BẢO HỘ SỞ HỮU TRÍ TUỆ VIỆT NAM TRÊN BƯỚC ĐƯỜNG HỘI NHẬP – TỪ LỀ ĐƯỜNG BƯỚC VÀO XA LỘ

image PGS.TS. PHẠM DUY NGHĨA

Năm 1474 Viện dân biểu của thành phố tự trị Venedig ban hành một đạo luật đầu tiên về quyền sáng chế, cho phép người phát minh độc quyền sử dụng sáng chế đó trong vòng 10 năm kể từ ngày được cấp bản quyền. Kể từ đó các đạo luật bảo hộ sáng chế nối tiếp nhau ra đời và lan rộng ra nhiều lĩnh vực, ngày nay mọi tri thức có giá trị thương mại đều dễ dàng được bảo hộ, chúng dễ dàng biến thành tư bản sinh lời. Bộ luật Dân sự 1995, Luật Thương mại 1997, Bộ luật Hình sự 1999 và vô số Nghị định, Thông tư đã hướng dẫn thi hành đủ loại quyền tài sản trí tuệ, từ tác quyền của giới văn nghệ, cho tới độc quyền sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, thậm chí bí mật thương mại cũng được bảo hộ đầy đủ ở Việt Nam.

Văn bản luật thì thật nhiều, vậy mà buồn thay, trong khi Hàn Quốc,Singapore, Dài Loan.. đều đã nối đuôi Nhật Bản để biến thành những cường quốc công nghệ, người Việt Nam vẫn chỉ đứng bên lề đường mà nhìn công nghệ vụt đi nhanh. Học hàm, học vị được cấp phát ngày càng nhiều, song công trình công bố trên các ấn phẩm quốc tế, sáng chế và sở hữu trí tuệ của người trong nước trên trường quốc tế thật hiếm hoi. Đôi khi luật sở hữu trí tuệ của nước ta trên thực tế bảo hộ cho tài sản cho ngoại bang là chính, cứ khoảng 1200 văn bằng cấp sáng chế cấp cho người nước ngoài thì mới có 30 văn bằng cấp cho người trong nước. Việt tộc, một dân tộc ưu việt theo cách chiết tự chữ Bách Việt của Kim Định, không thể còn vô cảm trước những nguy cơ ngày càng lộ rõ khi bước vào ngôi làng toàn cầu. Nếu chỉ trông cậy vào dầu thô, hàng dệt, đánh bắt thủy sản, và nhặt nhạnh từng đồng bạc nhọc nhằn từ nông sản, xuất khẩu lao động giản đơn, cho đến bao giờ người nước ta mới có thể làm chủ cuộc chơi toàn cầu và biến đồng bào của thời thế thành sức ép canh tân. Đuổi theo và vượt là kế sách mà các nước đồng văn đã bắt đầu làm từ thời Nguyễn Trường Tộ soạn Tế cấp bát điều sau nhiều năm tìm những con đường mới, có lẽ nước ta nên nhìn láng giềng mà học cách phát triển kỹ nghệ.

Để pháp luật góp phần khuyến khích và bảo hộ sở hữu trí tuệ một cách tốt hơn trong thời mở cửa, theo thiền ý của tôi, ba vấn đề sau đây cần được quan tâm:

Continue reading

VỀ YẾU TỐ ƯNG THUẬN CỦA HỢP ĐỒNG (PHẦN 1)

TS. NGÔ HUY CƯƠNG – Khoa Luật, Đại học Quốc gia

Từ thời cổ đại, Gaius đã nhận định “Phàm nghĩa vụ đều do các khế ước hay các dân sự phạm phát sinh ra”1. Điều đó có nghĩa, hợp đồng là một nguồn gốc quan trọng của nghĩa vụ, mà có thể hiểu: chính nó – nghĩa vụ, là một trọng đề của pháp luật, là một chế định (hay tiểu phân ngành luật) nằm ở vị trí trung tâm của luật tư. Các ngành luật khác ít hay nhiều đều có sự vay mượn các kỹ thuật pháp lý có được từ việc nghiên cứu hợp đồng.

Nhấn mạnh hơn tới ý nghĩa pháp lý của hợp đồng, có tác giả định nghĩa hợp đồng là sự thống nhất ý chí nhằm xác lập các nghĩa vụ hay chuyển giao các quyền sản nghiệp (như các quyền đối vật, quyền đối nhân hay quyền sở hữu trí tuệ hay các quyền vô hình khác) từ người này sang người khác2. Có lẽ vì thế, các luật gia trước hết phải có những tri thức căn bản và hệ thống về luật hợp đồng. Các thương nhân, cũng như các nhà kinh tế học cũng cần phải có tri thức về hợp đồng ở mức độ nhất định, bởi “hợp đồng là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế thị trường”3. Nhưng trước hết cần phải hiểu hạt nhân quan trọng nhất của hợp đồng là sự ưng thuận.

