NHỮNG QUI ĐỊNH “BẤT KHẢ THI”

PHẠM NGỌC HỮU – Chuyên gia Hải quan

Xét về nguyên tắc, các văn bản quản lý về hoạt động xuất nhập khẩu phải phù hợp với tình hình thực tế khách quan và không gây ách tắc cho sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, trên thực tế đã phát sinh không ít trường hợp ngược lại. Bài viết này dẫn ra vài trường hợp để giúp bạn đọc hiểu rõ hơn tình trạng bất cập nói trên.

1.Thông tư 116/2008/TT-BTC ngày 4-12-2008 của Bộ Tài chính quy định: doanh nghiệp gia công phải đăng ký số lượng nguyên phụ liệu và định mức nguyên phụ liệu tại thời điểm đăng ký hợp đồng gia công (điểm I và II).

Cũng không quá khó để có thể nhận ra rằng khi đã xác định được số lượng chủng loại nguyên phụ liệu của hợp đồng gia công thì quá trình theo dõi nguyên liệu gia công nhập khẩu chỉ là một phép tính trừ lùi đơn giản. Cùng với việc xác định nguyên liệu gia công nhập khẩu, việc xác định được định mức sử dụng nguyên phụ liệu ngay từ đầu sẽ giúp người quản lý xác định ngay được số lượng sản phẩm gia công xuất khẩu. Quy định này rõ ràng rất thuận lợi cho công việc của cơ quan quản lý, đặc biệt là các cơ quan tài chính, hải quan.

Tuy nhiên với các doanh nghiệp, tình hình lại hoàn toàn khác. Hợp đồng gia công chỉ ghi nhận các nội dung có tính nguyên tắc chẳng hạn như: số lượng sản phẩm gia công, điều kiện giao hàng, phương thức thanh toán, thời gian hiệu lực của hợp đồng…

Trên thực tế hợp đồng chỉ được sử dụng trong các trường hợp có phát sinh tranh chấp, khiếu kiện… Phụ lục hợp đồng (Annex) mới chính là văn bản ghi nhận số lượng mặt hàng cụ thể và được coi là cơ sở trực tiếp để xác định số lượng chủng loại nguyên phụ liệu và định mức.

Phụ lục hợp đồng do người thuê gia công, căn cứ vào diễn biến thực tế của thị trường, để phát hành. Một hợp đồng gia công có thể có tới vài chục phụ lục và trong quá trình thực hiện mỗi phụ lục lại có thể được điều chỉnh nhiều lần về số lượng, kiểu dáng, màu sắc… Nếu thay đổi kiểu dáng, màu sắc sẽ dẫn đến thay đổi định mức, chủng loại nguyên liệu và tổng số lượng nguyên phụ liệu của hợp đồng.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ KINH TẾ, TIỀN TỆ – NGÂN HÀNG NĂM 2009 VÀ 2010

TẠP CHÍ NGÂN HÀNG

Năm 2009 qua đi với nhiều thăng trầm về kinh tế, tài chính ở trong nước và quốc tế. Nhưng, trong bối cảnh khủng hoảng toàn cầu thường thì cái mất nhiều hơn cái được. Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới hiện nay được xem là cuộc khủng hoảng cơ cấu, khủng hoảng chính sách và khủng hoảng về lòng tin, đặc biệt nhất là khởi phát từ những nơi được xem là trung tâm của sự ổn định và phát triển của kinh tế thế giới, tất nhiên nơi đó phải chịu thiệt hại lớn nhất.

Năm 2009, nền kinh tế và hệ thống tài chính – ngân hàng Việt Nam đã vượt qua một cách thành công tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu so với nhiều nước trong khu vực và thế giới. Kinh tế vĩ mô, hệ thống tài chính, ngân hàng tiếp tục được ổn định và tăng trưởng, đồng thời an sinh được bảo đảm bằng sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị. Tuy nhiên, năm 2010 còn phía trước với cơ hội đan xen cùng thách thức và thành công tiềm ẩn nguy cơ bất ổn cần được nhận diện.

1. Kinh tế thế giới và hệ thống tài chính toàn cầu năm 2009

Kinh tế toàn cầu suy thoái nghiêm trọng

Cuộc suy thoái kinh tế thế giới hiện nay xuất phát từ những yếu kém của khu vực tài chính và đã đẩy nền kinh tế thế giới vào suy thoái nghiêm trọng nhất kể từ cuộc Đại suy thoái 1929-1930.

Kinh tế thế giới rơi vào suy thoái kể từ quý III/2008 với mức độ ngày càng trầm trọng ở hầu hết các khu vực. Năm 2008, tăng trưởng kinh tế toàn cầu chỉ đạt 3%, thấp hơn nhiều so với mức 5,2% của năm 2007. Tính bình quân 3 quý đầu năm 2009, GDP giảm mạnh so với năm 2008, trong đó: Mỹ -3,23%, khu vực Eurro -4,6%, Anh -5,37%, Nhật Bản -6,6%, Nga -9,87%, Thái Lan -4,93%, Malaysia -3,77%, Trung Quốc +7,63%, Ấn Độ +6,6% và Indonesia +4,23%. Tuy nhiên, đến quý III/2009, nền kinh tế thế giới đã bắt đầu có dấu hiệu hồi phục, mặc dù chưa thật sự chắc chắn và không đồng đều ở các khu vực nhờ nỗ lực phối hợp chống suy thoái kinh tế và khủng hoảng tài chính trên phạm vi toàn cầu.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 24/BXD-QLN NGÀY 8 THÁNG 4 NĂM 2010 CỦA BỘ XÂY DỰNG HƯỚNG DẪN QUI ĐỊNH QUẢN LÝ SỬ DỤNG CĂN HỘ NHÀ CHUNG CƯ

