ĐẠO ĐỨC KHOA HỌC

NGUYỄN TUẤN

Đạo đức khoa học là một vấn đề quan trọng và cơ bản trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học (NCKH), thu hút sự quan tâm, chú ý không chỉ của giới khoa học mà của toàn xã hội. Tuy nhiên, các chuẩn mực đạo đức khoa học cụ thể là gì thì không dễ có câu trả lời.

Theo tác giả, các tiêu chuẩn đạo đức khoa học được tóm lược qua 6 nguyên tắc: Thành thật tri thức, cẩn thận, tự do tri thức, cởi mở – công khai, ghi nhận công trạng thích hợp, trách nhiệm trước công chúng.

Mỗi ngành, nghề trong xã hội, nhất là những nghề có liên quan đến sự an sinh của con người hay có ảnh hưởng đến một quần thể lớn, đều có những chuẩn mực về đạo đức hành nghề. Chẳng hạn như nghề y có các tiêu chuẩn về y đức mà bất cứ sinh viên y khoa nào mới ra trường đều phải “nằm lòng”, hay trong giới luật sư có những quy ước đạo đức cho việc hành nghề. Mới đây, trước những “lem nhem” của một số thầy cô giáo, có người kêu gọi nên phát triển những tiêu chuẩn đạo đức cho nghề sư phạm. Hoạt động khoa học (HĐKH) nói chung và NCKH nói riêng có ảnh hưởng lớn đến xã hội và con người, cho nên các chuẩn mực đạo đức đóng một vai trò rất cơ bản đối với các nhà khoa học.

Chuẩn mực đạo đức không phải là luật pháp, mà là những quy ước hay điều lệ về hành xử được các thành viên trong ngành nghề chuyên môn chấp nhận như là những kim chỉ nam cho việc hành nghề. Các quy ước này cho phép, nghiêm cấm, hay đề ra thủ tục về cách hành xử cho các tình huống khác nhau. Trong HĐKH, hai chữ “hành xử” ở đây bao gồm các lĩnh vực chuyên biệt như thí nghiệm, xét nghiệm, giảng dạy và huấn luyện, phân tích dữ liệu, quản lý dữ liệu, chia sẻ dữ liệu, xuất bản ấn phẩm, trình bày công trình nghiên cứu trước công chúng và quản lý tài chính.

Continue reading

LƯỢC SỬ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ DO TÀI SẢN GÂY THIỆT HẠI

TS. PHẠM KIM ANH – Đại học Luật TPHCM

Các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật dân sự nếu không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết hoặc do luật định thì phải gánh chịu những hậu quả bất lợi về vật chất hoặc tinh thần. Nguyên tắc được coi là có tính tất yếu để bảo vệ quyền lợi của các cá nhân và tổ chức đồng thời nhằm mục đích duy trì trật tự lưu thông dân sự trong xã hội. Tuy vậy, nguyên tắc bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ lại là kết quả của một quá trình diễn biến rất lâu dài trong lịch sử.

Trong thời kỳ cổ xưa khi xã hội chưa có nhiều định chế để giải quyết các vụ tranh chấp giữa các cá nhân với nhau nên mỗi khi quyền lợi của cá nhân bị xâm phạm, các cá nhân được tự ý trừng phạt lẫn nhau hoặc bắt đối phương làm nô lệ, hay tước đoạt tài sản của họ. Đây là chế độ tư nhân phục cừu. Dấu ấn của chế độ này còn lưu lại trong một số điều của hai Bộ Luật Hồng Đức và Luật Gia Long. Theo Điều 591 Bộ Luật Hồng Đức thì: “Người đòi nợ không trình quan mà tự ý bắt đồ đạc, của cải của người mắc nợ, nếu quá số tiền trong văn tự thì xử phạt 80 trượng, tính những của cải ấy trả cho người có nợ, còn thừa thì trả cho người mắc nợ”. Như vậy Bộ Luật Hồng Đức cho phép bắt đồ đạc để trừ nợ nếu việc trừ nợ không quá số tiền cho vay. Hạn chế này của Bộ Luật Hồng Đức nhằm loại trừ sự tự tiện của chủ nợ trong việc chiếm đoạt tài sản của con nợ để bù vào số tiền cho vay.

Trong Bộ Luật Gia Long, Điều 134 cũng đề cập đến vấn đề này nhưng rõ rệt hơn. Bộ Luật Gia Long cấm các chủ nợ không được tự tiện bắt gia súc hay tài sản của con nợ và cũng không được bắt thân nhân của họ làm nô tỳ. Ngoài ra, người gây thiệt hại cũng phải nộp một số tiền chuộc để tránh sự trả thù.

