CÁC QUAN NGẠI THƯƠNG MẠI LIÊN QUAN ĐẾN TBT VÀ ĐỘNG THÁI CỦA VIỆT NAM

LÊ QUỐC BẢO

Theo thống kê của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) trong khoảng 10 năm (từ năm 1995 đến 2005) đã có 133 quan ngại thương mại liên quan đến TBT (Đề án triển khai thực hiện Hiệp định hàng rào kỹ thuật trong thương mại) và số lượng các quan ngại mới mỗi năm một tăng. Vậy các quan ngại thương mại liên quan đến TBT là gì? Ảnh hưởng của nó đến các nước thành viên ra sao, và chúng ta phải làm gì trước những quan ngại này?

Các quan ngại thương mại liên quan đến TBT

Các quan ngại thương mại (Trade concern) liên quan đến TBT là sự quan tâm của một hoặc nhiều nước thành viên WTO đối với các quy định nêu trong quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn hoặc quy trình đánh giá sự phù hợp của một nước thành viên khác và cho rằng, các quy định này có hoặc có thể sẽ tác động tiêu cực đến thương mại của họ.

Theo thống kê của WTO, từ năm 1995 đến năm 2005 có khoảng 133 quan ngại đã được đưa ra, và số lượng quan ngại mới mi năm đều tăng theo thời gian. Nếu xét theo nhóm nước, thì nhóm các nước phát triển có số quan ngại nhiều hơn so với các nước đang phát triển. Các quan ngại tập trung vào 9 nguyên nhân chủ yếu sau: Các quy định đưa ra thiếu cơ sở khoa học; nhằm vào các mục tiêu không hợp pháp/không hợp lý; tác động tiêu cực đến thương mại; mang tính phân biệt đối xử; không sử dụng tiêu chuẩn quốc tế khi đưa ra quy định; các quy định phức tạp, thiếu sự thông hiểu; là rào cản không cần thiết đối với thương mại; không đảm bảo tính công khai, minh bạch khi đưa ra quy định; các nguyên nhân khác. Trong đó, các nguyên nhân phổ biến và chiếm tỷ lệ cao là: Các quy định phức tạp, thiếu sự thông hiểu (chiếm 50%), là rào cản không cần thiết đối với thương mại (chiếm 62%) và không đảm bảo tính công khai, minh bạch (chiếm 80%).

Các quan ngại đề cập đến các sản phẩm/lĩnh vực nào?

Có 5 nhóm sản phẩm/lĩnh vực mà các quan ngại đề cập là: Các sản phẩm thực phẩm, đồ uống giải khát và rượu; sản phẩm hoá chất; dệt may; máy móc, cơ khí và thiết bị điện; phương tiện giao thông (đường bộ/thuỷ/hàng không) và trang thiết bị giao thông có liên quan. Dưới đây là một số quan ngại tiêu biểu:

Continue reading

MỘT NGHỊ ĐỊNH VÔ HIỆU HÓA MỘT ĐỊNH CHẾ

NGUYỄN NGỌC BÍCH & NGÔ DUY MINH – Công ty Luật Hợp danh DC

Nghị định ấy có số 01/2010/NĐ-CP được ban hành ngày 4-1-2010 và định chế kia là công ty cổ phần. Nghị định quy định việc chào bán cổ phần riêng lẻ của các công ty cổ phần cho các nhà đầu tư; và nhìn vào nội dung các phụ lục thì nó do Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) đề nghị và sẽ thực thi.

Ở đây, chúng tôi tóm tắt các điều khoản chính của nghị định liên quan đến công ty cổ phần mới thành lập hay đang hoạt động.

Tóm lược các điểm chính

Về phạm vi

Nghị định ấn định:

– Chào bán cổ phần riêng lẻ là “chào bán cổ phần hoặc quyền mua cổ phần trực tiếp và không sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng”.

Nói cách khác là công ty cổ phần mời và bán cổ phần cho mỗi người trên căn bản một vài hay nhiều cổ phiếu; nhưng cổ phiếu không được gom lại theo các đơn vị do các sở hay sàn chứng khoán ấn định.

– Đối với công ty cổ phần – mà không phải là công ty chứng khoán, tổ chức tín dụng, bảo hiểm và doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa – tức là các công ty cổ phần nói chung thì cơ quan quản lý việc chào bán cổ phần riêng lẻ là sở kế hoạch và đầu tư (KH-ĐT), ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế.

– Một trong những đối tượng chào bán cổ phần riêng lẻ là dưới 100 nhà đầu tư không phải là nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp; tức là chỉ cần công ty cổ phần bán cổ phần cho 1 người hoặc đến mức tối đa 99 người đều bị xem là “chào bán cổ phần riêng lẻ”.

Continue reading

THỦ TỤC RÚT GỌN TRONG TỐ TỤNG BỊ BỎ QUÊN?

PHẠM THÁI

Trong hoạt động tố tụng, không nhất thiết phải áp dụng một thủ tục tố tụng chung cho tất cả các loại vụ việc có mức độ phức tạp khác nhau. Xuất phát từ thực tế đó, Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 2.1.2002 của Bộ Chính trị đã xác định: “… quy định và thực hiện thủ tục tố tụng rút gọn đối với những vụ án đơn giản…”. Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 và Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004 đã có những quy định quán triệt chủ trương này. Tuy vậy, thực tiễn tố tụng ở nhiều địa phương đã “bỏ quên” thủ tục này.

