ĐÔI ĐIỀU VỀ TRÁCH NHIỆM CÁ NHÂN

NGUYỄN NGỌC BÍCH

Trước các tổn thất vô hình và hữu hình mà xã hội đã chịu, vấn đề trách nhiệm cá nhân đang được công luận nêu lên. Qua hai lý do trình bày dưới đây, độc giả có thể chia sẻ lo ngại của tôi rằng vấn đề này còn phải mất nhiều năm nữa mới trở thành hiện thực.

Tâm lý cá nhân

Ta thấy ở trẻ em khoảng một tuổi có hai biểu hiện xuất hiện song song và rõ nét ấy là sự đòi hỏi (muốn hết cái này đến cái khác) và sự xấu hổ (bị mẹ hay anh chị lêu lêu). Như là một sự sắp đặt của tạo hóa trong tâm lý chúng ta cái sau kìm hãm cái trước. Sự đòi hỏi tạo nên tính tham lam sau này, còn sự xấu hổ là cội nguồn của trách nhiệm cá nhân. Nói về cái sau ta thường nghĩ nó là một cái, một thứ nằm trong lĩnh vực lý trí, nhưng thực ra nó là một tình cảm và khi bị đụng đến nó sẽ gây đau đớn trong lòng chúng ta. Nó là một sự tổn thương tình cảm và do đó là một sự trả giá trong cuộc đời mà ta phải chịu đựng để được thăng bằng về tâm lý.

Tính chất tình cảm của trách nhiệm cá nhân được nêu lên ở đây là vì nếu có dịp so sánh ta với người ở những nước khác, bạn sẽ nhận ra rằng, người Việt chúng ta hiền hòa. Quả vậy, chúng ta chiến đấu khốc liệt với ngoại bang, nhưng giữa chúng ta với nhau – lúc bình thường – chúng ta nhường nhịn, chín bỏ làm mười. Bởi thế khi phải nêu ra trách nhiệm cá nhân của một ai thì chúng ta thường ngại ngùng vì sợ làm mất lòng họ. Sự ngại ngần đó gây ra một hệ quả là khi không chỉ ra lỗi của người khác thì ta cũng ít nhận lỗi của mình để mà nói đến trách nhiệm cá nhân.

Tình cảm ấy lại được thúc đẩy bởi hoàn cảnh kinh tế. Đã có một thời gian dài chúng ta sống trong cảnh thiếu thốn về vật chất, ở đó tài sản chung và riêng lẫn lộn. Thí dụ chủ của một biệt thự phải nhận hai ba gia đình vào ở chung. Trong cảnh thiếu thốn người ta không ngần ngại chia sẻ cái mình có, do vậy ít có ai tranh giành cái này là của tôi, cái kia là của anh để có một sự rạch ròi về mình và người trong ý nghĩ.

Continue reading

VĂN HOÁ KINH DOANH VIỆT NAM TRÊN ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN VÀ HỘI NHẬP

NGUYỄN HOÀNG ÁNH

Nếu văn hoá là nền tảng tinh thần đảm bảo sự phát triển bền vững của xã hội, thì văn hoá kinh doanh (VHKD) chính là nền tảng tinh thần, là linh hồn cho hoạt động kinh doanh của một quốc gia. Trong xu thế toàn cầu hoá kinh tế như hiện nay, muốn đảm bảo sự phát triển bền vững cho hoạt động kinh doanh của quốc gia, hơn lúc nào hết, chúng ta cần có sự tìm hiểu và nghiên cứu thấu đáo về lĩnh vực này, để có thể góp phần định hướng đúng đắn cho kinh tế Việt Nam trong thời gian tới.

