TA LÀ SẢN PHẨM CỦA CHÍNH MÌNH

image GIẢN TƯ TRUNG

Định nghĩa lại sự học luôn là khởi nguồn cho mọi cuộc cách mạng về giáo dục. Do đó, điều quan trọng nhất hiện nay là nỗ lực tạo nhận thức cho người học để mỗi người hiểu rằng, họ mới chính là "ông chủ" của quá trình giáo dục, là "nhà quản trị" sự học của bản thân, với tâm thế: "Ta là sản phẩm của chính mình!".

Thêm một góc nhìn về giáo dục

Con người là sản phẩm của giáo dục. Hệ thống giáo dục bao gồm nhiều nhân tố, từ chính sách của nhà nước, đến nhà trường, nhà giáo… và gần gũi nhất là từ gia đình và các tác nhân ngoài xã hội.

Tuy nhiên, có thể nhận thấy, đồng thời với quá trình chịu tác động của hệ thống giáo dục này, con người còn là "sản phẩm" của chính mình, của một quá trình "giáo dục tự thân" . Nghĩa là, người học vừa là nguyên liệu, vừa là sản phẩm và cũng lại là trung tâm của cả quá trình giáo dục. Người học cần phải biết nắm lấy sự chủ động cao nhất trong toàn bộ quá trình này. Và mọi sự đổi thay, mọi sự cải cách hay mọi cuộc cách mạng về giáo dục đều bắt đầu từ sự học, chính xác là bắt đầu từ "cách mạng sự học" của bản thân mỗi người.

Một số người vẫn bảo rằng, rất nhiều người trong số chúng ta là những sản phẩm bị "lỗi" của nền giáo dục Việt Nam. Nhưng có một thực tế khác: đâu phải tất cả những ai thụ hưởng nền giáo dục trong nước đều bị "lỗi". Vẫn có rất nhiều người thành nhân và thành tài mà chưa hề thụ hưởng một nền giáo dục nào khác ngoài những điều đã được học, được dạy trong nhà trường Việt Nam. Tìm hiểu những kinh nghiệm của họ, sẽ rất dễ nhận ra, điểm khác nhau chính là ở nhận thức về sự học và quá trình tự học, tự rèn luyện, tự thân vận động của họ. Phải chăng, đã đến lúc người học cần ý thức được vai trò "làm chủ" của mình trong toàn bộ quá trình giáo dục – mà ở đó mọi tác nhân khác như nhà nước, nhà trường hay nhà giáo… chỉ đóng vai trò hỗ trợ, bổ sung và cung cấp thông tin, kiến thức cho người học để họ tự hoàn thành mục tiêu học tập của chính mình?

Continue reading

THỰC TIỄN THỰC THI PHÁP LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ: CÓ TỊCH THU GIẤY PHÉP KINH DOANH KHÔNG?

LÊ VĂN KIỀU – Nguyên Chánh Thanh tra, Bộ Khoa học và Công nghệ

Công ty Honda Việt Nam sở hữu KDCN đối với các loại xe máy, trong đó có KDCN đã được cấp bằng độc quyền số 4306.

Công ty Li đã đưa ra thị trường loại xe máy có các chi tiết nhựa gồm mặt nạ, cặp cánh yếm trái và phải, chắn bùn trước, cặp ốp giảm sóc trước trái và phải, cặp ốp lườn trái và phải, cốp xe, đèn sau, chắn bùn sau, mu rùa, ốp nhựa giữa yếm, cặp ốp sườn trái và phải. Các chi tiết này tạo thành xe có kiểu dáng trùng với KDCN đã được cấp bằng độc quyền số 4306. Vụ vi phạm có nhiều tình tiết đáng lưu ý như hành vi có tính chất, quy mô lớn, có tổ chức, khép kín từ sản xuất, lắp ráp đến lưu thông trên thị trường. Đây là lần thứ 3 trong thời gian gần 1 năm, Công ty Li có hành vi vi phạm hành chính về SHCN. Hai lần trước đó Công ty này đã bị xử phạt.

