BIẾT – HIỂU VÀ VẬN DỤNG LUẬT

image LS. NGUYỄN NGỌC BÍCH – Đoàn Luật sư TPHCM

Tôi viết bài này cho các bạn đang tập sự (Luật sư tập sự – Civillawinfor), để bạn biết mình đang ở mức độ nào trong nghề nghiệp của mình và biết phải trau dồi thêm về mặt nào trong 18 tháng “vác củi” này. Công việc của luật sư là vận dụng luật để tư vấn hay bào chữa; nhưng để làm được việc đó bạn phải đi qua hai bước là biết và hiểu luật. Vậy ta sẽ đi từ đầu.

I. Biết điều “bí mật” của luật pháp

Mục đích chính của luật pháp là duy trì trật tự xã hội theo một đường lối chính trị nào đó (thể chế chính trị) để cho mọi người sống an tâm. Trong tâm lý của mình, con người cần sự an tâm để sống và làm việc cho ngày hôm nay; lo toan cho ngày mai và tạo dựng tài sản để sử dụng cho mình bây giờ và cho con cái sau này. Các nhu cầu ấy của họ phải được bảo vệ. Và luật pháp làm việc đó. Để làm, nó có một cách làm hay có một kỹ thuật, và kỹ thuật này được các nhà soạn thảo luật sử dụng khi soạn luật.

Kỹ thuật kia, đối với một số bạn, nó là còn là một bí mật; vì nó có đấy nhưng các bạn chưa để ý! Còn các vị đàn anh của các bạn thì họ biết nó rõ như biết bàn tay của mình (không phải là biết vân tay đâu!)

Khi đọc một văn bản quy phạm pháp luật, ta thấy chúng thường bắt đầu bằng phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng. Phạm vi là các vấn đề, sự việc, công việc… mà luật điều chỉnh; còn đối tượng là người thực hiện các công việc đó và luật cũng chi phối họ luôn. Đó là hai kỹ thuật mà luật sử dụng. Biết chúng bạn sẽ hành nghề dễ dàng. Và đó là “biết luật”.  Ta đi vào từng cái.

A. Ấn định trách nhiệm

Khi sống thì con người, chậu hoa, con chó hay cái xe… đều có thể gây thiệt hại cho người khác. Vì thế, luật pháp phải ấn định trách nhiệm cho mỗi thứ ấy. Trách nhiệm sẽ buộc anh A phải đền cho anh B, khi làm B bị thiệt hại, và mục đích của đòi hỏi ấy là lập lại trật tự đã bị vi phạm.

Continue reading

CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ CÓ ĐƯỢC TRAO ĐỔI VẬT CHỨNG VỤ ÁN HAY KHÔNG?

L.T.N

Nội dung vụ việc như sau: Tại Bản án số 45/2007/HSST ngày 28/11/2007 của TAND huyện Phổ Yên tỉnh T.Ng xét xử đối với Trần Anh Minh về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo quy định tại khoản 1 Điều 202, Bộ luật hình sự (BLHS) đã tuyên xử như sau:

“… Tuyên phạt bị cáo Trần Anh Minh 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng kể từ ngày tuyên án.

Về hình phạt bổ sung: áp dụng khoản 5 Điều 202, BLHS cấm bị cáo lái xe ô tô trong thời hạn 02 năm, kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật.

Về vật chứng: áp dụng Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) tạm giữ giấy phép lái xe (GPLX) ô tô hạng B2 số Z641341 do Sở Giao thông vận tải thành phố Hà Nội cấp ngày 26/6/2006 mang tên Trần Anh Minh (theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Công an và Cơ quan thi hành án dân sự (CQTHADS) huyện Phổ Yên ngày 19/10/2007)…”.

Bản án không có kháng cáo, kháng nghị và ngày 28/12/2007, Bản án có hiệu lực pháp luật thi hành.

Hồ sơ thi hành án tại CQTHADS huyện Phổ Yên thể hiện như sau: tại biên bản giao nhận vật chứng vụ án giữa Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) và CQTHADS huyện Phổ Yên ngày 19/10/2007 thể hiện việc VKSND đã chuyển đầy đủ vật chứng vụ án, trong đó có GPLX ô tô hạng B2 số Z641341 mang tên Trần Anh Minh cho CQTHADS bảo quản theo đúng quy định.