Từ thập kỷ 60 của thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu đã bắt đầu quan tâm đến vai trò của văn hoá trong kinh doanh. Có nhiều cách hiểu khác nhau về VHKD, chủ yếu tập trung hai xu hướng: xu hướng thứ nhất, coi chủ thể của VHKD chính là các doanh nghiệp, do đó VHKD là văn hoá doanh nghiệp (corporate culture) hay còn gọi là văn hoá tổ chức (organizational culture). Xu hướng thứ hai, đang ngày càng phổ biến hơn khi coi kinh doanh là hoạt động có liên quan đến mọi thành viên trong xã hội, nên VHKD là một phạm trù ở tầm cỡ quốc gia, còn văn hoá doanh nghiệp chỉ là một thành phần trong VHKD. Qua xem xét, nghiên cứu các định nghĩa về VHKD của một số nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, trong khuôn khổ bài viết này, xin đưa ra định nghĩa: "VHKD là sự thể hiện phong cách kinh doanh của một dân tộc. Nó bao gồm các nhân tố rút ra từ văn hoá dân tộc, được các thành viên trong xã hội vận dụng vào hoạt động kinh doanh của mình và cả những giá trị, triết lý… mà các thành viên này tạo ra trong quá trình kinh doanh". Định nghĩa này tương đối bao quát và rõ ràng, theo đó, văn hoá tổ chức hay văn hoá doanh nghiệp sẽ chỉ được nghiên cứu với tư cách là một thành phần trong VHKD của một quốc gia.

Nhận diện VHKD cổ truyền Việt Nam

Trong suốt lịch sử phát triển của nước ta, hoạt động kinh tế phổ biến là sản xuất nông nghiệp tự cung, tự cấp. Trong thời kỳ phong kiến, tư tưởng "trọng nông ức thương" rất phổ biến, chính vì vậy mà rất ít người giỏi về kinh doanh. Lương Văn Can, một nhà cách mạng, đồng thời là một người thầy lỗi lạc trong giới doanh thương Việt Nam hồi đầu thế kỷ XX, khi phân tích nguyên nhân không phát triển của thương mại nói riêng và của kinh tế Việt Nam nói chung, đã đưa ra 10 điểm. Đó là:

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 570/TTg-ĐMDN NGÀY 9 THÁNG 4 NĂM 2010 CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ VỀ TRIỂN KHAI THỰC HIỆN NGHỊ ĐỊNH SỐ 25/2010/NĐ-CP

Kính gửi:

– Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;
– Các tập đoàn kinh tế và các tổng công ty 91;
– Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Ngày 19 tháng 3 năm 2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 25/2010/NĐ-CP về chuyển đổi công ty nhà nước thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và tổ chức quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu (Nghị định số 25/2010/NĐ-CP), có hiệu lực từ ngày 05 tháng 5 năm 2010. Để thực hiện Nghị định này, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu:

1. Hội đồng quản trị các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập (Tổng công ty 91):

a) Tổ chức nghiên cứu Nghị định số 25/2010/NĐ-CP và xây dựng đề án chuyển đổi công ty mẹ của tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước sang công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên theo quy định tại Nghị định số 25/2010/NĐ-CP. Trong quá trình xây dựng đề án chuyển đổi, Hội đồng quản trị các đơn vị nói trên cần lưu ý:

– Đối với tài sản của doanh nghiệp: căn cứ để xây dựng đề án chuyển đổi là báo cáo tài chính đến ngày 31 tháng 12 năm 2009.

– Đối với thành viên Hội đồng thành viên: được chọn từ các thành viên Hội đồng quản trị mà không phải làm theo quy trình bổ nhiệm lại; đối với Kiểm soát viên thì thực hiện quy trình bổ nhiệm theo quy định hiện hành.

b) Đối với các Tổng công ty 91 mà chưa tổ chức quản lý theo mô hình công ty mẹ – công ty con thì Hội đồng quản trị các đơn vị này có trách nhiệm xây dựng đề án chuyển đổi tổ chức quản lý theo mô hình công ty mẹ – công ty con theo quy định tại Nghị định số 111/2007/NĐ-CP ngày 26 tháng 6 năm 2007 của Chính phủ về tổ chức, quản lý tổng công ty nhà nước và chuyển đổi tổng công ty nhà nước, công ty nhà nước độc lập, công ty mẹ là công ty nhà nước theo hình thức công ty mẹ – công ty con hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, trong đó công ty mẹ và công ty thành viên 100% vốn nhà nước được chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên hoặc cổ phần hóa.

