là một trong những yếu tố sống còn đối với doanh nghiệp. Tuy nhiên, gần 3 năm qua, mặc dù văn bản đã chỉ rõ, nhưng việc áp dụng vẫn còn nằm trong vòng bế tắc mơ hồ.

Tưởng đã rõ như ban ngày

Luật Doanh nghiệp năm 1999 trước đây quy định các tỷ lệ tối thiểu để tổ chức các cuộc họp của Hội đồng thành viên công ty TNHH là có số thành viên dự họp đại diện ít nhất 65%; họp Đại hội đồng cổ đông công ty cổ phần là có số cổ đông dự họp đại diện ít nhất 51% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết. Nhưng đến Luật Doanh nghiệp năm 2005, tỷ lệ này bất ngờ được nâng lên thành 75% và 65% (Điều 51 và 103). Tương tư: tỷ lệ tối thiểu để biểu quyết cũng được nâng từ 51% lên 65% (Điều 53 và 104). Ngoài ra tỷ lệ biểu quyết đối với một số vấn đề quan trọng còn được nâng từ 65% lên 75%.
Đó là những cái chốt nhằm bảo vệ nhà đầu tư nhỏ, nhưng lại gây trở ngại lớn cho việc thông qua các quyết định, tăng thêm nhiều trường hợp bế tắc trong thực tế quản trị công ty, đồng thời cũng đi ngược lại với thông lệ quốc tế. Vì vậy, Nghị quyết số 71/2006/QH11 ngày 29/11/2006 của Quốc hội phê chuẩn Nghị định thư gia nhập Hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã chỉnh sửa lại bằng cách cho phép "Áp dụng trực tiếp các cam kết của Việt Nam được ghi tại Phụ lục đính kèm". Phụ lục áp dụng kèm theo Nghị quyết nêu ra 7 đạo luật, trong đó có Luật Doanh nghiệp năm 2005. Cụ thể, phần nội dung áp dụng đối với các điều 51, 52, 103 và 104 của Luật Doanh nghiệp như sau:
"Công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần được quyền quy định trong Điều lệ công ty các nội dung sau:
1. Số đại diện cần thiết để tổ chức cuộc họp và hình thức thông qua quyết định của Hội đồng thành viên, Đại hội đồng cổ đông;

Continue reading

LUẬN BÀN VỀ PHẠM TRÙ TÀI CHÍNH CÔNG

image PGS.TS. SỬ ĐÌNH THÀNH

Khi bàn về phạm trù tài chính công, hiện nay có nhiều ý kiến tranh luận khác nhau. Có ý kiến cho rằng tài chính công đồng nghĩa với tài chính nhà nước (1), nhưng có ý kiến khác lại cho rằng, tài chính công là một bộ phận tài chính nhà nước (2). Nhìn lại lịch sử ra đời và phát triển của tài chính có thể thấy, khi nhà nước (3) xuất hiện thì đồng thời cũng xuất hiện các khoản chi tiêu về quản lý hành chính, tư pháp, quốc phòng nhằm duy trì quyền lực chính trị của nhà nước và những khoản chi tiêu này được tài trợ từ các nguồn lực đóng góp của xã hội như: thuế, công trái … Từ đây, phạm trù tài chính nhà nước đã bắt đầu xuất hiện – một khái niệm dùng để phản ảnh những hoạt động tài chính gắn liền với chủ thể nhà nước.

Trước thế kỷ thứ 19, trong các nền kinh tế tự cung – tự cấp, kinh tế hàng hóa giản đơn và kinh tế thị trường tự do cạnh tranh, chức năng cơ bản của nhà nước là thực hiện các nhiệm vụ chính trị và quản lý hành chính. Cho nên, trong thời gian này tài chính nhà nước hoạt động cũng dựa trên những nền tảng kinh tế đó, và chủ yếu là phục vụ cho các hoạt động chính trị, quản lý hành chính, tư pháp và quốc phòng của nhà nước. Đến giai đoạn kinh tế thị trường hiện đại, do yêu cầu của sự phát triển kinh tế, nhà nước phải đảm nhận chức năng quản lý kinh tế song hành với hoạt động chính trị, quản lý hành chính, tư pháp, quốc phòng. Tài chính nhà nước lúc này trở thành công cụ để nhà nước can thiệp vào kinh tế nhằm điều tiết các hoạt động sản xuất kinh doanh. Khi đó, phạm vi hoạt động của tài chính nhà nước đã không ngừng mở rộng, không chỉ dừng lại các hoạt động thu chi ngân sách nhà nước, các quỹ ngoài ngân sách (bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế nhằm chăm lo phúc lợi cộng đồng…), hoạt động tài chính của các đơn vị hành chính, các đơn vị sự nghiệp mà còn có cả hoạt động đầu tư, hỗ trợ tài chính cho các khu vực kinh tế. Như vậy, xét về mặt sắp xếp thể chế, có thể thấy, trong nền kinh tế hiện đại tài chính nhà nước bao hàm sự đan xen của những hoạt động mang tính chất công, không vì lợi nhuận và một số các hoạt động mang tính chất tư, nhằm mục tiêu lợi nhuận như hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước. Ngày nay, nhận thức tính vị lợi trong quá trình hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước thể hiện đúng đắn xu hướng cải cách chính sách trong nền kinh tế hiện đại, đặc biệt là trong xu hướng phát triển cạnh tranh và hội nhập. Doanh nghiệp nhà nước phải là một đơn vị kinh doanh thực sự và lợi nhuận chính là nguồn lực sống còn của nó.

Continue reading