TÁC ĐỘNG CỦA HIỆP HỘI BẤT ĐỘNG SẢN NHÀ ĐẤT VIỆT NAM TRONG TIẾN TRÌNH HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT KINH DOANH BẤT ĐỘNG SẢN Ở VIỆT NAM

DOÃN HỒNG NHUNG – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Trong khuôn khổ bài nghiên cứu, tôi đi sâu nghiên cứu về tổ chức, bộ máy và cơ chế hoạt động của Hiệp hội. Cũng từ đó, tác giả tìm hiểu nhiệm vụ, qu yền hạn của Hiệp hội kinh doanh bất động sản nhà đất Việt Nam. Tác giả sẽ đi sâu nghiên cứu, đánh giá bước đầu về hội viên tham gia hiệp hội, phân loại hội viên, quyền và nghĩa vụ của các hội viên trong quá trình tham gia. Bài viết đánh giá những tồn tại và hạn chế trong hoạt động của Hiệp hội. Tác giả bước đầu đánh giá sự tác động của Hiệp hội Bất động sản nhà đất Việt Nam trong hoạt động lập quy đồng thời đề xuất một số kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật điều chỉnh trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản nói riêng, góp phần cải cách quy chế hành chính nhằm cải thiện môi trường kinh doanh ở Việt Nam.

Hiệp hội Bất động sản Nhà đất Việt Nam là tổ chức nghề nghiệp được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế hoạt động trong các lĩnh vực đầu tư, quản lý, khai thác, kinh doanh bất động sản nhà đất. Hiệp hội Bất động sản nhà đất Việt Nam hỗ trợ các tổ chức cá nhân Việt Nam thuộc các lĩnh vực có liên quan trực tiếp đến thị trường bất động sản nhà đất(1).

Mục đích của Hiệp hội Bất động sản nhà đất Việt Nam được xác định là “Tập hợp liên kết các doanh nghiệp đầu tư, quản lý khai thác, kinh doanh bất động sản nhà đất; bảo vệ lợi ích chung của ngành, lợi ích chính đáng của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bất động sản nhà đất và lợi ích của tổ chức cá nhân về sở hữu và sử dụng bất động sản nhà đất; hỗ trợ các doanh nghiệp thành viên của Hiệp hội trên các mặt dự báo thị trường Bất động sản. Hiệp hội kinh doanh bất động sản nhà đất Việt nam hỗ trợ kinh nghiệm trong hoạt động quản lý, khai thác, kinh doanh, chuyển giao kỹ thuật, công nghệ, cơ sở pháp lý và các lĩnh vực có liên quan đến hoạt động của Doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy thị trường Bất động sản Việt Nam, phát triển bền vững hoạt động có hiệu quả và ổn định, nhằm phục vụ tốt nhất nhu cầu của nhân dân về nhà đất”(2).

1. Tổ chức, bộ máy và cơ chế hoạt động của Hip hội Bất động sản nhà đất Việt Nam

1.1. Tổ chức bộ máy hoạt động của Hiệp hội Bất động sản nhà đất Việt Nam

Hiệp hội Bất động sản nhà đất Việt Nam chịu sự quản lý của Bộ Xây dựng trong hoạt động đầu tư, quản lý khai thác, kinh doanh bất động sản nhà đất; hoạt động trong khuôn khổ quy định của pháp luật của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghiã Việt Nam(3).

Continue reading

CÁC KHÍA CẠNH PHÁP LÝ CỦA QUÁ TRÌNH GIA NHẬP WTO

PETER NARAY & NGUYỄN KHÁNH NGỌC

Giới thiệu

Trong quá trình đàm phán bất kỳ điều ước quốc tế nào, bên cạnh các cân nhắc về chính trị quyết định sự cần thiết và mục tiêu của điều ước, các khía cạnh pháp lý có tầm quan trọng đặc biệt. Đối với các nước theo cách tiếp cận “nhất nguyên” đối với các điều ước quốc tế, tức là các điều ước quốc tế đã ký kết có thể được áp dụng trực tiếp trong hệ thống luật pháp trong nước thì các điều ước quốc tế là một nguồn luật quan trọng. Dù một Thành viên WTO có cách tiếp cận pháp lý như thế nào đối với với các điều ước quốc tế mà Thành viên này tham gia, WTO coi việc thực hiện các nghĩa vụ trong WTO là yếu tố có tầm quan trọng quyết định, thể hiện ở quy định "Mỗi Thành viên sẽ đảm bảo việc các luật, quy định và thủ tục hành chính tuân thủ với các nghĩa vụ của Thành viên đó…”126.