Tuy nhiên, khi kiểm tra vật chứng vụ án trên tại Kho vật chứng của CQTHADS thì không có GPLX ô tô số Z641341. Qua tìm hiểu, được biết vì GPLX ô tô số Z641341 bị Cơ quan Điều tra thu giữ và TAND huyện Phổ Yên đã tuyên tạm giữ đến ngày 30/6/2009 là hết hạn sử dụng. Tháng 6/2009, CQTHADS huyện Phổ Yên đã cho đương sự Trần Anh Minh mượn GPLX trên để Trần Anh Minh đổi GPLX mới và yêu cầu Trần Anh Minh mang GPLX ô tô hạng B2 có số AK 832395 mang tên Trần Anh Minh đã đổi đến nộp cho CQTHADS huyện Phổ Yên để tạm giữ theo quyết định của Bản án.

Đối với vụ việc như trên thì có 2 quan điểm xử lý như sau:

Continue reading

THỰC TIỄN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ: THU HỒI QUYẾT ĐỊNH KÊ BIÊN TÀI SẢN LÀ CÓ CƠ SỞ

HÀ TUẤN PHƯƠNG

Nguyễn Thị Oanh, là kế toán Công ty cổ phần vận tải Thái Nguyên, có 01 chồng và 02 con. Lợi dụng chức vụ được giao, trong thời gian từ năm 1993 đến năm 2005, Oanh đã dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt của Công ty cổ phần vận tải Thái Nguyên số tiền 1.441.158.900đ. Bản án hình sự sơ thẩm số 255/2006/HSST ngày 12/12/2006, Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã tuyên phạt bị cáo Nguyễn Thị Oanh, sinh năm 1963, trú tại tổ 01, phường Tân Lập, TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên ( nguyên là kế toán Công ty cổ phần vận tải Thái Nguyên ) mức án 15 năm tù giam về tội Tham ô tài sản theo điều 278 Bộ luật Hình sự. Về trách nhiệm dân sự: buộc bị cáo Oanh phải bồi thường 1.441.158.000đ, đã bồi thường 100.000.000đ, phải bồi thường tiếp số tiền 1.341.158.000đ cho Công ty cổ phần vận tải Thái Nguyên. Việc thi hành án thực hiện theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 của TANDTC-VKSNDTC-BTP-BTC. Áp dụng điều 146 Bộ luật tố tụng hình sự: Kê biên ½  giá trị ngôi nhà và quyền sử dụng đất trên diện tích 130m2 của bị cáo Nguyễn Thị Oanh.

Sau khi nhận được bản án có hiệu lực pháp luật và đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh T đã thụ lý, ra quyết định thi hành án và phân công chấp hành viên tổ chức thi hành vụ việc trên. Chấp hành viên  đã tiến hành đầy đủ các biện pháp, trình tự theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự. Do người phải thi hành án không tự nguyện thi hành và ngôi nhà của gia đình bà Oanh là một thể thống nhất, nếu chia tách sẽ làm giảm trị giá tài sản nên Chấp hành viên tiến hành kê biên toàn bộ nhà và quyền sử dụng đất của người phải thi hành án; bán đấu giá thành toàn bộ tài sản được 780.300.000đ; đã xử lý ½ số tiền này thuộc sở hữu của người phải thi hành án để đảm bảo thi hành án theo đúng bản án của Toà án, cụ thể là số tiền 390.150.000đ. Số tiền còn lại là 390.150.000đ lẽ ra trả lại cho ông Lê Quyết Thắng – chồng của Nguyễn Thị Oanh nhưng do chồng bà Oanh đã chết nên Chấp hành viên xác định bà Oanh được hưởng 1/3 di sản thừa kế của chồng, ước tính số tiền là 130.050.000đ và tiến hành kê biên để thi hành án, phần còn lại trả cho gia đình bà Oanh.