1. Khái niệm về yếu tố ưng thuận của hợp đồng

Bởi hợp đồng từ thời La Mã cổ đại đã được xem là sự đồng thuận hay hiệp ý (consensus)4, cho nên sự ưng thuận của các bên kết ước bao giờ cũng được cho là điều kiện hay thành tố đầu tiên của hợp đồng. Reinhard Zimmermann xác nhận rằng, trong luật hợp đồng hiện đại, ưng thuận là khái niệm hạt nhân5. Khác hơn, Bộ luật Dân sự 2005 của Việt Nam coi năng lực giao kết hợp đồng là yếu tố đầu tiên để áp đặt điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, còn yếu tố tự nguyện được xếp ở hàng thứ ba. Trong một chừng mực nhất định có thể nói, năng lực giao kết hợp đồng là một bộ phận hay một phần không thể không xem xét đến của thành tố ưng thuận. Có lẽ vì thế mà Bộ luật Dân sự Tây Ban Nha không đề cập tới năng lực giao kết hợp đồng trong khi nói tới các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, mà chỉ nói tới nó khi phân tích điều kiện ưng thuận – một điều kiện có hiệu lực đầu tiên của hợp đồng theo Bộ luật này.

Continue reading

QUAN HỆ GIỮA NHÀ NƯỚC VÀ XÃ HỘI DÂN SỰ TRONG LUẬT KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

VŨ CAO ĐÀM

Trong bài này, tác giả bàn về một khu vực cũng chưa được Luật Khoa học và Công nghệ (KH&CN) quan tâm, đó là khu vực xã hội dân sự (XHDS). Theo tác giả, từ khi Luật KH&CN được công bố đến nay, xã hội ta đã trải qua nhiều biến đổi lớn lao, trong đó có một đặc điểm quan trọng là khu vực XHDS đang ngày càng phát triển. Vì thế, Luật cần được sửa đổi, bổ sung để sao cho có thể vươn “tầm tay” tới khu vực có những biến đổi lớn lao đó.

Vấn đề XHDS trong tiến trình cải cách kinh tế – xã hội

Đặc trưng cơ bản của công cuộc cải cách kinh tế – xã hội của đất nước ta là chuyển từ nền kinh tế do Nhà nước độc quyền điều hành và thực hiện (gọi là nền kinh tế chỉ huy) sang nền kinh tế bao gồm nhiều thành phần trong xã hội, trong đó, Nhà nước chỉ còn giữ chức năng điều tiết vĩ mô.

Khi Nhà nước là chủ thể duy nhất làm kinh tế, bên cạnh đó chỉ còn lại một thành phần “á” Nhà nước là thành phần kinh tế hợp tác xã (cũng hoạt động trong khuôn khổ chỉ huy trực tiếp của Nhà nước) thì không tồn tại XHDS (Civil Society). Nhiều người trong chúng ta đã chứng kiến công cuộc cải cách kinh tế – xã hội ở nước ta bắt đầu từ sự “phá rào” của dân chúng. “Phá rào” là thuật ngữ được sử dụng lần đầu tiên trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6, khóa IV của Đảng Cộng sản Việt Nam, hàm nghĩa việc dân chúng trong cả hai khu vực kinh tế quốc doanh và hợp tác xã đã phá vỡ những khung khổ trói buộc của thiết chế chỉ huy tập trung quan liêu, tạo ra một “sân chơi” riêng theo kiểu của dân chúng, bên ngoài quỹ đạo của khu vực chính thống được điều hành bởi Nhà nước. Khu vực nằm ngoài sự điều hành trực tiếp của Nhà nước chính là mầm mống của XHDS. Theo tiến trình cải cách, Nhà nước từ chỗ cấm đoán khu vực XHDS đến chỗ thừa nhận, rồi hợp thức hóa, làm cho khu vực quốc doanh và khu vực hợp tác xã “á” Nhà nước trước đây bị thu hẹp lại, khu vực kinh tế của XHDS ngày càng được mở rộng. Khi đó, Nhà nước không còn đóng vai người chỉ huy phát ra những mệnh lệnh điều hành mọi hoạt động xã hội, mà thực sự trở thành một chủ thể quyền lực đưa ra những văn bản quy phạm pháp luật, chính sách vĩ mô để điều tiết các hoạt động xã hội.

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG: XÉT XỬ VỤ TRANH CHẤP CĂN HỘ THE MANOR

V.C.M (TTO)

Ngày 19-4-2010, TAND quận Bình Thạnh đã xét xử vụ kiện hi hữu giữa chủ đầu tư khu căn hộ cao cấp The Manor (quận Bình Thạnh, TP.HCM) kiện đòi hủy hợp đồng với khách hàng mua căn hộ. Lý do mà nguyên đơn – công ty TNHH Sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu Bình Minh (gọi tắt là Bitexco) – đòi tòa hủy hợp đồng mua bán căn hộ (AE-305) với khách hàng Nguyễn Thị Bình vì cho rằng khách hàng đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, còn nợ công ty 15.000 USD không trả đúng thời hạn.

