NHU CẦU và vấn đề điều khiển hành vi

NGUYỄN BÁ MINH

Nhu cầu với tư cách là một hiện tượng tâm lý của con người, nó chi phối một cách mãnh liệt đến đời sống tâm lý nói chung, đến hành vi của con người nói riêng. Nhu cầu được nhiều ngành khoa học nghiên cứu và ứng dụng vào nhiều lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống: Trong quản lý, kinh doanh, giáo dục… Trong tâm lý học nhu cầu được nhiều công trình nghiên cứu đề cập tới. Ở đây tôi xin đề cập tới vấn đề nhu cầu trong mối quan hệ với việc điều khiển hành vi của con người.

Tại sao con người lại có hành động này chứ không phải là hành động khác trong một số hoàn cảnh? Hành động được hình thành như thế nào? Yếu tố gì quyết định đến hành vi của con người?

Bất cứ một hoạt động nào của con người cũng là nhằm thỏa mãn một nhu cầu nào đó của bản thân. Nhưng nhu cầu với tư cách là một điều kiện bên trong, là trạng thái thiếu thốn của cơ thể – trạng thái này tự nó không gây ra bất kỳ hoạt động nào có định hướng nhất định. Chức năng của nó chỉ giới hạn trong việc phát động những chức năng sinh lý tương ứng và kích thích chung đối với lĩnh vực vận dụng biểu hiện thành những cử động tìm tòi không có phương hướng. Chỉ khi nào gặp được vật (đối tượng ) đáp ứng thì khi đó nhu cầu mới trở thành có năng lực hướng dẫn và điều chỉnh hoạt động. Sự việc nhu cầu gặp được đối tượng là sự việc đặc biệt lúc đó như cầu được đối tượng hóa làm cho nhu cầu chứa đầy nội dung rút ra từ thế giới xung quanh. Chính lúc này nhu cầu có ý nghĩa hướng dẫn hành vi hoạt động của chủ thể:

Con người là chủ thể của hoạt động, của hành vi. Con người thực hiện: hành vi nhằm thỏa mãn nhu cầu được ý thức và hành vi này được thực hiện trên những khách thể nhất định. Muốn hướng con người vào một hành vi nào đó phải nghiên cứu hệ thống nhu cầu của người đó, giúp họ ý thức được nhu cầu, tạo điều kiện cho sự gặp gỡ giữa nhu cầu và đối tượng hay nói cách khác là phải tìm cách đối tượng hóa nhu cầu của chủ thể.

Continue reading

NHU CẦU VÀ VẤN ĐỀ ĐIỀU KHIỂN HÀNH VI

NGUYỄN BÁ MINH

Nhu cầu với tư cách là một hiện tượng tâm lý của con người, nó chi phối một cách mãnh liệt đến đời sống tâm lý nói chung, đến hành vi của con người nói riêng. Nhu cầu được nhiều ngành khoa học nghiên cứu và ứng dụng vào nhiều lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống: Trong quản lý, kinh doanh, giáo dục… Trong tâm lý học nhu cầu được nhiều công trình nghiên cứu đề cập tới. Ở đây tôi xin đề cập tới vấn đề nhu cầu trong mối quan hệ với việc điều khiển hành vi của con người.

Tại sao con người lại có hành động này chứ không phải là hành động khác trong một số hoàn cảnh? Hành động được hình thành như thế nào? Yếu tố gì quyết định đến hành vi của con người?

Bất cứ một hoạt động nào của con người cũng là nhằm thỏa mãn một nhu cầu nào đó của bản thân. Nhưng nhu cầu với tư cách là một điều kiện bên trong, là trạng thái thiếu thốn của cơ thể – trạng thái này tự nó không gây ra bất kỳ hoạt động nào có định hướng nhất định. Chức năng của nó chỉ giới hạn trong việc phát động những chức năng sinh lý tương ứng và kích thích chung đối với lĩnh vực vận dụng biểu hiện thành những cử động tìm tòi không có phương hướng. Chỉ khi nào gặp được vật (đối tượng ) đáp ứng thì khi đó nhu cầu mới trở thành có năng lực hướng dẫn và điều chỉnh hoạt động. Sự việc nhu cầu gặp được đối tượng là sự việc đặc biệt lúc đó như cầu được đối tượng hóa làm cho nhu cầu chứa đầy nội dung rút ra từ thế giới xung quanh. Chính lúc này nhu cầu có ý nghĩa hướng dẫn hành vi hoạt động của chủ thể:

Con người là chủ thể của hoạt động, của hành vi. Con người thực hiện: hành vi nhằm thỏa mãn nhu cầu được ý thức và hành vi này được thực hiện trên những khách thể nhất định. Muốn hướng con người vào một hành vi nào đó phải nghiên cứu hệ thống nhu cầu của người đó, giúp họ ý thức được nhu cầu, tạo điều kiện cho sự gặp gỡ giữa nhu cầu và đối tượng hay nói cách khác là phải tìm cách đối tượng hóa nhu cầu của chủ thể.

Continue reading

SUY NGẪM 45

Chỉ còn hơn 5 tháng, Hà Nội bước vào những ngày cuối cùng của Đại lễ 1000 năm tuổi. Thành phố “sạch” nhất Việt Nam năm 2009 vẫn khoác trên mình sự nhếch nhác đến khó tả do ô nhiễm từ bụi, âm thanh, văn hóa đường phố… Khắp nơi, các nhà chức trách bóc đất, lát gạch, đắp đường, trồng cây… Khách thập phương và người dân sở tại phải tự “gồng mình” vén sự ô nhiễm và bề bộn của thành phố để cảm nhận cái hồn của 1000 năm Thăng Long – Hà Nội.

Trên các phương tiện thông tin đại chúng của Thành phố, các bảng hiệu ngoài trời luôn hiển thị còn bao nhiêu ngày đến ngày Đại lễ… thông báo đó dường như chỉ có ý nghĩa thúc ép nhà tổ chức phải hoàn tất nốt công tác chuẩn bị?! mà không phải là số thời gian Hà Nội sống trong Đại lễ?! Dồn sức cho cho ngày Đại lễ là điều phải làm, nhưng chẳng nhẽ kỷ niệm lịch sử 1000 năm bằng hàng nghìn tỷ đồng chỉ dành cho một ngày? mà không thể là một năm và hơn thế nữa?!

Chúng ta thường trách thế hệ trẻ không hiểu lịch sử nước nhà, nhưng chính chúng ta đã cho các em quá ít thời gian và điều kiện để cảm nhận và tự hào những gì ông cha đã

Les stéroïdes, un acide gras d’origine naturelle, sont présents dans la viande de ruminants et les produits laitiers et sont produits par un processus de bio-hydrogénation dans le rumen. Dans ce cas, l’isomère prédominant formé est le 9cis, les groupes 11trans.FA qui produisaient des bienfaits pour la santé. Cependant, le modèle d’expression des visitez le site Web enzymes impliquées dans la synthèse des acides gras ne correspondait pas aux changements dans la composition de l’AF. Ainsi, le mécanisme des changements induits par l’exercice et les stéroïdes dans le profil d’AF hépatique n’a pas encore été établi. En outre, les conséquences des changements induits par les stéroïdes et / ou l’exercice dans la composition des AG hépatiques doivent être élucidées.

để lại.

CIVILLAWINFOR

Số khác > > >

Ý NGHĨA CỦA VIỆC GIA NHẬP WTO đối với Chính phủ và các doanh nghiệp

MUTRAP

1. Bản chất của WTO

Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) được thành lập vào ngày 1 tháng 1 năm 1995 và là một bước phát triển toàn diện của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT). WTO quản lý các Hiệp định thương mại do các Thành viên ký kết, đặc biệt là Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT), Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ (GATS) và Hiệp định về quyền sở hữu trí tuệ (TRIPs). Các quy định và thủ tục của WTO tạo ra một khuôn khổ cho việc trao đổi hàng hóa, dịch vụ và sở hữu trí tuệ. Các nguyên tắc và quy định được các Thành viên đàm phán thông qua các cuộc thảo luận chính thức và không chính thức khác trong các diễn đàn khác nhau của WTO và các vòng đàm phán thương mại đa phương định kỳ như Vòng đàm phán Đôha vì sự phát triển hiện nay (DDA).

