CÔNG VĂN SỐ 528/BXD-HĐXD NGÀY 31 THÁNG 3 NĂM 2010 CỦA BỘ XÂY DỰNG VỀ GÓP Ý KIẾN CHO DỰ ÁN THÀNH LẬP CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN XÂY DỰNG VÀ KỸ THUẬT DÂN DỤNG DAESIN VIỆT NAM

Kính gửi:

Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hồ Chí Minh

Bộ Xây dựng nhận được văn bản số 1270/SKHĐT-ĐKĐT ngày 25/02/2010 của Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hồ Chí Minh đề nghị góp ý kiến cho dự án thành lập Công ty TNHH một thành viên Xây dựng và kỹ thuật dân dụng Daesin Việt Nam. Sau khi xem xét, Bộ Xây dựng có ý kiến như sau:

1. Mục tiêu thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài để cung cấp dịch vụ thi công xây dựng nhà ở, công trình đường bộ thuộc lĩnh vực được xem xét cấp giấy chứng nhận đầu tư theo quy định của Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư. Do đây là loại hình dịch vụ kinh doanh, vì vậy thời gian hoạt động chỉ nên giới hạn dưới 20 năm.

Căn cứ hồ sơ cho thấy Nhà đầu tư là Công ty Daesin Civil Engineering & Construction được thành lập theo pháp luật Hàn Quốc có chức năng kinh doanh phù hợp với lĩnh vực hoạt động xin thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam; Các văn bản pháp lý của chủ đầu tư đã được hợp pháp hoá lãnh sự theo quy định.

2. Hoạt động xây dựng là lĩnh vực kinh doanh có điều kiện, khi hoạt động xây dựng doanh nghiệp phải có đủ điều kiện năng lực phù hợp với công việc đảm nhận theo quy định của pháp luật về xây dựng. Do vậy, nếu được cấp giấy chứng nhận đầu tư, đề nghị gửi văn bản cho cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng tại địa phương được biết để theo dõi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp này.

3. Vấn đề cần lưu ý: Căn cứ hồ sơ cho thấy mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp xin thành lập tại Việt Nam không thống nhất với lĩnh vực ngành, nghề kinh doanh đăng ký tại Bản đăng ký kinh doanh. Đề nghị Nhà đầu tư điều chỉnh cho thống nhất các nội dung này trước khi cấp giấy chứng nhận đầu tư.

Trên đây là ý kiến của Bộ Xây dựng, đề nghị Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hồ Chí Minh xem xét theo thẩm quyền./.

KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG
Bùi Phạm Khánh

NGHỊ ĐỊNH SỐ 32/2010/NĐ-CP NGÀY 30 THÁNG 3 NĂM 2010 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG THỦY SẢN CỦA TÀU CÁ NƯỚC NGOÀI TRONG VÙNG BIỂN VIỆT NAM

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Thủy sản ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Căn cứ Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính ngày 02 tháng 7 năm 2002 và Pháp lệnh số 04/2008/UBTVQH12 ngày 02 tháng 4 năm 2008 sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định về điều kiện, thủ tục, thẩm quyền cấp Giấy phép hoạt động thủy sản; trách nhiệm của chủ tàu cá nước ngoài hoạt động thủy sản trong vùng biển Việt Nam; trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước đối với hoạt động thủy sản của tàu cá nước ngoài trong vùng biển của Việt Nam; kiểm tra, kiểm soát, xử lý vi phạm hành chính và khiếu nại, tố cáo liên quan hoạt động thủy sản của tàu cá nước ngoài trong vùng biển Việt Nam.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Nghị định này áp dụng đối với các chủ tàu cá nước ngoài hoạt động thủy sản trong vùng biển Việt Nam và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Nghị định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Chủ tàu cá là chủ sở hữu, người quản lý tàu hoặc thuyền trưởng tàu cá.

2. Vùng biển Việt Nam là các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được quy định tại Luật Biên giới Quốc gia ngày 26 tháng 6 năm 2003 và theo Điều ước quốc tế giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các quốc gia khác.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 33/2010/NĐ-CP NGÀY 31 THÁNG 3 NĂM 2010 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC THỦY SẢN CỦA TỔ CHỨC, CÁ NHÂN VIỆT NAM TRÊN CÁC VÙNG BIỂN

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Thủy sản ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (tờ trình số 4382/TTr-BNN-KTBVNLTS ngày 31 tháng 12 năm 2009 và công văn số 716/BC-BNN-TCTS ngày 16 tháng 3 năm 2010),

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng 

1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định về quản lý hoạt động khai thác thủy sản trong và ngoài vùng biển Việt Nam.