Vụ kiện được nhiều người quan tâm bởi thông thường chỉ thấy khách hàng đi kiện chủ đầu tư do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, giao nhà… chứ hiếm có trường hợp nào chủ đầu tư kiện ngược khách hàng đòi hủy hợp đồng.

Tranh chấp giữa Bitexco và khách hàng khởi nguồn từ tranh chấp về chất lượng căn hộ. Theo bà Nguyễn Thị Bình, bà ký hợp đồng mua căn hộ với Bitexco từ tháng 11-2006 với giá 167.000 USD. Trong thủ tục mua nhà, Bitexco và bà Bình còn ký hợp đồng thỏa thuận ba bên với Ngân hàng Ngoại thương Chi nhánh TP.HCM về việc vay tiền của ngân hàng để thanh toán tiền mua nhà. Bà Bình thanh toán 50% giá trị căn hộ, còn 50% còn lại bà Bình ký hợp đồng tín dụng vay của ngân hàng, thế chấp bằng chính căn hộ AE-305.

Tuy nhiên, khi nhận bàn giao căn hộ, bà Bình đã rất bức xúc vì nhiều hạng mục, nội thất của căn hộ không đúng như cam kết trong hợp đồng và đã khiếu nại với chủ đầu tư. Đỉnh điểm bức xúc của khách hàng là sự kiện xảy ra vào giữa tháng 5-2007 (sau khi nhận nhà khoảng 6 tháng) là hệ thống nhà vệ sinh của căn hộ liên tục bị trào ngược các chất thải lên, gây mất vệ sinh, hôi thối căn hộ.

Bà Bình đã khiếu nại, đại diện Bitexco hứa sẽ sửa chữa và đổi căn hộ khác, nhưng sau đó theo bà Bình là việc sửa chữa không đạt chất lượng và Bitexco cũng không chấp nhận đổi căn hộ khác cho bà Bình. Sau nhiều lần đôi co, vụ việc đã được UBND phường 22 quận Bình Thạnh hòa giải nhưng không thành.

Continue reading

THỰC TIỄN TỐ TỤNG: TÒA NHẦM ÁN THƯƠNG MẠI… THÀNH DÂN SỰ

CÔNG TÔN NHUNG

Ngày 25-3-2006, Hợp tác xã Kinh doanh dịch vụ tổng hợp Sơn Lang (bên A), Công ty Lâm nghiệp Kon Hà Nừng (bên B1) và Xí nghiệp Nuôi trồng thủy sản Miền Trung (bên B2) ký hợp đồng góp vốn liên doanh.

Theo đó, ba bên liên kết sản xuất kinh doanh đầu tư nuôi trồng, đánh bắt và tiêu thụ sản phẩm thủy sản tại lòng hồ B, thủy điện Vĩnh Sơn, xã Sơn Lang, K’Bang (Gia Lai). Tổng vốn liên doanh là 1 tỉ đồng, trong đó bên A góp 500 triệu đồng, bên B1 300 triệu đồng, bên B2 200 triệu đồng. Các bên thống nhất giao khoán toàn bộ hoạt động nuôi trồng, đánh bắt, tiêu thụ sản phẩm cho bên B2 đại diện liên doanh thực hiện…

Quá trình hợp tác, do phát sinh mâu thuẫn, tháng 12-2007, bên B2 tuyên bố rút khỏi liên doanh và chấm dứt hợp đồng. Một tháng sau, bên A và bên B1 đồng đứng đơn khởi kiện yêu cầu bên B2 thanh toán cho bên A gần 603 triệu đồng, bên B1 320 triệu đồng…

Tháng 4-2008, TAND tỉnh Gia Lai đã đưa vụ này ra xét xử. Tòa áp dụng Bộ luật Dân sự để chấp nhận cho bên A và bên B1 thắng kiện. Năm tháng sau, bản án này đã bị Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại Đà Nẵng hủy để xét xử lại.

Tháng 9-2009, vụ kiện tiếp tục đưa ra xử sơ thẩm lần hai, lần này thì do TAND huyện K’Bang xét xử. Tòa này cũng áp dụng Bộ luật Dân sự để tuyên hủy hợp đồng góp vốn liên doanh, buộc bên B2 phải thanh toán cho bên A 177 triệu đồng, bên B1 280 triệu đồng.

Đầu tháng này, xử phúc thẩm lần hai, TAND tỉnh Gia Lai đã tuyên hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để chính TAND tỉnh xử sơ thẩm lại lần ba. Nguyên nhân hủy án là do vụ kiện không thuộc thẩm quyền của TAND huyện K’Bang. Ngoài ra, đáng lẽ phải áp dụng Luật Đầu tư và Luật Thương mại để giải quyết thì cấp sơ thẩm lại áp dụng Bộ luật Dân sự là sai.

Continue reading