MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ KHOẢN 2 ĐIỀU 410 BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ NĂM 2004

BÀNH QUỐC TUẤN – Khoa Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia TPHCM

Tóm tắt. Trên cơ sở nghiên cứu các qui định của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2004 và các văn bản pháp luật khác có liên quan, tác giả bài viết có một số ý kiến về hoàn thiện khoản 2 Điều 410 của Bộ Luật tố tụng dân sự Việt Nam năm 2004 liên quan đến thẩm quyền của Tòa án Việt Nam giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài.

1. Đặt vấn đề

Tư pháp quốc tế là một bộ phận của pháp luật quốc tế có đối tượng điều chỉnh là các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài. Trên thế giới, Tư pháp quốc tế là một lĩnh vực khoa học pháp lý tương đối độc lập, một bộ phận không thể thiếu trong hệ thống pháp luật của các quốc gia và vai trò này ngày càng trở nên quan trọng ở bất kỳ quốc gia nào do nhu cầu giao lưu quốc tế, phát triển. Các ngành luật quốc nội như: Luật dân sự, Luật thương mại… điều chỉnh các quan hệ của mình một cách trực tiếp và đơn giản. Ví dụ như chỉ cần tìm các quy định cụ thể áp dụng giải quyết đúng địa chỉ của quan hệ pháp luật cụ thể. Nhưng nếu các quan hệ này lại có một hoặc vài yếu tố nước ngoài tham gia tất yếu các quan hệ đó sẽ phụ thuộc vào sự điều chỉnh của hai hay nhiều hệ thống pháp luật và đương nhiên vấn đề lựa chọn một hệ thống pháp luật điều chỉnh là rất cần thiết. Xung đột pháp luật sẽ xảy ra khi hai hay nhiều hệ thống pháp luật đồng thời đều có thể áp dụng để điều chỉnh một quan hệ pháp luật này hay quan hệ pháp luật khác. Vấn đề cần phải giải quyết là chọn một trong các hệ thống pháp luật đó để áp dụng giải quyết quan hệ pháp luật đó.

Ở Việt Nam, trong giai đoạn hội nhập ngày nay ngày càng mạnh mẽ vào hoạt động kinh tế thế giới, các mối quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài xuất hiện ngày càng nhiều và ngày càng phức tạp đặt ra yêu cầu phải được điều chỉnh bởi pháp luật. Đáp ứng yêu cầu trên, những quy định của pháp luật nội dung điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài đang dần dần được hoàn thiện trong hàng loạt các văn bản pháp luật quan trọng như Bộ Luật dân sự 2005, Bộ Luật hàng hải 2005, Luật Đầu tư 2005, Luật doanh nghiệp 2005 [1], Luật thương mại 2005… Và cùng với luật nội dung, những quy định của luật thủ tục liên quan đến tư pháp quốc tế cũng ra đời tương ứng để giải quyết các tranh chấp phát sinh. Quốc hội đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quan trọng quy định về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài, trong đó đặc biệt là Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2004 [2] đã giành một bộ phận xứng đáng các điều luật quy định thẩm quyền xét xử của Tòa án Việt Nam đối với các tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài.

Continue reading

BÁO CÁO SỐ 36/BC-CP NGÀY 20 THÁNG 04 NĂM 2010 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ VIỆC THỰC HIỆN CÁC MỤC TIÊU QUỐC GIA VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI NĂM 2009

Kính gửi

Quốc hội

Luật Bình đẳng giới có hiệu lực thi hành được hơn 2 năm, thời gian chưa nhiều để triển khai thực hiện những quy định của Luật, mặt khác, nhận thức về vấn đề bình đẳng giới còn nhiều hạn chế song việc thực hiện các quy định pháp luật về bình đẳng giới được triển khai bước đầu khá đồng bộ ở hầu hết các ngành, các cấp, tạo ra được tiền đề tích cực cho các năm tiếp theo.

Thực hiện Điều 25 Luật Bình đẳng giới, Chính phủ báo cáo Quốc hội về việc thực hiện mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới năm 2009 với những nội dung cụ thể như sau:

Phần 1.

TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÁC MỤC TIÊU QUỐC GIA VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI NĂM 2009

I. TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI THỰC HIỆN LUẬT BÌNH ĐẲNG GIỚI

1. Công tác xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật về bình đẳng giới

So với năm 2008, trong năm 2009, việc ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Bình đẳng giới đã hoàn thành theo quy định tại Chỉ thị số 10/2007/CT-TTg ngày 03 tháng 5 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai thi hành Luật Bình đẳng giới. Cho tới thời điểm này, Chính phủ đã ban hành 03 Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Bình đẳng giới là: Nghị định số 70/2008/NĐ-CP ngày 04 tháng 6 năm 2008 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bình đẳng giới, Nghị định số 48/2009/NĐ-CP ngày 19 tháng 5 năm 2009 quy định về các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới và Nghị định số 55/2009/NĐ-CP ngày 10 tháng 6 năm 2009 quy định xử phạt vi phạm hành chính về bình đẳng giới. Đồng thời, Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 08/2009/NĐ-CP ngày 04 tháng 02 năm 2009 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình và Nghị định số 110/2009/NĐ-CP ngày 10 tháng 12 năm 2009 quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 45/2010/NĐ-CP NGÀY 21 THÁNG 4 NĂM 2010 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH VỀ TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG VÀ QUẢN LÝ HỘI

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Sắc lệnh số 102/SL/L004 ngày 20 tháng 5 năm 1957 ban hành Luật quy định quyền lập hội;
Căn cứ Bộ Luật Dân sự ngày 14 tháng 6 năm 2005;
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nội vụ,

NGHỊ ĐỊNH

Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

1. Nghị định này quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý nhà nước đối với hội.

2. Nghị định này không áp dụng với các tổ chức:

a) Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam;

b) Các tổ chức giáo hội.

Điều 2. Hội

1. Hội được quy định trong Nghị định này được hiểu là tổ chức tự nguyện của công dân, tổ chức Việt Nam cùng ngành nghề, cùng sở thích, cùng giới, có chung mục đích tập hợp, đoàn kết hội viên, hoạt động thường xuyên, không vụ lợi nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của hội, hội viên, của cộng đồng; hỗ trợ nhau hoạt động có hiệu quả, góp phần vào việc phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, được tổ chức và hoạt động theo Nghị định này và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan.

2. Hội có các tên gọi khác nhau: hội, liên hiệp hội, tổng hội, liên đoàn, hiệp h

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 1271/LĐTBXH-LĐTL NGÀY 22 THÁNG 04 NĂM 2010 CỦA BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI HƯỚNG DẪN GIẢI QUYẾT CHẾ ĐỘ TRỢ CẤP THÔI VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG

Kính gửi:

Công ty Cổ phần Dược phẩm Hà Nội
(Số 170 Đê La Thành, Ô Chợ Dừa, Đống Đa, Hà Nội)

Trả lời công văn số 56/CV-CT ngày 12/04/2010 của Công ty Cổ phần Dược phẩm Hà Nội về việc giải quyết chế độ trợ cấp thôi việc cho người lao động, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:

Theo quy định tại Điều 15, Nghị định số 114/2002/NĐ-CP ngày 31/12/2002 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về tiền lương và khoản 2, Điều 41, Nghị định số 127/2008/NĐ-CP ngày 12/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm thất nghiệp thì tiền lương làm căn cứ tính chế độ trợ cấp thôi việc theo pháp luật lao động là tiền lương theo hợp đồng lao động, được tính bình quân của 6 tháng liền kề trước khi chấm dứt hợp đồng lao động, gồm tiền lương cấp bậc, chức vụ, phụ cấp khu vực, phụ cấp chức vụ (nếu có).

Như vậy, đối với người lao động trong Công ty cổ phần Dược phẩm Hà Nội đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, khi chấm dứt hợp đồng lao động đúng pháp luật (chấm dứt hợp đồng lao động theo Điều 36, Điều 37, các điểm a, c, d và đ khoản 1, Điều 38 Bộ luật Lao động) thì được trả trợ cấp thôi việc theo Điều 42 Bộ luật Lao động. Tiền lương làm căn cứ tính chế độ trợ cấp thôi việc là tiền lương thỏa thuận và ghi trong hợp đồng lao động, được tính bình quân của 6 tháng liền kề trước khi chấm dứt hợp đồng lao động.

Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội trả lời để Công ty biết và thực hiện.