Sau khi xem xét hành vi vi phạm và các tình tiết tăng nặng, UBND tỉnh Đồng Nai đã phạt Công ty Li 75 triệu đồng và tước quyền sử dụng giấy phép kinh doanh trong thời hạn 9 tháng, buộc tháo dỡ, tịch thu và tiêu huỷ toàn bộ các chi tiết vi phạm KDCN của Honda được lắp trên 72 chiếc xe máy của Công ty Li.

(Nguồn: Báo Đầu tư ngày 26.7.2005)

Lời bình:

1. Công ty Li đã bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực SHCN chưa hết thời hạn 1 năm, nay lại tiếp tục vi phạm. Hành vi vi phạm lần trước và lần này trong cùng lĩnh vực SHCN. Vì vậy, theo quy định của Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính bị coi là tái phạm. Tái phạm là trường hợp đã bị xử phạt nhưng chưa hết thời hạn 1 năm, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt hoặc kể từ ngày hết hiệu lực thi hành của quyết định xử phạt mà lại thực hiện vi phạm hành chính trong lĩnh vực đã bị xử phạt. “Lĩnh vực” quy định tại khoản này được hiu là các lĩnh vực quản lý nhà nước được quy định tại từng nghị định của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính. Tái phạm là một trong các tình tiết tăng nặng. Bên cạnh đó, việc vi phạm của Công ty Li có tính chất, quy mô lớn, có tổ chức. Do hành vi của Công ty Li có nhiều tình tiết tăng nặng nên mức phạt phải cao hơn mức trung bình của khung tiền phạt. Vì vậy, căn cứ Nghị định số 12/1999/NĐ-CP xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực SHCN có hiệu lực vào thời điểm xảy ra vụ việc này, UBND tỉnh Đồng Nai đã quyết định mức phạt 75 triệu đồng là phù hợp.

Continue reading

KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP HÀNG HÓA

ĐOÀN QUANG THIỆU

Nước ta có trên 13 triệu hộ nông dân, lực lượng này là nền tảng của nền kinh tế, góp phần đảm bảo an ninh lương thực, giữ vững an ninh chính trị – xã hội. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, việc xây dựng mô hình kinh tế hộ sản xuất nông nghiệp hàng hóa là rất cần thiết. Bài viết dưới đây đề cập đến các hình thức, nội dung của một số mô hình kinh tế hộ và giải pháp phát triển trong nền kinh tế hàng hóa.

Kinh tế hộ gia đình đã có đóng góp lớn cho kinh tế nông nghiệp, sản xuất lúa gạo đạt tỷ suất hàng hóa khoảng trên 50%, cà phê 45%, cao su 85%, chè trên 60%, điều trên 90%. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận không nhỏ hộ gia đình đang loay hoay trong cảnh sản xuất tự cấp, tự túc, thậm chí còn nhiều hộ sản xuất tự nhiên, nhất là ở vùng núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Nền kinh tế hàng hóa phát triển cũng đồng thời dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo. Về lương thực, thực phẩm tỷ lệ hộ nghèo cả nước là 28,9%, trong đó nông thôn là 35,7% (thấp nhất là vùng Đông Nam Bộ 22%, cao nhất là vùng Tây Bắc 68,7%). Hiện nay, cả nước vẫn còn trên 1 triệu hộ nghèo. Vì vậy, việc nghiên cứu vận dụng các mô hình kinh tế hộ gia đình sản xuất hàng hóa nhằm nâng cao năng lực sản xuất của các hộ kinh tế nông nghiệp trong giai đoạn hiện nay là rất cấp thiết

Các mô hình kinh tế hộ gia đình

Mô hình sản xuất chuyên canh trong nông nghiệp

Chuyên chăn nuôi: Bò sữa; cá, tôm, cua; hươu, trăn, rắn mô hình này đang phát triển mạnh ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH), ven biển miền Trung

Chuyên trồng trọt: Chè, cà phê, cao su mô hình này chủ yếu ở Trung du miền Núi phía Bắc, Tây Nguyên, Nam Trung Bộ. Đây là mô hình các hộ kinh tế làm vệ tinh nguyên liệu cho các doanh nghiệp chế biến.