Continue reading

NGUYÊN TẮC TỰ DO CHỌN LUẬT CHO HỢP ĐỒNG TỪ CÔNG ƯỚC ROME 1980 ĐẾN QUI TẮC ROME I VÀ NHÌN VỀ VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ HỒNG TRINH – Khoa Luật, Đại học Huế

Các bên trong hợp đồng có yếu tố nước ngoài được tự do lựa chọn luật áp dụng cho quan hệ hợp đồng giữa họ là một nguyên tắc chung của luật hợp đồng được thừa nhận rộng rãi trên thế giới1. Nguyên tắc này bắt đầu phát triển vào thế kỉ 202 và thịnh hành ở Mỹ, châu Âu sau nhiều năm tranh luận. Phần lớn các hợp đồng quốc tế đều có điều khoản chọn luật và điều khoản này đến nay đều được Tòa án xem xét khi có tranh chấp xảy ra3. Công ước Rome 1980 về luật áp dụng cho nghĩa vụ hợp đồng4 và Quy tắc Rome I5 cũng cho phép các bên chọn luật điều chỉnh hợp đồng giữa họ. Nguyên tắc này được pháp luật Việt Nam ghi nhận tại Điều 769 của Bộ luật Dân sự năm 2005 (BLDS). Bài viết phân tích nguyên tắc tự do chọn luật áp dụng cho hợp đồng trong Công ước Rome và sự phát triển ở Quy tắc Rome I. Từ đó so sánh với quy tắc chọn luật của pháp luật Việt Nam.

1. Nguyên tắc các bên tự do lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng

Nguyên tắc cơ bản được Điều 3 Công ước Rome và Điều 3 Quy tắc Rome I đưa ra là “hợp đồng sẽ được điều chỉnh bởi luật do các bên lựa chọn”. Điều 769 của BLDS Việt Nam quy định: “Quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng được xác định theo luật nơi thực hiện hợp đồng, nếu không có thỏa thuận khác”. Như vậy, so với sự ghi nhận trực tiếp của Công ước Rome và Quy tắc Rome I, pháp luật Việt Nam dùng cụm từ “nếu không có thỏa thuận khác” thì có phần chung chung và không rõ ràng bằng. Trong khi cả Công ước Rome và Quy tắc Rome I đều có Điều 3 về quyền tự do chọn luật với 4 khoản thì Điều 769 của BLDS Việt Nam chỉ ghi nhận trong cụm từ “nếu không có thỏa thuận khác”. Điều này dẫn đến hệ quả là có một số khía cạnh của quyền tự do chọn luật áp dụng cho hợp đồng được tư pháp quốc tế thế giới, trong đó có hai văn bản trên đề cập thì pháp luật Việt Nam lại chưa quy định hoặc nếu có cũng chưa rõ ràng6.

1.1. Các bên có được lựa chọn luật của một nước không phải là thành viên của Liên minh châu Âu không?

Công ước Rome ghi nhận quyền của các bên được tự do lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng dù đó là luật của các nước thành viên EU hay không. Điều 2 Công ước quy định: “Bất kỳ luật nào được chỉ định bởi Công ước sẽ được áp dụng mặc cho đó là luật của nước ký kết Công ước hay không”. Tương tự, Quy tắc Rome I có đề cập đến vấn đề này tại Điều 2 nhưng với tiêu đề bao trùm hơn “áp dụng phổ biến (universal application)” như sau: “Bất cứ luật được chỉ định bởi Quy tắc này sẽ được áp dụng cho dù đó có phải là luật của nước thành viên hay không”. Như vậy, luật được lựa chọn không giới hạn trong luật của các quốc gia ký kết Công ước Rome hay luật của nước thành viên Liên minh châu Âu7.

Continue reading

BỎ TRẦN LÃI SUẤT: QUẢ BÓNG TRONG CHÂN AI?

HUỲNH BỬU SƠN

Một lần nữa, khi nguồn thanh khoản trong nền kinh tế đang gặp khó khăn, những ràng buộc của quy định về trần lãi suất lại đang làm lao đao hệ thống ngân hàng thương mại và các doanh nghiệp Việt Nam.

