CHẾ ĐỊNH HỢP ĐỒNG DÂN SỰ VÔ HIỆU TRƯỚC YÊU CẦU SỬA ĐỔI, BỔ SUNG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005

THS. BÙI THỊ THANH HẰNG – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Theo Điều 121 Điều 410 Bộ Luật dân sự (BLDS) năm 2005 các quy định về giao dịch dân sự vô hiệu cũng được áp dụng đối với hợp đồng vô hiệu. Tuy nhiên, những điều kiện về hợp đồng dân sự vô hiệu không được qui định chi tiết mà được chỉ dẫn đến các qui định có liên quan của Bộ luật. Do vậy, bài viết đã xem xét hợp đồng dân sự vô hiệu trên cơ sở các phân tích trong mối liên hệ chặt chẽ với những quy định khác trong toàn bộ các qui định của BLDS 2005 như: định nghĩa hợp đồng dân sự vô hiệu; vi phạm điều kiện để hợp đồng dân sự có hiệu lực; hậu quả pháp lý của hợp đồng dân sự vô hiệu và thời điểm xác định thời hạn yêu cầu tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu… Trên cơ sở đó bài viết đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện chế định này.

1. Đặt vấn đề *

Theo Điều 121 BLDS 2005 hợp đồng dân sự là một dạng của giao dịch dân sự, theo logic này Điều 410 BLDS năm 2005 qui định: “Các quy định về giao dịch dân sự vô hiệu từ Điều 127 đến Điều 138 của BLDS 2005 cũng được áp dụng đối với hợp đồng vô hiệu”.

Như vậy, những hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự như: các bên phải “khôi phục lại tình trạng ban đầu” như khi chưa xác lập hợp đồng, “các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận…” và “bên có lỗi phải bồi thường” được qui định tại Điều 137 BLDS 2005 cũng được áp dụng đối với hợp đồng dân sự vô hiệu với sự dẫn chiếu đến các các chế định khác của BLDS như quyền sở hữu, được lợi không có căn cứ pháp luật, thực hiện công việc không có ủy quyền và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Theo Điều 127 BLDS 2005 một hợp đồng “không có” một trong các điều kiện được qui định tại Điều 122 của BLDS 2005 thì vô hiệu(1). Tuy nhiên, những điều kiện này không được qui định chi tiết mà được chỉ dẫn đến các qui định có liên quan của Bộ luật. Do vậy, khi xem xét vấn đề hợp đồng dân sự vô hiệu cần có sự liên hệ chặt chẽ với những quy định khác trong tổng thể BLDS 2005.

Continue reading

TƯ VẤN – NHÂN TỐ QUAN TRỌNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH

Luật gia VŨ XUÂN TIỀN – Tổng Giám đốc Công ty cổ phần tư vấn quản lý và đào tạo VFAM Việt Nam

TƯ VẤN LÀ GÌ?

Theo từ điển tiếng Việt phổ thông, "tư vấn là việc góp ý kiến về những vấn đề được hỏi, nhưng không có quyền quyết định". Từ khái niệm đó, chúng ta có Hội đồng tư vấn, Cơ quan tư vấn, Nhà tư vấn, Công ty tư vấn, chức năng tư vấn…

Khái niệm nêu trên là khái niệm đơn giản nhất, phổ thông nhất. Xã hội càng phát triển, "việc góp ý" – nội dung cơ bản của tư vấn – đã mở rộng hơn rất nhiều. Các nhà tư vấn, các công ty tư vấn chuyên nghiệp không chỉ dừng lại ở việc "góp ý" mà đã và đang thực hiện nhiều nội dung khác quan trọng hơn như: nghiên cứu và cảnh báo rủi ro; nghiên cứu và đưa ra các ý kiến về việc chấp hành các quy định của pháp luật; nghiên cứu đưa ra các phương án đầu tư và lựa chọn phương án tối ưu trong kinh doanh, đầu tư… Theo đà phát triển của nền kinh tế, tư vấn đã trở thành một lĩnh vực hoạt động độc lập và ngày càng phát triển.

TƯ VẤN – NHÂN TỐ QUAN TRỌNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH

Cũng theo Từ điển Tiếng Việt phổ thông, kinh doanh là việc tổ chức sản xuất, buôn bán, dịch vụ nhằm mục đích sinh lợi. Theo Luật Doanh nghiệp 2005, Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi.