Từ các qui định viện dẫn trên chứng tỏ chế độ tư nhân phục cừu đã xuất hiện ở Việt Nam. Có thể nói rằng đây là manh nha của chế độ trách nhiệm dân sự cho dù không có điều khoản nào của hai Bộ luật trên nói đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cả.

Continue reading

BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO TÀI SẢN GÂY RA THEO QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ NƯỚC

TS. NGUYỄN MINH TUẤN – Khoa Pháp luật Dân sự

Bồi thường thiệt hại là một chế định dân sự tồn tại song hành với chế định sở hữu, vì thế hai chế định này phát triển rất sớm trong hệ thống các qui định của pháp luật mỗi quốc gia. Khi ra đời, để củng cố và bảo vệ địa vị thống trị của giai cấp bóc lột, nhà nước ban hành pháp luật, qui định những tài sản nào là của nhà nước, tài sản nào thuộc về cá nhân và đặc biệt qui định các chế tài có tính nghiêm khắc áp dụng đối với những ai có hành vi trái luật xâm phạm tài sản của người khác.

Ở nước ta, các bộ luật của nhà nước phong kiến như Luật Hồng Đức, Luật Gia Long có qui định về trách nhiệm dân sự. Tuy nhiên, ở mỗi thời kỳ lịch sử do tình hình chính trị – kinh tế – xã hội khác nhau nên mỗi bộ luật qui định không giống nhau về nội dung các chế định đó.

Trong Luật Hồng Đức, tại chương tạp luật có các qui định về bồi thường thiệt hại do hành vi của con người gây ra, như: trộm cắp, đánh người và các qui định về trách nhiệm bồi thường do tài sản gây ra. Điều 568 Luật Hồng Đức qui định:

“Khi có việc xây dựng hoặc phá huỷ gì mà phòng bị không cẩn thận để đến nỗi xảy ra chết người thì bị xử biếm một tư và chịu tiền mai táng 5 quan, còn thợ thuyền, chủ ty thì hình quan sẽ xem xét lỗi vì ai xảy ra mà định tội.”

Khi xây dựng nhà ở, công trình xây dựng, chủ sở hữu phải chuẩn bị các điều kiện cần thiết đảm bảo an toàn trong xây dựng và có biện pháp đề phòng các trường hợp có thể gây thiệt hại cho tài sản, tính mạng sức khoẻ của người khác. Tuy nhiên, nếu xây dựng hoặc phá huỷ công trình xây dựng mà gây thiệt hại thì chủ sở hữu phải bồi thường. Trường hợp này có hai khả năng xảy ra: Thứ nhất là khi xây dựng hoặc phá huỷ công trình mà người trực tiếp làm công việc đó có lỗi để gây ra thiệt hại. Thứ hai, do người chủ không cẩn thận trong việc ngăn ngừa thiệt hại để cho công trình xây dựng gây thiệt hại đẫn đến chết người, trường hợp này lỗi của chủ sở hữu là gián tiếp cho nên chủ sở hữu phải bồi thường thiệt hại, đây là trách nhiệm do tài sản gây ra.

Continue reading

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NGUỒN NGUY HIỂM CAO ĐỘ GÂY RA

TS. VŨ THỊ HẢI YẾN – Khoa Pháp luật Dân sự

Sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật, những thành tựu mới của công nghiệp hóa, cơ giới hóa đã làm thế giới ngày càng văn minh, hiện đại hơn. Tuy nhiên, thực tế cho thấy nó cũng kéo theo sự gia tăng các tai nạn mang tính khách quan nhiều khi nằm ngoài sự chi phối, điều khiển của con người, đe dọa tới sự an toàn về tính mạng, sức khỏe, tài sản… của các chủ thể trong xã hội. Có những sự vật như máy móc, phương tiện, hệ thống điện, dây chuyền sản xuất trong nhà máy… bản thân hoạt động của nó luôn tiềm ẩn khả năng gây thiệt hại cho môi trường xung quanh. Mặc dù con người luôn tìm mọi cách kiểm soát, vận hành nó một cách an toàn nhưng vẫn có những thiệt hại khách quan bất ngờ có thể xảy ra nằm ngoài sự kiểm soát đó. Trong khoa học pháp lý xuất hiện thuật ngữ “nguồn nguy hiểm cao độ” để chỉ những sự vật như vậy.

Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra là loại trách nhiệm đặc biệt bởi lẽ thiệt hại xảy ra không phải do hành vi và do lỗi của con người mà do hoạt động của những sự vật mà hoạt động của chúng luôn tiềm ẩn khả năng gây thiệt hại. Mặc dù chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu nguồn nguy hiểm cao độ có thể không có lỗi đối với thiệt hại nhưng để bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho người bị thiệt hại, pháp luật vẫn buộc họ có trách nhiệm bồi thường. Pháp luật dân sự thế giới cũng như Việt Nam không có bất kỳ một khái niệm đầy đủ nào về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra nhưng có thể hiểu một cách khái quát, đó là loại trách nhiệm phát sinh cho người sở hữu, chiếm hữu nguồn nguy hiểm cao độ khi hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại cho môi trường và những người xung quanh.

1. Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

1.1. Có hoạt động gây thiệt hại trái pháp luật của nguồn nguy hiểm cao độ

Khoản 1 Điều 623 Bộ luật dân sự 2005 không đưa ra một định nghĩa khái quát về nguồn nguy hiểm cao độ mà chỉ có quy định mang tính liệt kê: “Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định”.

Continue reading

LẰNG NHẰNG LÃI SUẤT THỎA THUẬN: VÌ ĐÂU?

LAN ANH

Chủ trương bãi bỏ hoàn toàn quy định về trần lãi suất được ngân hàng Nhà nước (NHNN) chuẩn bị từ nhiều tháng trước, nay dường như sắp được áp dụng triệt để khi NHNN đã bật đèn xanh cho các tổ chức tín dụng áp dụng cơ chế lãi suất thoả thuận đối với các khoản vay ngắn hạn.

Xét cả về nguyên tắc hoạt động của kinh tế thị trường lẫn tình hình thực tế nền kinh tế hiện nay, việc bỏ trần lãi suất là hoàn toàn phù hợp. Cái vướng hiện nay nằm ở chỗ bãi bỏ hoàn toàn chính sách trần lãi suất sẽ vi phạm bộ luật Dân sự năm 2005, có hiệu lực từ 1.1.2006. Điều 476 của bộ luật này quy định: lãi suất vay trong các hợp đồng vay tài sản, bao gồm cả các hợp đồng tín dụng do các bên thoả thuận không được vượt quá 150% lãi suất cơ bản do NHNN công bố đối với loại cho vay tương ứng. Nói cách khác, thoả thuận về lãi suất cho vay cao hơn 150% lãi suất cơ bản của NHNN là trái pháp luật.

Sẽ không ít người đặt câu hỏi: “À, thế thì giai đoạn trước khi áp dụng chính sách trần lãi suất vào thời điểm phải “chữa cháy” cho nền kinh tế năm 2008, tại sao không áp dụng trần lãi suất mà cũng không ai kêu ca gì?”

Hỏi lại những chuyên gia pháp chế hàng đầu của ngành ngân hàng, sẽ được giải thích rằng điều 476 bộ luật Dân sự được đưa ra nhằm ngăn ngừa hoạt động cho vay nặng lãi, với mục đích bao hàm toàn bộ các hoạt động dân sự. Những người làm luật lúc đó không nghĩ đến việc hoạt động ngân hàng cũng bắt buộc phải tuân thủ điều luật này, cho dù hoạt động ngân hàng ở Việt Nam đang tiến theo các nguyên tắc tự do hoá thị trường của tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Trong suốt thời gian từ 2006 đến 2008, dường như toàn ngành ngân hàng đã lờ đi điều 476 bộ luật Dân sự. Cho đến thời điểm nước sôi lửa bỏng của năm 2008, khi lạm phát vọt lên đến 24%, ngân hàng chạy đua lãi suất, nền kinh tế bên bờ vực của khủng hoảng, thì trần lãi suất có vẻ như trở thành một “chiếc gậy thần kỳ” có sẵn. Nói nôm na theo một số chuyên gia trong ngành, “bí quá thì NHNN lôi bộ luật Dân sự ra áp trần vào.” NHNN áp dụng ngay quy định về việc cho vay không được vượt quá 150% lãi suất cơ bản. Những biện pháp kìm cương trong giai đoạn này, đau đớn với nhiều doanh nghiệp, nhưng có vẻ thành công. Chính sách trần lãi suất được coi như một biện pháp “thời chiến.” Nay thời chiến đã qua, tình hình hiện tại khiến chính phủ nhìn nhận đã đến lúc phải bỏ trần lãi suất. Nhưng muốn vậy phải sửa luật và phải được Quốc hội phê chuẩn. Thông tin từ NHNN và Thường vụ Quốc hội cho biết, tại kỳ họp Quốc hội tháng sáu tới đây, luật Ngân hàng sẽ được sửa theo hướng bãi bỏ chính sách trần lãi suất.

Continue reading