Theo Luật Đàm phán, ký kết và gia nhập các Điều ước quốc tế của Việt Nam năm 2005 (“Luật Điều ước”) thì các điều ước quốc tế mà Việt Nam là Thành viên được thừa nhận là có hiệu lực pháp lý để áp dụng trực tiếp trong nội luật nếu như các cơ quan có thẩm quyền quyết định áp dụng trực tiếp và sẽ được ưu tiên áp dụng trong trường hợp luật trong nước quy định khác127. Do đó, không thể hiểu hết tác động pháp lý của việc trở thành Thành viên WTO cũng như các cam kết trong Tổ chức này nếu như không biết rõ hiệu lực pháp lý của các cam kết và cách thức các cam kết này được thực thi trong nội luật. Một công cụ pháp lý quan trọng đối với WTO là Nghị quyết số 71/2006/QH11 ngày 29/11/2006 của Quốc hội về việc phê chuẩn Nghị định thư gia nhập Hiệp định WTO của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (Nghị quyết phê chuẩn số 71). Một yếu tố nữa cũng quan trọng là năm 2001 Việt Nam đã trở thành Thành viên của Công ước Viên năm 1969 về Điều ước quốc tế, Công ước được thừa nhận là cơ sở pháp luật và hướng dẫn diễn giải tất cả các quy tắc và cam kết trong WTO128; do đó, Việt Nam phải thực thi các nghĩa vụ và cam kết của mình phù hợp với các quy tắc của WTO như được diễn giải theo các quy tắc của Công ước Viên.

Nghiên cứu này nhằm phân tích tác động của các khía cạnh pháp lý trong quá trình gia nhập WTO của Việt Nam thông qua rà soát các cam kết WTO liên quan tới lĩnh vực pháp lý129, như thực hiện các điều ước quốc tế (kể cả các cam kết WTO) thông qua quy định pháp luật trong nước, áp dụng thống nhất và minh bạch hóa chính sách (công bố luật, nhận xét của công chúng và công văn).

Continue reading

CẦN ĐIỀU CHỈNH MỘT SỐ QUI ĐỊNH CỦA LUẬT CÔNG CHỨNG

NGUYỄN THỊ ĐÀO

Qua 2 năm thực hiện Luật Công chứng, hoạt động công chứng đã từng bước đáp ứng nhu cầu công chứng hợp đồng, giao dịch của cá nhân và tổ chức. Tuy nhiên, quá trình thực hiện Luật đã nảy sinh một số vướng mắc.

Thứ nhất, trường hợp yêu cầu công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản hoặc khai nhận di sản có đồng thừa kế là một số người hiện đang định cư tại nước ngoài. Người yêu cầu công chứng đã xuất trình các văn bản tặng, cho quyền hưởng di sản thừa kế, giấy ủy quyền… do cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam tại nước sở tại chứng thực, hoặc do Công chứng viên của nước sở tại công chứng và đã được hợp pháp hóa lãnh sự. Tuy nhiên, các cơ quan có thẩm quyền ở nước ngoài chỉ chứng nhận chữ ký trên các văn bản này mà không chứng nhận nội dung. Do đó đã nảy sinh hai luồng ý kiến khác nhau về vấn đề này, dẫn đến việc thực hiện không thống nhất. Ý kiến thứ nhất cho rằng, căn cứ vào khoản 2 Điều 142 Bộ luật Dân sự năm 2005 và Điều 16 Nghị định 138/2006/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành các quy định của Bộ luật Dân sự về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, các văn bản này phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam. Ý kiến khác lại yêu cầu các văn bản này nhất thiết phải được chứng nhận nội dung mới có giá trị sử dụng.

Thứ hai, trường hợp đất của những người đã định cư tại nước ngoài có nguyện vọng tặng cho con, cháu đang ở Việt Nam, hay chuyển nhượng nhưng chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở theo Nghị định số 60 của Chính phủ; chỉ có giấy tờ theo khoản 1, 2 Điều 50 Luật Đất đai, hoặc Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở được cấp theo quy định của pháp luật về nhà ở qua các thời kỳ, giấy chứng nhận tặng cho, đổi, thanh lý, hóa giá nhà ở, giấy tờ về thừa kế nhà ở, bản án, quyết định của Tòa án hoặc quyết định của cơ quan có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật về sở hữu nhà ở. Theo quy định của Luật Đất đai và Luật Nhà ở, họ không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 2 Điều 66 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP “… người sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai vẫn được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho quyền sử dụng đất, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất” – tức là họ vẫn được thực hiện các quyền của người sử dụng đất. Tuy nhiên, do cách hiểu và áp dụng pháp luật chưa thống nhất giữa các cơ quan liên quan nên tại một số địa phương, hiện vẫn chưa giải quyết được các hồ sơ này.

Continue reading