2. Đối tượng áp dụng

Tổ chức, cá nhân Việt Nam thực hiện hoạt động khai thác thủy sản là đối tượng áp dụng của Nghị định này.

Điều 2. Giải thích từ ngữ

1. Tuyến bờ là các đoạn thẳng gấp khúc nối liền các điểm: từ điểm 01 đến điểm 18. Tọa độ các điểm từ điểm 01 đến điểm 18 được xác định bởi kinh độ và vĩ độ quy định cụ thể trong Phụ lục.

2. Tuyến lộng là các đoạn thẳng gấp khúc nối liền các điểm: từ điểm 01’ đến điểm 18’. Tọa độ các điểm từ điểm 01’ đến điểm 18’ được xác định bởi kinh độ và vĩ độ quy định cụ thể trong Phụ lục.

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG: KIỆN ĐÒI LẠI TIỀN MUA THẺ GAMES ONLINE

TIẾN HIỂU

Chưa giao hàng tận tay cho khách hàng, lại thờ ơ với thiệt hại của đối tác nên bị kiện. “Muốn đòi tiền thì ông phải đi đòi Công ty M. vì hợp đồng giao dịch giữa hai bên như thế nào không liên quan gì đến bên này”.

Liên quan đến games online, vừa qua ngành tòa án TP.HCM đã thụ lý giải quyết một tranh chấp khá hy hữu: Ông T. (Khánh Hòa) khởi kiện Công ty M. (quận 3, TP.HCM) về hợp đồng mua bán thẻ games. Theo ông T., công ty này chưa giao các thẻ games cho ông nên phải trả lại 10 triệu đồng mua bán.

Tiền trao nhưng không thấy hàng

Ông T. kể ông và Công ty M. vốn là bạn làm ăn. Đầu năm 2009, qua thỏa thuận miệng ông mua của công ty một lô thẻ games online giá 10 triệu đồng. Thống nhất xong, ông vội chuyển hết tiền vào tài khoản của công ty. Không như những lần trước đó, lần này tiền đã giao xong nhưng chờ đợi mãi ông vẫn không thấy hàng về để phục vụ cho các… thượng đế của mình.

Biết có vấn đề trục trặc nên ông liên lạc để hỏi rõ nguyên nhân. Lúc này Công ty M. cũng giật mình cho hay: “Đã gửi hàng cho một công ty chuyên vận tải chuyển về theo đúng hợp đồng thỏa thuận rồi mà. Việc chậm trễ thế nào thì cứ liên lạc với công ty vận chuyển để tìm hiểu”.

Nghe xong, ông T. lập tức alô sang công ty vận chuyển… Sau khi nghe ông trình bày, phía công ty này đã nhìn nhận “có nhận vận chuyển một lô hàng từ phía Công ty M. nhưng đã bị thất lạc ở đâu không rõ”.

Không ai chịu bồi thường

Bực mình về những rắc rối không đáng có, ông T. quay trở lại yêu cầu Công ty M. trả ông 10 triệu đồng mà ông đã chuyển khoản. Tuy nhiên, công ty này đã lắc đầu. “Chúng tôi đã thực hiện giao dịch theo đúng thỏa thuận là nhận tiền và giao hàng nên không có trách nhiệm trả lại số tiền trên” – công ty lập luận.

Continue reading

THỰC TIỄN TỐ TỤNG DÂN SỰ: RỐI TRONG XÁC ĐỊNH TRANH CHẤP KINH DOANH . . .

Thẩm phán QUÁCH HỮU THÁI

Xác định đâu là tranh chấp kinh doanh thương mại hiện đang có nhiều quan điểm và khiến không ít bản án sơ thẩm bị sửa, hủy. Thẩm phán Quách Hữu Thái (TAND quận 11, TP.HCM) đã nêu ý kiến góp phần làm rõ những tranh chấp dạng này.

Khoản 1 Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) quy định rõ rằng những tranh chấp về kinh doanh thương mại là những tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.

Hướng dẫn gây rối

Theo quy định trên thì điều kiện có đăng ký kinh doanh và mục đích lợi nhuận giữa các chủ thể tham gia là điều kiện bắt buộc. Nếu chỉ có một bên có đăng ký kinh doanh hoặc chỉ có một bên có mục đích lợi nhuận thì là tranh chấp về dân sự.

