THỐNG KÊ VÀ BÁO CHÍ

image GS. NGUYỄN VĂN TUẤN – Viện Nghiên cứu y khoa Garvan, Úc

Giới báo chí Việt Nam có lẽ là một trong những nhóm thích dùng thống kê trong các bản tin nhất thế giới. Mở đầu cho bài viết “Tham nhũng học thuật”, phóng viên viết “Chỉ riêng vụ ‘luộc’ hai cuốn sách Nguyên lý bảo hiểm và Tài chính quốc tế của trường Đại học Kinh tế TPHCM, đã có tới 7 giảng viên của khoa Tài chính Ngân hàng trường Đại học Công nghiệp TPHCM can dự (chiếm 32% tổng số 22 giảng viên của khoa)”.

Mới đây, trong loạt bài phản ảnh về những trăn trở và khó khăn của du học sinh khi về làm việc ở Việt Nam, phóng viên cho biết: “83% du học sinh về nước không hài lòng với lương, thưởng”. Viết về nguyên nhân tử vong ở trẻ em, báo khẳng định: “50% trẻ em tử vong do đuối nước”. Có phóng viên còn chạy một cái tít chính xác đến 2 số thập phân như “31,48% sinh viên chưa nắm được thế nào là nghiên cứu khoa học”. Ít thấy báo chí nào trên thế giới chịu khó trình bày nhiều số phần trăm, mà có chính xác đến số lẻ, như báo chí ở nước ta.

Những con số thống kê thường được sử dụng để tạo sự quan tâm của công chúng về những vấn đề xã hội. Những con số thống kê vừa liệt kê trên được thu thập và tính toán với mục đích nói cho chúng ta biết rằng tình trạng “đạo sách” lan tràn trong giới khoa bảng, nhiều sinh viên chẳng biết nghiên cứu khoa học là gì, đa số du học sinh không hài lòng với lương bổng ở trong nước, và quan trọng hơn là đuối nước là nguyên nhân gây nên 50% tử vong ở trẻ em.

Những vấn đề mà phóng viên dùng số thống kê để nêu đúng là rất quan trọng, và công chúng khó có thể bỏ qua được. Nhìn như thế, chúng ta thấy con số thống kê quả là đóng vai trò quan trọng trong việc thuyết phục công chúng về các vấn đề xã hội.

Continue reading

TỔNG QUAN VỀ TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI

PSG.TS. NGUYỄN NHƯ BÌNH – Khoa Kinh tế & Kinh doanh Quốc tế, Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội

1.1. HỆ THỐNG THƯƠNG MẠI ĐA PHƯƠNG: NHỮNG VẤN ĐỀ KHÁI QUÁT

1.1.1. Thương mại quốc tế và hội nhập toàn cầu

Thương mại quốc tế có lịch sử lâu đời. Từ thời trung cổ đã có hoạt động giao lưu buôn bán giữa các quốc gia trong phạm vi từng khu vực cũng như giữa Đông và Tây. Sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa tư bản đã dẫn đến sự bùng nổ của thương mại quốc tế, gắn liền với chủ nghĩa thực dân cũ cướp bóc và nô dịch thuộc địa. Trong suốt các thế kỷ 16, 17 và 18, lý thuyết trọng thương có vai trò thống trị trong việc giải thích về thương mại quốc tế. Thế kỷ 19 với sự ra đời của lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith, nhất là lý thuyết lợi thế so sánh của D. Ricardo, thương mại thế giới đã được dẫn dắt theo một chiều hướng khác: chuyên môn hóa và trao đổi, điều đó sẽ mang lại lợi ích cho các quốc gia tham gia thương mại quốc tế và cho nền kinh tế thế giới.

Hệ thống thương mại đa phương đã được thiết lập cùng với việc ký kết Hiệp định Chung về Thuế quan và Thương mại vào năm 1947 (GATT 1947). Các lý thuyết thương mại quốc tế đã dẫn dắt và cổ vũ cho xu hướng tự do hóa thương mại trong hệ thống thương mại đa phương. Kể từ năm 1948 đến nay, thương mại quốc tế đã có những bước phát triển nhảy vọt. Năm 1948, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của thế giới đạt 58 tỷ USD và tổng kim ngạch nhập khẩu đạt 62 tỷ USD. Các con số tương ứng về tổng kim ngạch xuất khẩu và tổng kim ngạch nhập khẩu của năm 1980 là 2.034 tỷ USD và 2.075 tỷ USD, năm 1990 là 3.449 tỷ USD và 3.550 tỷ USD, năm 2000 là 6.452 tỷ USD và 6.724 tỷ USD, và năm 2005 là 10.431 tỷ USD và 10.783 tỷ USD1.