Kính gửi:

Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hồ Chí Minh

Trả lời văn bản số 1585/SKHĐT-ĐKĐT ngày 10/3/2010 của Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hồ Chí Minh đề nghị hướng dẫn quy định quản lý sử dụng căn hộ nhà chung cư, Bộ Xây dựng có ý kiến như sau:

Ngày 10/02/2010, Bộ Xây dựng có Công văn số 241/BXD-QLN đề nghị UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo kiểm tra, thống kê việc sử dụng căn hộ làm cơ sở sản xuất, kinh doanh, văn phòng tại các nhà chung cư (kể cả nhà nhiều tầng có mục đích sử dụng hỗn hợp trong đó có căn hộ) trên địa bàn, từ đó đề xuất lộ trình, phương án giải quyết phù hợp và báo cáo Bộ Xây dựng.

Trường hợp sử dụng căn hộ làm cơ sở sản xuất, kinh doanh, bán hàng hoặc làm kho tàng, gây ảnh hưởng đến sinh hoạt của cộng đồng dân cư trong nhà chung cư là không đảm bảo quy định của pháp luật về nhà ở.

Đối với việc sử dụng căn hộ làm văn phòng tại nhà chung cư số 4 Nguyễn Đình Chiểu, phường Đa Kao, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh, trước mắt, chỉ giải quyết đối với trường hợp trước khi có văn bản số 2544/BXD-QLN ngày 19/11/2009 của Bộ Xây dựng, đã sử dụng căn hộ làm văn phòng mà văn phòng đó thường xuyên có ít hơn 10 người (không kể khách đến giao dịch) và chỉ phục vụ mục đích giao dịch nhỏ lẻ thì chủ sở hữu được phép tiếp tục sử dụng hoặc tiếp tục cho thuê căn hộ làm văn phòng cho đến khi Bộ Xây dựng có hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng căn hộ nhà chung cư.

Trên đây là ý kiến của Bộ Xây dựng, đề nghị Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hồ Chí Minh nghiên cứu thực hiện./.

TL. BỘ TRƯỞNG
CỤC TRƯỞNG CỤC QUẢN LÝ NHÀ VÀ THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN
Nguyễn Mạnh Hà

ĐẢNG VÀ DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN

MẠNH QUÂN

Trong suốt ba năm qua, với hàng loạt khó khăn của nền kinh tế như lạm phát cao (2007 – 2008), ảnh hưởng khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế thế giới (2009), đã có nhiều dự báo đen tối về khu vực kinh tế tư nhân (KTTN): hàng loạt doanh nghiệp sẽ phá sản, khối doanh nghiệp tư nhân (DNTN) mới hình thành có thể tan rã… Nhưng thực tế chứng minh DNTN có một sức sống rất dẻo dai, mãnh liệt.

Hiệu quả to lớn

Tại hội nghị sơ kết thực hiện nghị quyết Trung ương 5 (khoá IX) về “tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân” diễn ra hôm qua (6.4) tại Hà Nội, uỷ viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trương Tấn Sang đã đánh giá cao về sức tăng trưởng của khu vực KTTN: “KTTN đã phát triển nhanh về cả số lượng và chất lượng. Đã thu hút được các nguồn lực vào sản xuất, kinh doanh, tạo thêm việc làm, tăng thu cho ngân sách nhà nước, góp phần tích cực vào tăng trưởng nhanh của nền kinh tế”. Không có nhiều doanh nghiệp tư nhân bị phá sản trong suy thoái như dự báo, trái lại, số lượng doanh nghiệp đăng ký, thành lập mới vẫn đạt mức tăng trưởng trung bình 22%/năm.

Những con số do ông Ngô Văn Dụ, chánh văn phòng Trung ương Đảng nêu tóm tắt về tình hình phát triển khu vực KTTN trong bảy năm qua đã cho thấy những hiệu quả to lớn của khu vực này: nộp ngân sách tăng từ 6% năm 2002 lên trên 11% năm 2008; đóng góp 46,97% vào GDP cả nước, tạo việc làm cho trên 50% số lao động cả nước. Chỉ riêng ba năm 2007 – 2009, số DNTN thành lập mới tăng 1,5 lần về số lượng và gấp 5 lần về vốn đăng ký so với giai đoạn 2000 – 2005. Tổng số vốn đăng ký giai đoạn 2000 – 2008 của khu vực KTTN là 2.110 ngàn tỉ đồng, lớn hơn cả tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng trong giai đoạn này. Một thống kê khác của bộ Kế hoạch và đầu tư cho thấy, trong tổng số 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam, số lượng DNTN chiếm tới 24% năm 2008 và tăng rất nhanh lên 30% trong năm 2009.

Continue reading