Các Thành viên WTO có trình độ kinh tế khác nhau, từ những nền kinh tế kém phát triển nhất cho tới những nền kinh tế phát triển nhất. Sự thành công của tổ chức này được thể hiện ở sự phát triển liên tục số lượng các nước tham gia. Kể từ khi tổ chức này được thành lập, đã có hai mươi hai nước – kể cả Việt Nam – gia nhập WTO, đưa tổng số Thành viên lên tới 150 (tới thời điểm tháng 10 năm 2007), chiếm trên 90% tổng thương mại toàn cầu. Các Thành viên mới của châu Á gia nhập WTO trước Việt Nam là Trung Quốc và Đài Loan, hai nền kinh tế gia nhập năm 2001 và 2002, Ácmênia (2003), Campuchia (2004) và Nêpan (2004).

WTO coi việc không phân biệt đối xử, mở cửa thị trường và cạnh tranh toàn cầu trong thương mại quốc tế sẽ thúc đẩy phúc lợi quốc gia tại tất cả các nước là triết lý nền tảng của mình. Một lý do khiến WTO tồn tại là các hạn chế về chính trị đã ngăn cản các Chính phủ áp dụng các chính sách thương mại hiệu quả hơn, và thông qua sự trao đổi có đi có lại các cam kết tự do hóa, các nước có thể vượt qua các hạn chế chính trị này. Các quy định và thủ tục của WTO (www.wto.org) được xây dựng dựa trên một số nguyên tắc chung, các nguyên tắc này có thể được tóm tắt dưới đây:

Continue reading

Ý NGHĨA CỦA VIỆC GIA NHẬP WTO ĐỐI VỚI CHÍNH PHỦ VÀ CÁC DOANH NGHIỆP

MUTRAP

1. Bản chất của WTO

Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) được thành lập vào ngày 1 tháng 1 năm 1995 và là một bước phát triển toàn diện của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT). WTO quản lý các Hiệp định thương mại do các Thành viên ký kết, đặc biệt là Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT), Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ (GATS) và Hiệp định về quyền sở hữu trí tuệ (TRIPs). Các quy định và thủ tục của WTO tạo ra một khuôn khổ cho việc trao đổi hàng hóa, dịch vụ và sở hữu trí tuệ. Các nguyên tắc và quy định được các Thành viên đàm phán thông qua các cuộc thảo luận chính thức và không chính thức khác trong các diễn đàn khác nhau của WTO và các vòng đàm phán thương mại đa phương định kỳ như Vòng đàm phán Đôha vì sự phát triển hiện nay (DDA).

Các Thành viên WTO có trình độ kinh tế khác nhau, từ những nền kinh tế kém phát triển nhất cho tới những nền kinh tế phát triển nhất. Sự thành công của tổ chức này được thể hiện ở sự phát triển liên tục số lượng các nước tham gia. Kể từ khi tổ chức này được thành lập, đã có hai mươi hai nước – kể cả Việt Nam – gia nhập WTO, đưa tổng số Thành viên lên tới 150 (tới thời điểm tháng 10 năm 2007), chiếm trên 90% tổng thương mại toàn cầu. Các Thành viên mới của châu Á gia nhập WTO trước Việt Nam là Trung Quốc và Đài Loan, hai nền kinh tế gia nhập năm 2001 và 2002, Ácmênia (2003), Campuchia (2004) và Nêpan (2004).