Continue reading

HÀNG HOÁ GIẢ MẠO HAY HÀNG HÓA XÂM PHẠM QUYỀN NHÃN HIỆU

LÊ VĂN KIỀU -  Nguyên Chánh Thanh tra Bộ KH&CN

Cơ quan có thẩm quyền kiểm tra hai thanh niên đang vận chuyển 240 micro mang nhãn hiệu Yamaha vào ngày 1.11.2006. Lần theo hai người này phát hiện thêm 1.640 micro khác cũng mang nhãn hiệu Yamaha tại cửa hàng HT.

Đại diện cửa hàng HT cho biết đã mua hơn 1.880 micro trên tại chợ Nhật Tảo. Hóa đơn ghi rõ của chi nhánh Công ty HT xuất bán 2.000 micro với giá 15.200 đồng /cái.

Đại diện SHCN của Công ty Yamaha (chủ sở hữu nhãn hiệu Yamaha) xác nhận toàn bộ số hàng trên mang dấu hiệu trùng hoàn toàn với nhãn hiệu Yamaha đang được bảo hộ tại Việt Nam. Số micro này không phải do Yamaha đưa ra thị trường, vì công ty này đã ngừng sản xuất mặt hàng micro từ 15 năm nay. Xem xét nhận thấy là 1.880 sản phẩm này đều được làm khá tinh vi, nhãn hiệu và logo Yamaha được in trực tiếp lên sản phẩm nên người tiêu dùng sẽ bị nhầm lẫn.

(Nguồn:VnExpress.net, ngày 3.11.2006; Lao động, ngày 3.11.2006)

Lời bình

1. Luật SHTT xác định, hàng hoá giả mạo nhãn hiệu là hàng hoá có gắn dấu hiệu trùng hoặc khó phân biệt với nhãn hiệu (hoặc chỉ dẫn địa lý) đang được bảo hộ sử dụng cho chính mặt hàng đó mà không được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu (hoặc tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý).

Như vậy, để kết luận một sản phẩm, hàng hoá nào đó là hàng hoá giả mạo nhãn hiệu (hoặc chỉ dẫn địa lý) thì phải đồng thời đáp ứng hai điều kiện: 1 – Nhãn hiệu, dấu hiệu trùng hoặc khó phân biệt với nhãn hiệu (hoặc chỉ dẫn địa lý) đang được bảo hộ và 2 – Mặt hàng gắn nhãn hiệu, dấu hiệu đó trùng với mặt hàng mà chủ sở hữu nhãn hiệu (hoặc chỉ dẫn địa lý) gắn nhãn hiệu (hoặc chỉ dẫn địa lý) đang được bảo hộ. Nói cách khác, để có thể kết luận hàng hoá giả mạo nhãn hiệu (hoặc chỉ dẫn địa lý) cần phải có mặt hàng thật cùng loại để so sánh.

Continue reading

ĐIỀU KIỆN GIAO HÀNG CIF

SAGA.VN

1. Khái niệm

CIF được viết tắt từ Cost Insurance and Freight nghĩa là giá thành, bảo hiểm và cước. Đây là một thuật ngữ thương mại quốc tế được sử dụng rộng rãi trong các hợp đồng mua bán quốc tế. Khi giá cả được nêu làCIF, nó có nghĩa là giá của bên bán hàng đã bao gồm giá thành của sản phẩm, cước phí vận chuyển và phí bảo hiểm. Người bán mua bảo hiểm và thuê phương tiện vận tải chuyên chở hàng hoá đến cảng đã nêu tên. Người bán hết trách nhiệm với hàng hoá kể từ khi hàng hoá được giao lên boong tàu do người bán thuê tại cảng đi. Mọi phát sinh sau thời điểm giao hàng, người mua phải chịu trách nhiệm. Người bán phải mua bảo hiểm và chịu mọi chi phí phát sinh liên quan như giấy phép, thông quan xuất khẩu…

Về mặt quốc tế, thuật ngữ này chỉ rõ cảng đến, ví dụ "CIF New York" hay “CIF Hải Phòng". Điều kiện CIF chỉ áp dụng cho phương thức vận tải biển hoặc đường thuỷ nội địa. Ở Việt Nam, đa phần các doanh nghiệp đều nhập khẩu theo giá CIF.