Lịch sử kinh tế của các nước phát triển đã chứng minh rằng, trong kinh tế thị trường, tư vấn đã, đang và sẽ trở thành nhân tố vô cùng quan trọng trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp và doanh nhân. Vị trí đặc biệt quan trọng đó của hoạt động tư vấn do những lý do sau đây quyết định:

Thứ nhất, hoạt động kinh doanh, dù là do cá nhân hay pháp nhân thực hiện, cũng do một chủ thể quyết định – đó là chủ sở hữu (hoặc người đại diện của chủ sở hữu) – còn gọi là chủ doanh nghiệp. Trong khi đó, dù ở quy mô kinh doanh nhỏ hay lớn, hoạt động kinh doanh cũng bao trùm rất nhiều lĩnh vực khác nhau. Không một chủ doanh nghiệp nào có thể có đủ kiến thức cần thiết ở tất cả các lĩnh vực để phục vụ tốt cho hoạt động kinh doanh. Việc tuyển dụng người lao động vào làm việc trong doanh nghiệp để "lấp đầy khoảng trống" về kiến thức cần thiết ở tất cả các lĩnh vực phục vụ kinh doanh không phải lúc nào cũng thực hiện được và không phải trường hợp nào cũng là tối ưu. Do đó, các chủ doanh nghiệp phải tìm đến, nhờ sự hỗ trợ của các nhà tư vấn, các công ty tư vấn.

Continue reading

BÀN THÊM VỀ VIỆC PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU NGOẠI TỆ TRONG NƯỚC

TS. NGUYỄN ĐẠI LAI

Chính phủ đã có quyết định cho phép phát hành trái phiếu ngoại tệ trong nước để thu hút ngoại tệ trôi nổi trong nền kinh tế. Quyết định nêu trên được đưa ra vào thời điểm hiện nay tuy đã hơi muộn, song vẫn rất cần và nên tiến hành thường xuyên. Bởi lẽ, đến nay Việt Nam là một nền kinh tế hội nhập nhưng chưa có đồng tiền tự do chuyển đổi. Hơn nữa, Việt Nam là một nền kinh tế đã và đang bị đô la hoá khá nặng nề; tín dụng ngoại tệ vẫn còn là lĩnh vực sôi động và cùng với tình trạng đô la hoá đang gây nhiễu việc điều hành CSTT… Tuy nhiên, để ngăn chặn những tác động tiêu cực, trái chiều có thể xảy ra và phát huy tốt hơn tác dụng trong quản lý nền kinh tế của loại trái phiếu đặc biệt này, vẫn còn những vấn đề rất quan trọng cần nghiên cứu, trao đổi sâu hơn.

Trước hết là đối tượng được phép phát hành trái phiếu ngoại tệ:

Phát hành trái phiếu ngoại tệ trong nước là để "vay" ngoại tệ ngay trong nước nhưng không ký các hợp đồng tín dụng ngoại tệ theo phương thức cổ truyền. Vì vậy, không phải bất kỳ cá nhân, tổ chức nào cũng được phép phát hành loại trái phiếu này. Theo tôi, đối tượng được phép phát hành trái phiếu ngoại tệ ở trong nước nên chỉ bao gồm:

– Ngân sách Nhà nước do Bộ Trưởng Bộ Tài chính (hoặc Tổng Giám đốc Kho bạc Nhà nước) ký phát hành với mục đích bù đắp thiếu hụt ngân sách trong một giới hạn được tính toán chặt chẽ, cho phép.

– Các Ngân hàng thương mại đã được phép niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán hiện không có nợ có vấn đề từ nhóm 3 trở lên.

– Các tổ chức kinh tế trong nước có chức năng nhập khẩu máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải… và có phương án đầu tư hiệu quả cho các dự án trọng điểm được phát hành theo phương thức có bảo lãnh của Chính phủ. Các loại trái phiếu này do có việc sàng lọc kỹ đối tượng và có điều kiện nêu trên nên đều có chất lượng như nhau và đều được niêm yết, giao dịch trên các Sàn Giao dịch chứng khoán có tổ chức tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh.

Continue reading