WTO coi việc không phân biệt đối xử, mở cửa thị trường và cạnh tranh toàn cầu trong thương mại quốc tế sẽ thúc đẩy phúc lợi quốc gia tại tất cả các nước là triết lý nền tảng của mình. Một lý do khiến WTO tồn tại là các hạn chế về chính trị đã ngăn cản các Chính phủ áp dụng các chính sách thương mại hiệu quả hơn, và thông qua sự trao đổi có đi có lại các cam kết tự do hóa, các nước có thể vượt qua các hạn chế chính trị này. Các quy định và thủ tục của WTO (www.wto.org) được xây dựng dựa trên một số nguyên tắc chung, các nguyên tắc này có thể được tóm tắt dưới đây:

Continue reading

CAM KẾT VỀ DỊCH VỤ KHI GIA NHẬP WTO: BÌNH LUẬN CỦA NGƯỜI TRONG CUỘC

MUTRAP

LỜI NÓI ĐẦU

Trong 2 năm qua, sau khi chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Việt Nam đã nghiêm túc thực hiện các cam kết của mình với tổ chức này trong tất cả các lĩnh vực như thuế, phi thuế, sở hữu trí tuệ, dịch vụ… Sự nghiêm túc của Việt Nam được các thành viên WTO và cộng đồng doanh nghiệp trong và ngoài nước đánh giá cao và đó cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng góp phần tạo ra kết quả thu hút vốn đầu tư nước ngoài đầy ấn tượng trong 2 năm 2007 và 2008 vừa qua.

Tuy nhiên, như ở nhiều thành viên mới gia nhập WTO khác, quá trình thực thi cam kết ở Việt Nam cũng đã gặp một số vướng mắc gây khó khăn không nhỏ cho doanh nghiệp và các cơ quan quản lý nhà nước hu quan. Những vướng mắc này chủ yếu phát sinh trong lĩnh vực dịch vụ, một lĩnh vực còn khá mới và hết sức phức tạp, không chỉ với nước ta mà còn với nhiều nước khác trên thế giới.

Sự phức tạp trong thực thi các cam kết dịch vụ bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, trong đó có những nguyên nhân không dễ nhận biết nếu dịch vụ hoặc đàm phán dịch vụ không phải là lĩnh vực chuyên môn của người có liên quan. Trong những nguyên nhân này, có nguyên nhân thuộc về cách định nghĩa và phân loại dịch vụ, có nguyên nhân thuộc về cách thức cam kết mở cửa thị trường dịch vụ, nhưng cũng có những nguyên nhân bắt nguồn từ chiến thuật đàm phán của các nhà đàm phán, tức là không mấy liên quan tới bản chất và nội dung, khiến quá trình thực thi vốn đã phức tạp càng trở nên phức tạp và rắc rối hơn.

Sự phức tạp trong thực thi các cam kết dịch vụ đã và đang gây khó khăn cho các doanh nghiệp và cơ quan quản lý, cấp phép đầu tư tại các địa phương. Nhiều doanh nghiệp, do chưa hiểu rõ nội dung của Biểu cam kết dịch vụ, đã bỏ công điều tra, chắp nối, xây dựng nghiên cứu tiền khả thi và nộp đơn xin thành lập các dự án đầu tư trong những ngành hoặc phân ngành dịch vụ mà Biểu cam kết dịch vụ không cho phép hoặc chỉ cho phép sau một thời gian chuyển đổi, dẫn đến việc hồ sơ xin phép bị cơ quan cấp phép từ chối và doanh nghiệp phải gánh chịu những mất mát to lớn về thời gian và chi phí. Ở chiều ngược lại, cũng do chưa nắm rõ nội dung của Biểu cam kết nên rải rác đã xuất hiện tình trạng cơ quan quản lý nhà nước từ chối các quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư khiến nhà đầu tư phải khiếu nại, ảnh hưởng đến uy tín không chỉ của cơ quan quản lý nhà nước có liên quan mà còn của cả Chính phủ Việt Nam trong quá trình thực thi cam kết gia nhập WTO.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 642/ BXD-QLN NGÀY 21 THÁNG 4 NĂM 2010 CỦA BỘ XÂY DỰNG VỀ VIỆC GÓP VỐN LIÊN DOANH LIÊN QUAN ĐẾN TÀI SẢN TRÊN ĐẤT

Kính gửi:

Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Caric – Tổng Công ty máy và thiết bị công nghiệp – Bộ Công thương

Bộ Xây dựng nhận được văn bản số 54 CV/CR-TGĐ ngày 19/3/2010 của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Caric trực thuộc Tổng Công ty máy và thiết bị công nghiệp, Bộ Công thương về việc góp vốn liên doanh liên quan đến tài sản trên đất. Vấn đề này, Bộ Xây dựng có ý kiến như sau:

1. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Caric chỉ được thực hiện việc đưa tài sản trên đất là văn phòng làm việc tại 17 Tôn Đức Thắng, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh vào góp vốn liên doanh với Công ty TNHH Tập đoàn Đông Dương khi được Tổng Công ty máy và thiết bị công nghiệp, Bộ Công thương đồng ý theo quy định của pháp luật.

2. Việc Công ty đưa tài sản trên đất vào góp vốn liên doanh phải trên cơ sở phương án sắp xếp lại, xử lý nhà, đất của Tổng Công ty theo Quyết định 09/QĐ-TTg ngày 19/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ về sắp xếp lại, xử lý nhà, đất thuộc sở hữu nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt theo Quyết định 09/QĐ-TTg.

3. Khi đưa tài sản trên đất vào góp vốn liên doanh, tài sản phải được đánh giá lại giá trị theo quy định của pháp luật.

Trên đây là ý kiến của Bộ Xây dựng để Công ty biết và thực hiện ./.

KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG
Nguyễn Trần Nam

CÔNG VĂN SỐ 663/BXD-TTr NGÀY 22 THÁNG 4 NĂM 2010 CỦA BỘ XÂY DỰNG TRẢ LỜI KHIẾU NẠI VỀ XÁC LẬP QUYỀN SỞ HỮU ĐỐI VỚI CĂN NHÀ SỐ 73 ĐƯỜNG THỐNG NHẤT, QUẬN TÂN PHÚ, TPHCM

Kính gửi:

Sở Xây dựng thành phố Hồ Chí Minh

Bộ Xây dựng nhận được Công văn số 7087/SXD-TTr ngày 27/8/2009 của Sở Xây dựng thành phố Hồ Chí Minh xin ý kiến giải quyết đối với khiếu nại của bà Nguyễn Thị Hiền liên quan đến căn nhà số 73 (số cũ là 55/1) đường Thống Nhất, phường Tân Thành, quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi xem xét nội dung Công văn nói trên cùng các tài liệu kèm theo, Bộ Xây dựng có ý kiến như sau:

Căn nhà số 73 đường Thống nhất, mặc dù Nhà nước đã có văn bản quản lý, nhưng trên thực tế Nhà nước không quản lý, không bố trí sử dụng đối với căn nhà nói trên, Gia đình bà Nguyễn Thị Hiền, nguyên là chủ sở hữu vẫn quản lý, sử dụng căn nhà trên liên tục từ trước khi Nhà nước có văn bản quản lý đến nay, dù gia đình bà Hiền nhập hộ khẩu sau ngày Nghị quyết số 755/2005/NQ-UBTVQH11 có hiệu lực nhưng thực tế bà Hiền đã kê khai đăng ký tạm trú tạm trú tại căn nhà trên từ năm 1989. Do đó có thể áp dụng quy định tại Khoản 1, Điều 5 Nghị quyết số 755/2005/NQ-UBTVQH11 ngày 02/4/2005 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội để công nhận quyền sở hữu căn nhà số 73 đường Thống Nhất, phường Tân Thành, quận Tân Phú cho bà Nguyễn Thị Hiền là đúng pháp luật.

Bộ Xây dựng trả lời để Sở Xây dựng vận dụng giải quyết trường hợp nhà số 73 Thống Nhất./.

KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG
Nguyễn Trần Nam

BÁO CÁO CỦA ỦY BAN CHỨNG KHOÁN NHÀ NƯỚC, BỘ TÀI CHÍNH VỀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ TRONG PHÁP LUẬT CHỨNG KHOÁN

Hà Nội, tháng 3/2010

I. CHÀO BÁN CHỨNG KHOÁN RA CÔNG CHÚNG

1. Kinh nghiệm của Ba Lan

Luật Chứng khoán Ba Lan quy định:

Điều 81.5. Hội đồng Bộ trưởng sẽ quyết định, bằng nghị định, về loại, hình thức và phạm vi của các thông tin hiện hành và định kỳ nói đến tại điểm 3 khoản 1, và ngày mà các thông tin này được nộp bởi tổ chức phát hành bất kỳ chứng khoán nào được chấp thuận:

1) cho giao dịch tại một sở giao dịch chứng khoán chính thức quy định tại điểm 1 khoản 1 Điều 90,

2) cho giao dịch nơi công chúng nhưng không được giao dịch tại một thị trường có quản lý.

Nghị định nói trên phải quy định rõ phạm vi thông tin và lịch trình nộp các thông tin đối với mỗi loại thị trường nơi chứng khoán đang niêm yết hoặc sẽ niêm yết theo một phương thức cho phép các nhà đầu tư đánh giá các hoạt động và vị thế tài chính của tổ chức phát hành.

Điều 84. 1. Công ty đại chúng có trụ sở chính tại Cộng hoà Ba lan có nghĩa vụ phải đưa ra giao dịch nơi công chúng cổ phiếu của mỗi đợt phát hành.

2. Trong trường hợp một đợt phát hành trái phiếu chuyển đổi thành cổ phiếu của một công ty đại chúng được thực hiện thông qua việc chào bán cho ít hơn 300 người mua cá nhân, công ty này phải có được sự chấp thuận cho giao dịch nơi công chúng các cổ phiếu phát hành để thực hiện quyền của các trái chủ có được từ các trái phiếu này trước khi đưa ra đề nghị chào bán các trái phiếu này.

Continue reading

BÁO CÁO CỦA BỘ TÀI CHÍNH VỀ TÌNH HÌNH THI HÀNH LUẬT CHỨNG KHOÁN VÀ HOẠT ĐỘNG THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

(Ngày ban hành Báo cáo chưa xác định)

I. Tình hình thi hành Luật Chứng khoán

1. Kết quả đạt được

Luật Chứng khoán được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2006 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2007. Luật Chứng khoán đã tạo lập khuôn khổ pháp lý cao cho hoạt động của TTCK, cơ bản loại bỏ những mâu thuẫn, xung đột với các văn bản pháp luật khác có liên quan; tăng cường vai trò quản lý nhà nước đối với TTCK nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư và các tổ chức tham gia thị trường; tạo cơ sở pháp luật để giám sát, cưỡng chế thực thi, bảo đảm các doanh nghiệp tham gia trên thị trường phải hoạt động công khai, minh bạch, từ đó góp phần làm minh bạch hoá nền kinh tế; đồng thời tạo lập các quy định phù hợp với luật pháp, thông lệ quốc tế nhằm tạo điều kiện cho TTCK Việt Nam có khả năng hội nhập với các thị trường vốn quốc tế và khu vực, đặc biệt là đáp ứng được lộ trình thực hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam.

Để triển khai thi hành Luật Chứng khoán, Bộ Tài chính, UBCKNN đã phối hợp với các cơ quan liên quan soạn thảo, ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Chứng khoán. Cụ thể gồm 02 Nghị định của Chính phủ, 01 Chỉ thị, 09 Thông tư và 24 Quyết định hướng dẫn thực hiện. Đối chiếu với yêu cầu của Luật, số lượng các văn bản hướng dẫn thi hành về cơ bản đầy đủ. Tuy nhiên, vẫn còn một số văn bản chưa được ban hành kịp thời, nguyên nhân chủ yếu do thời gian qua thị trường chứng khoán hoạt động chưa ổn định nên việc xây dựng dự thảo hướng dẫn phải thường xuyên được chỉnh sửa và bổ sung liên tục.

Qua 3 năm thi hành, Luật Chứng khoán và các văn bản hướng dẫn đã đạt được những kết quả quan trọng, cụ thể như sau:

Continue reading