Continue reading

TRANH CHẤP QUYỀN NUÔI CON CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI: MỘT NỮ MC GIÀNH QUYỀN NUÔI CON ĐANG Ở NƯỚC NGOÀI

HOÀNG YẾN

Bản án của tòa án Việt Nam khó được công nhận và thi hành tại các quốc gia chưa ký hiệp định tương trợ tư pháp với nước ta.

Vụ một nữ MC truyền hình ở Việt Nam thắng kiện người chồng cũ ở nước ngoài, giành được quyền nuôi con đã đặt ra một vấn đề pháp lý: Làm sao để thi hành án bởi cháu bé đang sống với bà nội bên Mỹ. Theo nhiều chuyên gia, đây là chuyện rất nan giải…

Luật sư Lê Thành Kính (Trưởng Văn phòng luật sư Lê Nguyễn) nhìn nhận dù bản án của tòa án Việt Nam trong vụ việc trên đã có hiệu lực pháp luật nhưng để thực thi tại Mỹ là rất khó.

Khó về pháp lý

Theo luật sư Kính, trước hết, giữa Việt Nam và Mỹ không có hiệp định tương trợ tư pháp. Về hình sự, trong một số trường hợp hai nước có sự tương trợ tư pháp theo nguyên tắc có đi có lại nhưng về mặt dân sự, hôn nhân và gia đình thì không và thường rơi vào bế tắc.

Ở đây, nếu cháu bé có quốc tịch Việt Nam thì MC này có thể nhờ Bộ Ngoại giao tác động bằng con đường ngoại giao. Theo thông lệ quốc tế, Bộ Ngoại giao có thể yêu cầu Mỹ trao trả cháu bé, vốn là công dân Việt Nam. Nhưng nếu cháu bé mang quốc tịch Mỹ thì việc tác động bằng con đường ngoại giao có thể bị từ chối ngay.

Còn trường hợp nếu MC này sang Mỹ yêu cầu tòa án Mỹ công nhận, cho thi hành bản án có hiệu lực của tòa án Việt Nam sẽ là con đường rất dài và tốn nhiều chi phí mà kết quả chưa chắc khả quan. Luật sư Kính dẫn chứng: Một doanh nghiệp lớn đề nghị thi hành một bản án của tòa án Việt Nam ở một nước có hiệp định tương trợ tư pháp với ta mà còn phải lao đao về chi phí vì mất cả năm chưa xong, huống hồ gì một công dân Việt Nam lặn lội sang tận Mỹ…

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 1136/LĐTBXH-LĐTL NGÀY 13 THÁNG 4 NĂM 2010 CỦA BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI HƯỚNG DẪN CHẾ ĐỘ THÔI VIỆC VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG

Kính gửi:

Sở Lao động – Thương binh và Xã hội Ninh Thuận

Trả lời công văn số 239/SLĐTBVXH-LĐTL.BHXH ngày 25 tháng 03 năm 2010 của quý Sở về chế độ thôi việc đối với người lao động trong công ty cổ phần hóa từ doanh nghiệp nhà nước, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:

– Tại điểm c, khoản 3, mục III Thông tư số 20/2007/TT-BLĐTBXH ngày 04 tháng 10 năm 2007 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện chính sách đối với người lao động theo Nghị định số 109/2007/NĐ-CP ngày 26 tháng 06 năm 2007 của Chính phủ về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần quy định: “Hội đồng quản trị, người sử dụng lao động của công ty cổ phần có trách nhiệm trả trợ cấp thôi việc, mất việc làm cho người lao động từ doanh nghiệp 100% vốn nhà nước chuyển sang khi người lao động đó mất việc làm, thôi việc tại công ty cổ phần, kể cả khoản trợ cấp cho thời gian thực tế làm việc tại doanh nghiệp 100% vốn nhà nước trước đó và thời gian người lao động làm việc tại công ty, đơn vị khác thuộc khu vực nhà nước nhưng chuyển đến công ty 100% vốn nhà nước trước ngày 01 tháng 01 năm 1995”.