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS) năm 2003 thì thủ tục rút gọn được áp dụng khi có đủ các điều kiện: người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang; sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng; tội phạm ít nghiêm trọng; người phạm tội có căn cước, lai lịch rõ ràng. Viện kiểm sát quyết định áp dụng thủ tục rút gọn theo đề nghị của Cơ quan điều tra, hoặc tự xét thấy vụ án có đủ điều kiện áp dụng thủ tục này. Thời hạn điều tra theo thủ tục rút gọn là mười hai ngày, khi kết thúc điều tra, Cơ quan điều tra không phải làm kết luận điều tra mà ra quyết định đề nghị truy tố. Thời hạn để Viện kiểm sát thực hiện các thủ tục tố tụng trong giai đoạn truy tố là 4 ngày. Thời hạn chuẩn bị xét xử của Tòa án là 7 ngày. Trường hợp ra quyết định đưa vụ án ra xét xử thì trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày ra quyết định, Tòa án phải mở phiên tòa xét xử vụ án. Việc xét xử sơ thẩm được tiến hành theo thủ tục chung.

BLTTHS quy định về thủ tục rút gọn đối với những vụ án hình sự có đủ các điều kiện như đã nêu là rất cần thiết, phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Điều này không chỉ tiết kiệm được thời gian, chi phí tiền của cho các cơ quan tiến hành tố tụng mà còn cho cả những người tham gia tố tụng, nên phải được áp dụng triệt để và thường xuyên. Tuy vậy, ở nhiều tòa án địa phương, thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự đã bị bỏ quên. Năm 2004, khi BLTTHS được triển khai thi hành, thủ tục rút gọn đã được áp dụng như để thử nghiệm đối với một vài vụ án. Sau đó cho đến nay, thủ tục này không được áp dụng, mặc dù không ít vụ án có đủ các điều kiện để áp dụng. Sở dĩ, các cơ quan tiến hành tố tụng không mặn mà trong việc áp dụng thủ tục rút gọn một phần là do các quy định của BLTTHS về thủ tục này còn chung chung, nhất là về mối quan hệ giữa các quy định của thủ tục rút gọn và các thủ tục tố tụng chung bắt buộc phải thực hiện; do lãnh đạo các cơ quan tư pháp ở các địa phương thiếu quan tâm, sâu sát trong chỉ đạo thực hiện. Tuy vậy, nguyên nhân chính vẫn là do thời hạn để thực hiện việc điều tra, truy tố và xét xử quá ngắn, trong khi điều kiện làm việc, quan hệ phối hợp và năng lực công tác của cán bộ còn hạn chế, do đó các cơ quan tiến hành tố tụng không muốn tự làm khó mình.

Continue reading

KHÔNG THỂ SỬA ĐỔI LUẬT BẰNG NGHỊ ĐỊNH

LS. TRƯƠNG THANH ĐỨC

Dự thảo Nghị định hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp đã đưa ra nhiều quy định mới mang tính đột phá, nhằm hóa giải nhiều trường hợp bế tắc cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, để xây dựng lên những quy định ấy, nhiều điều khoản của dự thảo Nghị định lại trở thành trái luật.

Không công nhận, vẫn đủ tư cách?

Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là một cơ chế pháp lý đặc biệt quan trọng đối với doanh nghiệp. Thông qua người đại diện theo pháp luật để xác định tư cách hợp pháp của người thay mặt doanh nghiệp trong các giao dịch kinh tế, dân sự.

Một doanh nghiệp hoạt động bình thường, thì không thể thiếu người đại diện theo pháp luật, dù chỉ trong một thời gian ngắn. Nếu không có người đại diện theo pháp luật, thì sẽ dẫn đến nguy cơ đình trệ hoạt động của doanh nghiệp, thậm chí rơi vào tình trạng bế tắc, không có lối thoát.

Xét trên tổng thể mấy trăm ngàn doanh nghiệp, thì sự cố này xảy ra rất thường xuyên, phổ biến. Lý do thì vô khối, chẳng hạn do người đại diện bị chết, mất tích, bị cách chức, bị mất khả năng làm việc, trong khi chưa thể hoàn tất được thủ tục bổ nhiệm nhân sự mới và thay đổi đăng ký người đại diện theo pháp luật. Luật Doanh nghiệp đã không thiết kế các quy định cần thiết để xử lý tình huống éo le, do vậy, rất cần được giải quyết trong nghị định.

Tuy nhiên, dự thảo Nghị định lại đi quá xa bằng việc đưa ra một loạt quy định như: Người được ủy quyền sẽ được “làm người đại diện theo pháp luật” của doanh nghiệp trong trường hợp người đại diện pháp luật vắng mặt trên 30 ngày.

Hay nếu thành viên là người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH có hai thành viên mà bị tạm giữ, tạm giam, bỏ trốn, bị mất năng lực hành vi dân sự, thì thành viên còn lại sẽ đương nhiên làm người đại diện theo pháp luật của công ty.

Continue reading