Giống CFR  về giá thành và cước, điều kiện CIF chỉ bổ sung thêm là bên bán hàng phải chịu thêm trách nhiệm mua bảo hiểm cho hàng hoá hay nói một cách khác là có bảo hiểm đơn có thể chuyển nhượng được để bảo chứng (tiền đảm bảo) cho các rủi ro trong quá trình vận chuyển từ các nhà bảo hiểm. Giá trị của bảo hiểm đơn cần bảo chứng cho giá CIF cộng 10 phần trăm và khi có thể cần phải là loại hình tiền tệ đã được ghi trong hợp đồng mua bán.

2. Nghĩa vụ của các bên

a. Nghĩa vụ của bên bán

A1. Cung cấp hàng theo đúng hợp đồng

Người bán phải cung cấp hàng hoá và hoá đơn thương mại hoặc thông điệp điện tử tương đương, theo đúng hợp đồng mua bán và cung cấp mọi bằng chứng về việc đó nếu hợp đồng yêu cầu.

A2. Giấy phép, cho phép và thủ tục

Người bán phải tự chịu rủi ro và chi phí để lấy giấy phép xuất khẩu hoặc sự cho phép chính thức khác. Người bán cũng phải thực hiện, nếu có quy định, mọi thủ tục hải quan bắt buộc phải có đối với việc xuất khẩu hàng hoá.

Continue reading

QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN

TRẦN VĂN TRÍ

Có ý tưởng kinh doanh mới chỉ là bước khởi đầu cơ bản trên con đường lập nghiệp, quan trọng hơn hết là ý tưởng đó được đưa vào thực tiển thế nào? Về mặt pháp lý, từ ý tưởng đi đến hiện thực trong kinh doanh phải trải qua một giai đoạn được gọi là đăng ký kinh doanh. Khi pháp luật công nhận một thực thể pháp lý đủ điều kiện tiến hành hoạt động kinh doanh thì khi đó ý tưởng mới thật sự được triển khai. Vậy, thực thể pháp lý đó là gì? Trong bài viết này, chúng tôi xin được giới thiệu về Công ty cổ phần, một trong các loại hình công ty khi đăng ký kinh doanh hiện nay.

A. Khái quát về Công ty cổ phần (CTCP)

– CTCP là một dạng pháp nhân có trách nhiệm hữu hạn, được thành lập và tồn tại độc lập đối với những chủ thể sở hữu nó. Vốn của công ty được chia nhỏ thành những phần bằng nhau gọi là cổ phần. Công ty được phát hành cổ phần huy động vốn tham gia của các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế. Các cá nhân hay tổ chức nắm giữ quyền sở hữu hợp pháp cổ phần gọi là cổ đông. Cổ đông được quyền tham gia quản lý, kiểm soát, điều hành công ty thông qua việc bầu cử và ứng cử vào các vị trí quản lý trong công ty. Ngoài ra, cổ đông còn được quyền hưởng các khoản lợi nhuận do công ty tạo ra cũng như chịu lỗ tương ứng với mức độ góp vốn.
– Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty;
– Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết;
– Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa.
– CTCP có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh/Giấy chứng nhận đầu tư và có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán.
– CTCP phải có Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc (Tổng giám đốc). Đối với công ty cổ phần có trên mười một cổ đông phải có Ban kiểm soát.