Continue reading

HAI CẶP PHÂN LOẠI HỢP ĐỒNG CĂN BẢN

TS. NGÔ HUY CƯƠNG -  Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Tóm tắt. Phân loại hợp đồng thành hợp đồng song vụ và hợp đồng đơn vụ, hợp đồng có đền bù và hợp đồng không có đền bù có ý nghĩa to lớn trong xây dựng pháp luật và thực tiễn pháp lý. Tuy nhiên ở Việt Nam hiện nay, hai cặp phân loại này chưa được chú ý thích đáng. Bài giới thiệu nội dung chủ yếu của hai cặp phân loại này và bình luận pháp luật Việt Nam liên quan.

Phân loại hợp đồng có ý nghĩa quan trọng trong nghiên cứu, xây dựng pháp luật và thực tiễn pháp lý, và được nhìn nhận rất nghiêm túc bởi các luật gia trên thế giới. Tuy nhiên Bộ luật Dân sự 2005 mới chỉ dừng lại ở một số ít phân loại hợp đồng trong khi có rất nhiều cặp phân loại được đề cập tới ở các nền tài phán khác nhau. Cũng như vậy các giáo trình luật dân sự của các cơ sở đào tạo luật ở Việt Nam hiện nay, cũng như thực tiễn tư pháp chưa có sự chú ý thích đáng tới phân loại hợp đồng và việc sử dụng chúng. Để góp phần nghiên cứu về vấn đề này, bài viết này chỉ giới thiệu hai cặp phân loại hợp đồng căn bản.

1. Hợp đồng song vụ và hợp đồng đơn vụ

Luật dân sự Việt Nam từ trước tới nay tỏ ra đồng nhất trong việc coi phân loại hợp đồng song vụ và hợp đồng đơn vụ là phân loại đầu tiên được nhắc tới trong các Bộ luật Dân sự. Đó là các loại hợp đồng thông dụng theo quan niệm của Luật La Mã (luật nghiêm chính), theo đó hợp đồng đơn phương chỉ làm phát sinh nghĩa vụ đối với một bên trong hợp đồng (điển hình là hợp đồng vay mượn), cho nên gắn với nó là tố quyền condictio – tố quyền đòi lại đồ vật từ con nợ. Ngược lại hợp đồng song phương làm phát sinh hiệu lực với cả các bên đối ước, tức là họ có quyền và nghĩa vụ đối với nhau, nên gắn với nó là tố quyền judicia bonae fides [1]. Ngày nay Bộ luật Dân sự Québec (Canada) định nghĩa:

“Hợp đồng là ràng buộc hai bên, hay song phương, khi các bên tự ràng buộc mình một cách qua lại, mỗi bên đối với bên kia, để nghĩa vụ của một bên tương ứng với nghĩa vụ của bên kia.

Khi một bên tự ràng buộc mình với bên kia mà bên kia không có bất kỳ một nghĩa vụ nào về phần mình, thì hợp đồng đó là hợp đồng đơn phương” (Điều 1380).

Continue reading

BÀN VỀ XÂY DỰNG HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO CÁC TỔ CHỨC – HOẠT ĐỘNG VÀ GIẢNG DẠY – NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA CÁC ĐƠN VỊ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC LUẬT CÔNG LẬP

GS. TS. LÊ CẢM – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Tóm tắt. Trên cơ sở nghiên cứu các văn bản pháp luật của Nhà nước, của Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) và của Khoa Luật, xuất phát từ thực tiễn công tác quản lý trong suốt 8 năm qua (2003 – 2008) trên cương vị là Quyền Chủ nhiệm (2000-2003) rồi Chủ nhiệm Khoa Luật trực thuộc ĐHQGHN (2003-2008), giả bài viết bàn về việc xây dựng hành lang pháp lý cho tổ chức-hoạt động và giảng dạy-nghiên cứu khoa học của các đơn vị giáo dục Đại học Luật công lập để từ nêu lên những cơ sở khoa học-thực tiễn của việc ban hành các văn bản pháp qu y trong việc tổ chức-hoạt động và giảng dạy-nghiên cứu khoa học của một đơn vị giáo dục Đại học Luật công lập, đồng thời chỉ ra những định hướng cơ bản để hoàn thiện việc xây dựng hành lang pháp lý cho các mặt công tác này để góp phần giúp cho các đơn vị đào tạo ngành Luật ở nước ta cùng nhau nghiên cứu-tham khảo kinh nghiệm.