– Tại điểm b, khoản 3, Điều 2 Thông tư số 17/2009/TT-BLĐTBXH ngày 26 tháng 05 năm 2009 sửa đổi, bổ sung một số điểm của Thông tư số 21/2003/TT-BLĐTBXH ngày 22 tháng 09 năm 2003 hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 44/2003/NĐ-CP ngày 09 tháng 05 năm 2003 của Chính phủ về hợp đồng lao động quy định: “Trường hợp sau khi sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp, chuyển quyền sở hữu, quyền quản lý hoặc quyền sử dụng tài sản doanh nghiệp mà người lao động chấm dứt hợp đồng lao động, thì người sử dụng lao động kế tiếp có trách nhiệm cộng cả thời gian mà người lao động làm việc cho mình và thời gian làm việc cho người sử dụng lao động liền kề trước đó để tính trả trợ cấp thôi việc cho người lao động. Tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc là tiền lương, tiền công theo hợp đồng lao động được tính bình quân của 6 tháng liền kề trước khi chấm dứt hợp đồng lao động cuối cùng. Đối với công ty nhà nước thực hiện phương án sắp xếp lại hoặc chuyển đổi hình thức sở hữu (chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, cổ phần hóa, giao, bán) thì áp dụng theo quy định của Nhà nước đối với các trường hợp này”.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 1162/LĐTBXH-LĐTL NGÀY 14 THÁNG 4 NĂM 2010 CỦA BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI HƯỚNG DẪN VỀ QUYỀN LỢI VÀ NGHĨA VỤ ĐỐI VỚI NGƯỜI ĐẠI DIỆN VỐN NHÀ NƯỚC LÀM VIỆC CHUYÊN TRÁCH TẠI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN GÓP NHÀ NƯỚC

Kính gửi:

Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước

Trả lời công văn số 313/ĐTKDV-TCCB ngày 11/03/2010 của Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước về việc hướng dẫn thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ đối với người đại diện vốn tại các doanh nghiệp có vốn góp của Tổng công ty, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có ý kiến về một số nội dung liên quan đến lĩnh vực quản lý của Bộ như sau:

1. Theo quy định của Bộ luật Lao động, Luật Doanh nghiệp nhà nước, Nghị định số 44/2003/NĐ-CP ngày 9/5/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về hợp đồng lao động, Nghị định số 09/2009/NĐ-CP ngày 5/02/2009 của Chính phủ ban hành Quy chế quản lý tài chính của công ty nhà nước và quản lý vốn đầu tư vào doanh nghiệp khác, đối với trường hợp người lao động đang làm việc theo hợp đồng tại Tổng công ty được cử làm đại diện vốn nhà nước, làm việc chuyên trách tại doanh nghiệp có vốn góp của Nhà nước và thực hiện ký kết hợp đồng lao động với doanh nghiệp đó, do công việc của người lao động đã thay đổi (người lao động không còn thực hiện công việc theo hợp đồng lao động đã ký kết với Tổng công ty) thì Tổng công ty và người lao động thỏa thuận lựa chọn một trong các phương án dưới đây để bảo đảm sự ràng buộc về quyền lợi và nghĩa vụ của người được cử làm đại diện vốn với Tổng công ty như sau:

a) Sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động đã ký kết (nhất là các nội dung về yêu cầu công việc, quyền lợi và nghĩa vụ của hai bên) hoặc giao kết hợp đồng lao động mới để hợp đồng lao động có thể thực hiện được.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 40/2010/NĐ-CP NGÀY 12 THÁNG 4 NĂM 2010 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ KIỂM TRA VÀ XỬ LÝ VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân ngày 03 tháng 12 năm 2004;
Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 03 tháng 6 năm 2008;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Đối tượng và phạm vi điều chỉnh

1. Nghị định này quy định về kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật (sau đây gọi tắt là văn bản) và xử lý văn bản có dấu hiệu trái pháp luật do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp ban hành.