Continue reading

MỐI QUAN HỆ GIỮA QUYỀN CON NGƯỜI VÀ ĐẠO ĐỨC

LƯƠNG MỸ VÂN – Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam

"Tuyên ngôn thế giới về quyền con người" không chỉ là lời tuyên bố về các quyền con người, mang đậm tính nhân văn, mà còn thể hiện mối quan hệ giữa quyền con người và đạo đức. Tập trung luận giải mối quan hệ này, tác giả đã đi đến kết luận: Quyền con người và đạo đức có quan hệ chặt chẽ, song bản thân quyền con người không thuộc về lĩnh vực đạo đức, cái thuộc về lĩnh vực đạo đức là hoạt động xác định, bảo vệ hoặc chống lại quyền con người của con người. Xác định rõ ràng ranh giới này sẽ tạo thuận lợi cho việc thực thi quyền con người trên thực tế.

Ngày 10/12/2008, Liên Hợp Quốc và toàn thể nhân loại đã kỷ niệm 60 năm ngày thông qua Tuyên ngôn thế giới về quyền con người. Đây là văn kiện đầu tiên, quan trọng nhất trong vấn đề quyền con người và hơn nửa thế kỷ qua, đã trở thành nguồn gốc của mọi luận chứng, suy tư và đấu tranh cho quyền con người trên thế giới. Tuyên ngôn này được soạn thảo trong bối cảnh quyền con người đang bị xâm phạm nghiêm trọng trên phạm vi toàn cầu: các cuộc chiến tranh thế giới, nạn diệt chủng, chủ nghĩa phát xít, nạn phân biệt chủng tộc, v.v.. Tuyên ngôn này ra đời đã kêu gọi cộng đồng quốc tế tập trung chú ý vào các quyền con người cơ bản, mở ra một thời kỳ mới trong việc nghiên cứu về quyền con người. Từ đó đến nay, quyền con người đã trở thành một trong những chủ đề suy tư và tranh luận rộng rãi nhất trên các lĩnh vực lý luận khác nhau.

Không ai không thấy rằng, Tuyên ngôn thế giới về quyền con người và các văn kiện khác về quyền con người mang đậm tính nhân văn sâu sắc. Nhưng, rõ ràng rằng từ đó, với cái nhìn đơn giản, toàn bộ quyền con người chỉ được quy về lĩnh vực đạo đức, coi đó như là chuẩn mực đạo đức tốt đẹp mà mỗi xã hội đều phải tuân theo. Sở dĩ gọi đó là “cái nhìn đơn giản”, bởi nó dẫn đến những vướng mắc về mặt lý luận, nếu vấn đề mối quan hệ giữa đạo đức và quyền con người được xem xét sâu hơn. Qua bài viết này, chúng tôi hy vọng sẽ tháo gỡ được vướng mắc trên và đưa lại cách nhìn nhận thực chất hơn về vấn đề này.(*)

Continue reading

XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN HỆ THỐNG AN SINH XÃ HỘI – MỘT CÔNG CỤ QUAN TRỌNG NHẰM THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI Ở NƯỚC TA

PGS.TS. PHẠM THỊ NGỌC TRẦM – Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam

Bài viết đã luận chứng nhằm làm rõ rằng, hệ thống an sinh xã hội mạnh là một công cụ quan trọng góp phần thực hiện công bằng xã hội. Việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội có vai trò và ý nghĩa to lớn đối với mỗi cá nhân cũng như cộng đồng và toàn thể xã hội. Tác giả bài viết đã trình bày các khái niệm an sinh xã hội và hệ thống an sinh xã hội; phân tích việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội trên các mặt: cấu trúc (các hợp phần cơ bản), chức năng, nhiệm vụ, các thể chế và nguyên tắc cơ bản của hệ thống, coi đó là một nhiệm vụ cấp bách và thiết thực nhằm thực hiện công bằng xã hội, bảo đảm cuộc sống an toàn cho mọi người dân, sự ổn định và phát triển bền vững của xã hội.