TL. BỘ TRƯỞNG
VỤ TRƯỞNG VỤ LAO ĐỘNG-TIỀN LƯƠNG
Tống Thị Minh

CÁC YÊU CẦU ĐỐI VỚI CHÍNH SÁCH KINH TẾ CHUNG KHI GIA NHẬP WTO

TRẦN HỮU BƯU, NGUYỄN VÂN CHI, PHẠM THỊ TƯỚC, TRƯƠNG THÙY LINH, TRẦN HÀO HÙNG VÀ TRỊNH MINH ANH 

Giới thiệu

Trong giai đoạn đầu của quá trình gia nhập, giống như các nước đang gia nhập khác, Việt Nam được yêu cầu cung cấp các thông tin chi tiết về cơ chế kinh tế và thương mại của mình. Các Hiệp định WTO không đưa ra các nghĩa vụ trực tiếp mà chính sách kinh tế của các Thành viên phải tuân thủ cũng như không quy định các công cụ chính để thực thi chính sách. Nhưng từ hệ thống của WTO có thể thấy rằng các chính sách kinh tế chung của các Thành viên có tác động quan trọng tới cơ chế thương mại nói chung và quyết định nội dung của các biện pháp thương mại một cách đáng kể.

Do đó, Việt Nam được yêu cầu cung cấp các thông tin chi tiết về chính sách thương mại của mình trong Bị vong lục về cơ chế Ngoại thương của mình, Bị vong lục được cung cấp cho WTO trong giai đoạn đầu của tiến trình gia nhập, và sau đó Việt Nam được yêu cầu cung cấp cho Ban công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO (Ban công tác) những thay đổi lớn trong các chính sách kinh tế của mình.

1. Chính sách tài chính và tiền tệ

Như được chỉ ra tại các đoạn 9 – 17 trong Báo cáo của Ban công tác, đại diện của Việt Nam thông báo cho Ban công tác những yếu tố quan trọng nhất trong chính sách tài chính và tiền tệ của Việt Nam và các khía cạnh thể chế liên quan. Đại diện của Việt Nam khẳng định với Ban công tác rằng mục tiêu chính của chính sách tiền tệ của Việt Nam là ổn định giá trị của tiền Đồng nhằm kiểm soát lạm phát và thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội. Đại diện này cũng cung cấp thông tin về sự phát triển của hệ thống ngân hàng thương mại, kể cả lịch trình cổ phần hóa dự kiến. Quá trình cải cách hệ thống thuế cũng được mô tả chi tiết.

1.1. Thông tin chung và quá trình gia nhập WTO

Việt Nam phải thông báo chi tiết về hệ thống thanh toán và giao dịch ngoại hối của mình cho WTO do vai trò quyết định của hệ thống này đối với việc duy trì các mối quan hệ kinh tế phù hợp với các quy tắc của WTO4. Như đại diện của Việt Nam giải thích, Việt Nam đã thay thế hệ thống tỷ giá hối đoái cố định bằng một cơ chế tỷ giá linh hoạt thả nổi có quản lý từ năm 1989. Việt Nam đã bình thường hoá quan hệ tài chính với Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) vào năm 1993 và đã từng bước tuân thủ các yêu cầu tại Điều VIII trong Điều lệ IMF. Mục tiêu đưa Đồng Việt Nam trở thành đồng tiền chuyển đổi được đặt ra vào năm 2001 và các biện pháp kiểm soát giao dịch vãng lai đã dần dần được tự do hóa.

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 15 /2010/TT-BLĐTBXH NGÀY 20 THÁNG 4 NĂM 2010 CỦA BỘ LAO ĐỘNG-THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI HƯỚNG DẪN ĐIỀU CHỈNH LƯƠNG HƯU, TRỢ CẤP BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ TRỢ CẤP HÀNG THÁNG THEO NGHỊ ĐỊNH SỐ 29/2010/NĐ-CP NGÀY 25 THÁNG 3 NĂM 2010 VÀ NGHỊ ĐỊNH SỐ 28/2010/NĐ-CP NGÀY 25 THÁNG 3 NĂM 2010 CỦA CHÍNH PHỦ

Căn cứ Nghị định số 29/2010/NĐ-CP ngày 25 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng đối với cán bộ xã đã nghỉ việc (sau đây được viết là Nghị định số 29/2010/NĐ-CP) và Nghị định số 28/2010/NĐ-CP ngày 28 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ quy định mức lương tối thiểu chung (sau đây được viết là Nghị định số 28/2010/NĐ-CP), Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội hướng dẫn điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng như sau:

Điều 1. Đối tượng áp dụng:

1. Cán bộ, công chức, công nhân, viên chức và người lao động (kể cả người có thời gian tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, người nghỉ hưu từ quỹ bảo hiểm xã hội nông dân Nghệ An chuyển sang theo quy định tại Quyết định số 41/2009/QĐ-TTg ngày 16 tháng 3 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ); quân nhân, công an nhân dân, người làm công tác cơ yếu đang hưởng lương hưu trước ngày 01 tháng 5 năm 2010.