2. Văn bản được kiểm tra, xử lý theo quy định tại Nghị định này gồm:

a) Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ;

b) Thông tư liên tịch giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ; thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao;

c) Nghị quyết của Hội đồng nhân dân, quyết định, chỉ thị của Ủy ban nhân dân.

Continue reading

QUY CHẾ ĐẤU GIÁ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT ĐỂ GIAO ĐẤT CÓ THU TIỀN SỬ DỤNG ĐẤT HOẶC CHO THUÊ ĐẤT TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH (Ban hành kèm theo Quyết định số 24/2010/QĐ-UBND ngày 07 tháng 4 năm 2010 của Ủy ban nhân dân thành phố)

Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi áp dụng

Quy chế này, quy định cụ thể việc đấu giá quyền sử dụng đất (gọi tắt là đấu giá) để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất tại thành phố Hồ Chí Minh đối với các trường hợp sau:

1. Giao đất có thu tiền sử dụng đất:

a) Đầu tư xây dựng nhà ở của hộ gia đình, cá nhân;

b) Đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc cho thuê; trừ trường hợp đất xây dựng nhà chung cư cao tầng cho công nhân khu công nghiệp;

c) Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng để chuyển nhượng hoặc cho thuê;

d) Sử dụng quỹ đất để tạo vốn cho đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng;

đ) Sử dụng đất làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh;

e) Sử dụng đất vào sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối.

2. Cho thuê đất để thực hiện dự án xây dựng nhà ở để bán hoặc cho thuê do người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài thực hiện.

3. Giao đất theo hình thức khác nay chuyển sang giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc chuyển mục đích sử dụng đất; trừ trường hợp không thay đổi chủ sử dụng đất.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 1019/BTP-HCTP NGÀY 14 THÁNG 4 NĂM 2010 CỦA BỘ TƯ PHÁP VỀ KÝ QUĨ ĐỂ BỒI THƯỜNG TRÁCH NHIỆM NGHỀ NGHIỆP CÔNG CHỨNG VIÊN

Kính gửi:

Sở Tư pháp tỉnh Khánh Hòa

Trả lời Công văn số 41/STP-BTTP ngày 20/01/2010 của Sở Tư pháp tỉnh Khánh Hòa về việc ký quỹ để bồi thường trách nhiệm nghề nghiệp công chứng viên, Bộ Tư pháp có ý kiến như sau:

Việc Sở Tư pháp trình Đề án phát triển tổ chức hành nghề công chứng tại tỉnh Khánh Hòa là hết sức cần thiết, phù hợp với lộ trình xã hội hóa hoạt động công chứng, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân và tổ chức. Khoản 7 Điều 32 của Luật công chứng quy định: Văn phòng công chứng có nghĩa vụ mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho công chứng viên của tổ chức mình. Như vậy, Luật công chứng chỉ quy định việc mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp, không quy định ký quỹ hoặc hình thức khác.

Hiện tại, Bộ Tư pháp đang dự thảo Thông tư hướng dẫn một số điều Luật công chứng và Nghị định số 02/2008/NĐ-CP ngày 04/01/2008 của Chính phủ, trong đó có hướng dẫn về vấn đề bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp công chứng viên.

Đề nghị Sở Tư pháp tỉnh Khánh Hòa tham khảo các quy định và thông tin nêu trên khi xây dựng Đề án phát triển tổ chức hành nghề công chứng ở địa phương.

TL. BỘ TRƯỞNG
VỤ TRƯỞNG VỤ BỔ TRỢ TƯ PHÁP
Đỗ Hoàng Yến