1. Công bằng xã hội là một khái niệm mang tính tổng hòa nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, dùng để chỉ sự ngang bằng nhau trong mối quan hệ giữa người và người theo nguyên tắc phân phối lợi ích (cả vật chất lẫn tinh thần) phù hợp giữa cống hiến và hưởng thụ, giữa nghĩa vụ và quyền lợi, giữa thưởng và phạt, đồng thời với việc thực hiện phân phối theo phúc lợi xã hội và an sinh xã hội.

Tuy nhiên, để công bằng xã hội có thể trở thành hiện thực cần phải có những điều kiện cụ thể trong nhiều lĩnh vực, từ kinh tế, chính trị, xã hội đến văn hóa, giáo dục… Trên bình diện chung, những điều kiện quan trọng nhất để tiến tới công bằng xã hội hiện nay ở nước ta là phải thực hiện sự bình đẳng xã hội, phân phối theo phúc lợi xã hội và xây dựng, hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội. Hệ thống an sinh xã hội vừa là công cụ đắc lực làm giảm thiểu sự bất bình đẳng xã hội, vừa là phương tiện chuyển tải và thực hiện những chính sách xã hội của Nhà nước và cộng đồng đến người dân nhằm thực hiện công bằng xã hội, bảo đảm cuộc sống an toàn cho mọi người, sự ổn định và phát triển bền vững của xã hội.(*)

Continue reading

THÚC ĐẨY BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở CÔNG SỞ: CHỈ NÓI SUÔNG!

ORIT GADIESH & JULIE COFFMAN* (Như Nguyệt dịch)

Nhiều công ty đã từng cam kết thực hiện bình đẳng giới nơi công sở nhưng thực tế không phải vậy. Bản khảo sát về bình đẳng giới mà chúng tôi hợp tác với HBR.org thực hiện gần đây với hơn 1800 doanh nhân trên toàn cầu chỉ ra rằng nhân viên thất vọng với cách tổ chức của mình thực hiện vấn đề bình đẳng giới, cụ thể hơn là nỗ lực nhằm đối xử công bằng giữa nhân viên nam và nữ nơi công sở.

Gần 80% nam và nữ nhân viên nói rằng các cấp lãnh đạo quả cũng đã thuyết phục họ về những lợi ích của bình đẳng giới nhưng chỉ 20% tin rằng tổ chức của mình có thể thực hiện cam kết này một cách nghiêm túc.

Hầu như mọi công ty đều không thể theo đuổi cam kết này đến cùng. Gần ¾ số người được hỏi nói rằng công ty của mình cũng đã đề ra các sáng kiến như chương trình làm việc và kèm việc linh hoạt nhưng chưa tới 25% số người được hỏi đánh giá các chương trình này thực sự mang lại hiệu quả bởi nhân viên vẫn chưa nhận thấy nhiều phụ nữ giữ cương vị quản lý ở công ty họ.

60% người tham gia khảo sát phát biểu công ty không hề lưu tâm đến ý kiến của nhân viên đối với vấn đề bình đẳng giới. Chưa đến 20% đánh giá công ty mình sát sao với tiến trình thực hiện bình đẳng giới. Chỉ 14% nhận xét mình có những chương trình đào tạo và nhóm làm việc chuyên đề bình đẳng giới hiệu quả. Chỉ 8% tin rằng công ty của mình đã biết gắn kết hiệu quả các hình thức thưởng phạt với vấn đề bình đẳng giới.

Nam giới và nữ giới đều nhìn nhận rằng phụ nữ vẫn là người chịu hy sinh cuộc sống riêng tư và nghiêm túc thực hiện cam kết trong công việc hơn cả. Bản khảo sát này đã chỉ ra rằng thời gian người phụ nữ dành để chăm sóc con cái – và vì thế không thể toàn tâm cho công việc – chính là nguyên nhân cốt lõi dẫn đến sự bất bình đẳng trên con đường thăng tiến của họ, đặc biệt là trong những công ty có môi trường khắc nghiệt.

Continue reading