1. Đặt vấn đề

1. Việc phân tích các công trình khoa học đã được công bố trên các trang sách báo pháp lí của nước ta từ sau Cách mạng tháng 8/1945 đến nay (đặc biệt là từ sau khi có Nghị quyết số 49/NQ-TW của Bộ Chính trị “Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”) [1] cho phép khẳng định rằng, thắng lợi cuối cùng của sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền (NNPQ) và thành công của chiến lược cải cách tư pháp (CCTP) ở Việt Nam hiện nay phụ thuộc rất nhiều vào hiệu quả của việc tổ chức-hoạt động và giảng dạy-nghiên cứu khoa học (NCKH) trong hệ thống giáo dục Đại học (GDĐH) Luật nói chung. Chính vì vậy, trong giai đoạn phát triển của Nhà nước và xã hội Việt Nam đương đại việc nghiên cứu những vấn đề về xây dựng hành lang pháp lý (HLPL) cho việc tổ chức-hoạt động và giảng dạy-NCKH trong các đơn vị sự nghiệp GDĐH Luật công lập của nước ta (dĩ nhiên ở đây chỉ bàn về các cơ sở đào tạo (ĐT) Luật có tư cách pháp nhân theo tinh thần Nghị định số 43/NĐ-CP ngày  25/4/2006 của Chính phủ) [2], để từ đó đưa ra mô hình lý luận (MHLL) của các quy định tương ứng có ý nghĩa rất quan trọng trên ba (03) bình diện chủ yếu (lập pháp, thực tiễn và lý luận) dưới đây:

Continue reading

THÔNG TIN KHOA HỌC XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO VỀ LĨNH VỰC DÂN SỰ VÀ TỐ TỤNG

STT

SỐ CHUYÊN ĐỀ

NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ

TẢI VỀ

1

Số 4-2009

Chuyên đề về pháp luật về công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài

Tải về

2

Số 1-2009

Chuyên đề Pháp luật thi hành án Dân sự

Tải về

3

Số 5-2008

Chuyên đề Hệ thống Tòa án một số nước trên thế giới

Tải về

4

Số 2-2008

Chuyên đề  Tương trợ tư pháp

Tải về

5

Số 6-2007

Chuyên đề Phòng, chống bạo lực gia đình

Tải về

6

Số 5-2007

Chuyên đề Tội phạm sở hữu trí tuệ

Tải về

7

Số 3-2007

Chuyên đề Sở hữu trí tuệ

Tải về

8

Số 2-2007

Chuyên đề Giao dịch điện tử

Tải về

9

Số 1-2007

Chuyên đề  Về Tổ chức Thương mại thế giới

Tải về

10

Số 4-2006

Chuyên đề Bảo vệ quyền của Phụ nữ và Trẻ em

Tải về

11

Số 2+3-2004

Chuyên đề Thương mại điện tử

Tải về

12

Số 1-2004

Chuyên đề Về giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế

Tải về

13

Số 6-2003

Chuyên đề Về giải quyết tranh chấp thương mại trong hệ thống WTO

Tải về

14

Số 5-2003

Chuyên đề  Án lệ ở một số nước trên thế giới

Tải về

15

Số 2-2003

Chuyên đề  Luật phá sản một số nước

Tải về

16

Số 1-2003

Chuyên đề Tranh tụng ở một số nước

Tải về

17

Số 6-2002

Chuyên đề Bảo hộ sở hữu trí tuệ từ kinh nghiệm của một số nước

Tải về

18

Số 5-2002

Chuyên đề  Xây dựng Bộ luật Tố tụng dân sự

Tải về

19

Số 4-2002

Chuyên đề Pháp luật phá sản

Tải về

Sử dụng phần mềm đọc file PDF để tra cứu tài liệu. Bạn có thể tải phần mềm tại đây

CIVILLAWINFOR TỔNG HỢP TỪ NGUỒN CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Sẽ được cập nhật >>>