Họ lao đao vì phải vừa làm ăn, vừa lách luật. Hầu như ngân hàng nào cũng vượt rào, kể cả ngân hàng quốc doanh, vì nếu không, dòng vốn quý giá từ các khách hàng gửi tiền trung thành của họ sẽ sẵn sàng chạy sang các ngân hàng khác, những ngân hàng đang thủ sẵn nhiều chiêu thức thu hút tiền gửi mới mẻ để vừa có thể, về hình thức, vẫn có vẻ tuân thủ quy định về trần lãi suất huy động (10,5%), vừa có thể hấp dẫn người gửi tiền bằng cách tặng cho họ những quyền lợi vật chất – kể cả bằng tiền – xem như khuyến mãi nhưng thực chất là nâng lãi suất huy động vượt trần.

Huy động nguồn vốn trên thị trường liên ngân hàng trong tình hình này cũng có mức lãi suất cao tương ứng và không hề dễ dàng, khi Ngân hàng Nhà nước đang thắt chặt tiền tệ, không sẵn sàng cung tiền trên thị trường mở với mức lãi suất cơ bản vừa nâng lên 8% vì e sợ bóng ma lạm phát đang lởn vởn trong những tháng đầu năm 2010.

Chưa hết, khả năng thu hút tiền gửi của hệ thống ngân hàng thương mại còn đang bị cạnh tranh bởi lãi suất trái phiếu chính phủ lên đến 12%, một mức lãi suất khá hấp dẫn so với lãi suất tiền gửi ngân hàng nhưng vẫn chỉ đạt tỷ lệ phát hành thành công 60% so dự kiến, cho thấy một thực tế hiển nhiên hiện nay về tình trạng khan hiếm thanh khoản nhất định trên thị trường vốn ngắn hạn và dài hạn. Với những biến động đang xảy ra trên mặt bằng giá trong nền kinh tế và với những dự báo khá rõ nét về tình hình lạm phát đang xảy ra, người gửi tiền có quyền đòi hỏi một mức lãi suất cao hơn cho đồng tiền gửi của họ.

Continue reading

THỰC TIỄN TỐ TỤNG: TUYÊN ÁN SAI, ĐÍNH CHÍNH CŨNG … SAI!

TIẾN HIỂU

Giám đốc thẩm hủy toàn bộ bản án sơ, phúc thẩm nhưng sau đó đính chính rằng chỉ hủy một phần về tài sản…

Sau một thời gian chung sống, gia đình bắt đầu nảy sinh nhiều mâu thuẫn nên cuối cùng vợ chồng ông H. (Hà Nội) đã gửi đơn ra tòa thuận tình ly hôn và đòi chia tài sản.

Hủy sai nên đính chính

Xử sơ thẩm năm 2008, TAND quận Đống Đa (TP Hà Nội) đã chấp nhận sự thuận tình này. Sau đó, cấp phúc thẩm cũng đã y án sơ thẩm, tuyên bố hai vợ chồng được ly hôn.

Tuy nhiên, không đồng ý với phán quyết của hai cấp tòa về việc giao toàn bộ hai căn nhà cho người chồng – vì tài sản có trước hôn nhân – nên người vợ tiếp tục khiếu nại.

Ngày 1-4-2009, TAND Tối cao đã kháng nghị giám đốc thẩm hủy phần án liên quan đến việc chia tài sản trong hai bản án trên. Hai tháng sau, Tòa Dân sự (TAND Tối cao) ra quyết định giám đốc thẩm hủy cả hai bản án sơ và phúc thẩm, giao hồ sơ về cho cấp sơ thẩm giải quyết lại.

Nhận được thông tin, TAND TP Hà Nội đã lập tức phản ứng, gửi kiến nghị lên TAND Tối cao đề nghị làm rõ vấn đề. Theo tòa, cả hai bên đương sự đã thuận tình ly hôn không có kháng cáo, kháng nghị, phần này đương nhiên có hiệu lực pháp luật. Giám đốc thẩm chỉ được hủy phần liên quan đến tài sản có kháng nghị chứ không thể hủy hết bản án. Tòa Dân sự TAND Tối cao hủy tất tần tật là vi phạm nghiêm trọng tố tụng.

Sau kiến nghị này, nhận thấy có sai sót, thay mặt HĐXX giám đốc thẩm, thẩm phán chủ tọa đã ký công văn đính chính quyết định giám đốc thẩm trên rằng chỉ hủy một phần về tài sản của hai bản án sơ và phúc thẩm chứ không hủy toàn bộ.