2. Cán bộ xã, phường, thị trấn quy định tại Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2009, Nghị định số 121/2003/NĐ-CP ngày 21 tháng 10 năm 2003 và Nghị định số 09/1998/NĐ-CP ngày 23 tháng 01 năm 1998 của Chính phủ đang hưởng lương hưu, trợ cấp hàng tháng trước ngày 01 tháng 5 năm 2010.

3. Người đang hưởng trợ cấp mất sức lao động hàng tháng; người đang hưởng trợ cấp hàng tháng theo Quyết định số 91/2000/QĐ-TTg ngày 04 tháng 8 năm 2000 của Thủ tướng Chính phủ; công nhân cao su đang hưởng trợ cấp hàng tháng.

4. Người đang hưởng trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp hàng tháng trước ngày 01 tháng 5 năm 2010.

5. Người đang hưởng trợ cấp tuất hàng tháng trước ngày 01 tháng 5 năm 2010.

Continue reading

MỘT SỐ SO SÁNH VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN THEO LUẬT CÔNG TY NHẬT BẢN VÀ LUẬT DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ LAN HƯƠNG -  Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội,

Tóm tắt. Luật công ty (LCT) Nhật Bản và Luật doanh nghiệp (LDN) Việt Nam đều có những qui định tương đồng về quyền của cổ đông như qu yền hưởng lợi tức cổ phần, qu yền biểu quyết, quyền tự do chuyển nhượng cổ phần, qu yền xem xét trích lục các thông tin, v.v… và qui định về tổ chức nội bộ công ty cổ phần (CTCP) bao gồm Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ), Hội đồng quản trị (HĐQT) và Ban kiểm soát (BKS). Bảo vệ cổ đông của CTCP và xây dựng mô hình tổ chức nội bộ phù hợp là những vấn đề trung tâm trong LCT Nhật Bản và LDN Việt Nam.

CTCP ở Việt Nam có sự tham gia của cổ đông nhà nước trong cơ cấu cổ đông, mặc dù đạt được mục đích duy trì qu yền chi phối trong công ty nhưng trong nhiều công ty, vị thế của cổ đông nhà nước bị lạm dụng dẫn tới làm thiệt hại cho cổ đông nói chung. Ở Nhật Bản nhằm khắc phục tình trạng hình thức hóa của HĐQT, BKS đã xây dựng mô hình tổ chức nội bộ mới trong đó thành lập các Ủy ban trực thuộc HĐQT trong đó có Ủy ban giám sát làm nhiệm vụ giám sát thường xuyên hoạt động quản lý điều hành công ty thay cho BKS của mô hình cũ.

Từ sự so sánh đối chiếu cho thấy rằng, tạo ra tổ chức nội bộ phù hợp nhằm kiểm soát thường xuyên trong cơ quan thường trực quản lý giám sát hoạt động kinh doanh là HĐQT. Sự du nhập mô hình tổ chức nội bộ mới ở Nhật Bản tạo ra sự phân qu yền và giám sát lẫn nhau trong HĐQT trong thực hiện hoạt động quản lý, điều hành kinh doanh và giám sát. Đây có thể trở thành bài học kinh nghiệm cho Việt Nam cho hoàn thiện pháp luật công ty để bảo vệ cổ đông và xây dựng mô hình tổ chức nội bộ phù hợp.

1. Tình hình nghiên cứu so sánh pháp luật về công ty cổ phần ở Nhật Bản và Việt Nam

Hiện nay ở nước ta, có nhiều nghiên cứu của các học giả kinh tế và pháp luật về CTCP trong nước như nghiên cứu CTCP gắn với thị trường chứng khoán, nghiên cứu về quản lý của CTCP và quyền và nghĩa vụ của cổ đông trong CTCP có một số nghiên cứu so sánh LDN ở Việt Nam và các nước [1].

Continue reading