BLTTDS quy định rõ ràng như vậy nhưng khi Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao ban hành Nghị quyết 01/2005/NQ-HĐTP (ngày 31-3-2005) hướng dẫn thì việc áp dụng pháp luật không thống nhất đã xảy ra.

Theo hướng dẫn, “Tòa Kinh tế có nhiệm vụ, quyền hạn giải quyết các tranh chấp và các yêu cầu về kinh doanh, thương mại… mà một hoặc các bên không có đăng ký kinh doanh nhưng đều có mục đích lợi nhuận”.

Hướng dẫn gây ra hai cách hiểu. Cách thứ nhất, những tranh chấp giữa một hoặc các bên không có đăng ký kinh doanh nhưng đều có mục đích lợi nhuận là tranh chấp về dân sự nhưng giao cho Tòa Kinh tế giải quyết.

Còn cách hiểu thứ hai là những tranh chấp đó là tranh chấp về kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa Kinh tế. Như vậy hướng dẫn đã mở ra khá nhiều so với quy định của luật.

Continue reading

THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT: LUẬT MÂU THUẪN, KHÓ THỰC THI

XUÂN THANH

Hiện nay, rất nhiều văn bản luật, dưới luật được ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội. Tuy nhiên, tình trạng mâu thuẫn giữa các luật; giữa luật với nghị định, thông tư vẫn xảy ra, gây khó trong việc áp dụng và thực thi pháp luật.

Nghị định vênh với luật

Pháp luật dân sự quy định về việc định đoạt tài sản chung của hộ gia đình, gồm: quyền sử dụng đất, quyền sử dụng rừng, tài sản do các thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập nên, hoặc được tặng cho chung, được thừa kế chung và các tài sản khác mà các thành viên thoả thuận là tài sản chung của hộ; việc định đoạt tài sản là tư liệu sản xuất, tài sản chung có giá trị lớn của hộ gia đình… phải được các thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý; đối với các loại tài sản chung khác phải được đa số thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý (Điều 108, 109 Bộ luật Dân sự (BLDS). Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật về đất đai, khi chuyển nhượng quyền sử dụng đất thuộc quyền sử dụng chung của hộ gia đình phải được tất cả các thành viên có đủ năng lực hành vi dân sự trong hộ gia đình đó thống nhất và ký tên, hoặc có văn bản uỷ quyền theo quy định của pháp luật về dân sự (Điều 146 Nghị định 181 hướng dẫn thi hành Luật Đất đai). Theo pháp luật dân sự, người có đủ năng lực, hành vi dân sự là người từ 18 tuổi trở lên. Do đó, quy định của pháp luật về đất đai đã mâu thuẫn với quy định của Bộ luật Dân sự. Trên thực tế, việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hộ gia đình, các cơ quan liên quan đều yêu cầu thành viên trong hộ từ 18 tuổi trở lên ký vào hợp đồng chuyển nhượng, và loại các thành viên từ 15 đến 17 tuổi ra vì cho rằng họ chưa thành niên.

Luật cũng mâu thuẫn

Theo quy định của Bộ luật Dân sự thì chủ hộ gia đình là người đại diện của hộ gia đình trong các giao dịch dân sự, vì lợi ích chung của hộ. Cha, mẹ hoặc một thành viên khác đã thành niên có thể là chủ hộ. Chủ hộ có thể uỷ quyền cho thành viên khác đã thành niên làm đại diện của hộ trong quan hệ dân sự (Điều 107 BLDS). Tuy nhiên, Điều 25 Luật Cư trú quy định trong trường hợp hộ gia đình không có người từ đủ mười tám tuổi trở lên, hoặc có người từ đủ 18 tuổi trở lên nhưng bị mất, hoặc hạn chế năng lực, hành vi dân sự thì được cử một người trong hộ làm chủ hộ. Như vậy, theo Luật Cư trú thì người dưới 18 tuổi cũng có thể làm chủ hộ gia đình, điều này mâu thuẫn với quy định của Bộ luật Dân sự. Trên thực tế, nếu chủ hộ dưới 18 tuổi theo Luật Cư trú sẽ không thực hiện được các giao dịch dân sự, ngoại trừ có tài sản riêng bảo đảm thực hiện giao dịch dân sự do mình thiết lập.

Continue reading