Continue reading

THÔNG TIN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT CẠNH TRANH

THÔNG TIN VỀ TÁC GIẢ CHƯA CẬP NHẬT

1. Khái quát cạnh tranh và pháp luật cạnh tranh

1.1. Khái quát về cạnh tranh

a) Khái niệm cạnh tranh

Cạnh tranh có thể được xem xét từ nhiều góc độ khác nhau. Từ góc độ kinh tế – pháp lý, cạnh tranh được hiểu là sự chạy đua (ganh đua) giữa các thành viên cùng một thị trường nhằm mục đích lôi kéo khách hàng, gia tăng thị phần của một thị trường hàng hóa, dịch vụ cụ thể.

– Cạnh tranh với tính chất là động lực nội tại thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế chỉ tồn tại trong điều kiện kinh tế thị trường. Cạnh tranh không những là môi trường và động lực thúc đẩy hoạt động kinh doanh phát triển, tăng năng suất lao động, tăng hiệu quả của các doanh nghiệp, mà còn là yếu tố quan trọng làm lành mạnh hoá các quan hệ kinh tế – xã hội.

b) Nhận dạng cạnh tranh

– Căn cứ vào tính chất và mức độ can thiệp của công quyền vào hoạt động kinh doanh, thị trường được chia thành hai hình thái: Cạnh tranh tự do và cạnh tranh có sự điều tiết.

– Căn cứ vào cơ cấu thành viên thị trường và mức độ tập trung trong một lĩnh vực kinh doanh, thị trường được phân chia thành các hình thái: Cạnh tranh hoàn hảo và cạnh tranh không hoàn hảo (mức độ cao nhất là độc quyền).

– Căn cứ vào mục đích, tính chất của các phương thức cạnh tranh, các hành vi cạnh tranh trên các hình thái, thị trường được phân chia thành: Cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh.

Continue reading

DANH CHÍNH NGÔN THUẬN

THU TRANG – Ban pháp chế (VCCI)

Sự tham gia hạn chế của cộng đồng doanh nghiệp trong các vấn đề có liên quan đến chính sách thương mại quốc tế có thể là một trong những nguyên nhân khiến việc tận dụng những lợi thế, vượt qua các thách thức từ các cam kết thương mại quốc tế hiện tại của chúng ta còn không ít bất cập.

Lấy ý kiến doanh nghiệp: một tỷ lệ quá thấp

Thời gian gần đây, cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam đã có nhiều cơ hội hơn để tham gia vào quá trình hoạch định chính sách và xây dựng pháp luật nội địa. Điều này đã bước đầu mang lại những kết quả tích cực. Một hệ thống pháp luật về hoạt động kinh doanh đầu tư với những thay đổi căn bản theo hướng thông thoáng hơn, đáp ứng tốt hơn nhu cầu doanh nghiệp, từ đó giúp nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh và sự phát triển của nền kinh tế là một minh chứng cho việc này.

Tuy nhiên, sự tham gia của cộng đồng doanh nghiệp vào các chính sách, cam kết thương mại quốc tế của Việt Nam chưa có được sự phối hợp công – tư như vậy. Luật Ký kết và Gia nhập Điều ước quốc tế (2005), văn bản cơ sở về vấn đề này, không có quy định bắt buộc nào về việc lấy ý kiến của cộng đồng doanh nghiệp, cũng không có cơ chế nào để cộng đồng này được thông tin về định hướng đàm phán cũng như không có kênh chính thức nào để chủ động có tiếng nói, phản ánh nguyện vọng của mình đối với quá trình này.

Trên thực tế, dù không có quy định, đâu đó trong các đàm phán thương mại quốc tế (đặc biệt trong đàm phán gia nhập WTO), một số cơ quan bộ ngành vẫn lấy ý kiến và sử dụng thông tin từ doanh nghiệp, hiệp hội.

Continue reading

LUẬT PHẢI BẢO VỆ NGƯỜI LAO ĐỘNG

image THS. TRẦN THANH TÙNG – Công ty Luật P&P

Vì sao phải sửa đổi BLLĐ?

Bộ Luật Lao động hiện hành được ban hành lần đầu vào năm 1994, đến nay nền kinh tế đã có rất nhiều thay đổi. Việt Nam đã hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới và thị trường lao động tại Việt Nam cũng đã từng bước hình thành đầy đủ các bộ phận cấu thành của nó. Quan hệ lao động theo hợp đồng đã trở nên phổ biến và chiếm ưu thế so với quan hệ tuyển dụng theo biên chế.

Hơn nữa, quan hệ lao động cũng đã thay đổi, phát triển và ngày càng phức tạp hơn mà những quy định của BLLĐ 1994 (dù đã được sửa đổi, bổ sung nhiều lần vào các năm 2002, 2006, 2007) chưa theo kịp chuyển biến của cuộc sống.

Về mặt pháp lý, từ năm 1994 đến nay, Việt Nam đã gia nhập rất nhiều công ước của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) trong lĩnh vực lao động. Vì vậy, với tư cách thành viên, Việt Nam có nghĩa vụ thực thi các công ước này, mà một trong những cách thức đó là chuyển hóa các quy định trong các công ước đó vào pháp luật lao động Việt Nam.

Bối cảnh ấy đặt ra nhu cầu sửa đổi toàn diện BLLĐ chứ không thể chỉ sửa đổi, bổ sung từng phần như đã được thực hiện. Dự thảo BLLĐ (lần 2) nằm trong bối cảnh ấy và các thay đổi trong dự thảo không chỉ là về câu chữ, mà thay đổi căn bản và từ gốc rễ. Nền tảng của các thay đổi này là việc cập nhật cơ chế ba bên của ILO vào pháp luật lao động Việt Nam.

Cơ chế ba bên là gì?

Cơ chế ba bên là cơ chế cốt lõi trong quá trình thành lập, tổ chức và vận hành của ILO cũng như quan điểm của ILO về quan hệ lao động. Cơ chế này nhìn nhận quan hệ lao động trong sự tương tác giữa người lao động (NLĐ) – nhà nước và người sử dụng lao động (NSDLĐ) với tư cách là những bên bình đẳng và độc lập.

Continue reading

NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

NGUYỄN THANH PHONG

1. Đánh giá năng lực cạnh tranh?

Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện các cam kết quốc tế VN từng bước mở cửa dịch vụ ngân hàng, nhằm hướng đến xây dựng hệ thống ngân hàng cạnh tranh bình đẳng trên bình diện quốc tế theo khuôn khổ pháp lý phù hợp và thống nhất. Hơn bao giờ hết sự cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng ngày càng trở nên gay gắt, thách thức đối với các NHTMVN càng gia tăng khi Chính phủ VN tháo dỡ rào cản đối với các ngân hàng thương mại nước ngoài (NHTMNNg) và tiến đến xóa bỏ những bảo hộ của Nhà nước đối với ngân hàng trong nước. Vì vậy đánh giá chính xác năng lực và vị thế cạnh tranh của NHTMVN trong điều kiện hiện nay là yêu cầu cần thiết. 

  “Năng lực cạnh tranh của NHTM là khả năng mà do chính ngân hàng tạo ra trên cơ sở duy trì và phát triển những lợi thế vốn có, nhằm cũng cố và mở rộng thị phần; gia tăng lợi nhuận và có khả năng chống đỡ và vượt qua những biến động bất lợi của môi trường kinh doanh”. Năng lực cạnh tranh của NHTM được đánh giá qua các yếu tố: năng lực tài chính; năng lực công nghệ; nguồn nhân lực; năng lực quản trị điều hành; mạng lưới hoạt động; mức độ đa dạng hóa sản phẩm kinh doanh; …trong đó, năng lực tài chính và năng lực công nghệ được xem là những yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định  năng lực cạnh tranh của NHTM.

2. Thực trạng năng lực cạnh tranh

Với những nỗ lực trong thời gian qua năng lực cạnh tranh của NHTMVN đã có bước cải thiện đáng kể nhưng vẫn chưa đủ mạnh để cạnh tranh bình đẳng với các NHNNg, cụ thể:

– Quy mô vốn chủ sở hữu:

Quy mô vốn chủ sở hữu của NHTMVN hiện nay còn rất thấp. NHTMNN là nhóm ngân hàng có quy mô vốn tương đối cao trong toàn hệ thống nhưng vẫn còn ở mức khiêm tốn gần 80 triệu USD, thể hiện qua bảng số liệu sau:

Continue reading