GIẢI PHÁP CHO BÀI TOÁN “CHẤT LƯỢNG NHÂN VĂN CỦA LUẬT”

TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN

1. Trật tự xã hội và công bằng xã hội – mục tiêu khách quan của luật

Mục tiêu khách quan cao nhất của luật là bảo đảm trật tự xã hội (1), điều kiện cơ bản đối với việc sản sinh, bảo tồn, phát triển các giá trị vật chất và tinh thần. Một trật tự pháp lý chỉ được gọi là tốt khi có khả năng gìn giữ, duy trì cấu trúc xã hội trong trạng thái hài hoà và ổn định.  

Trật tự xã hội, về phần mình, là một khái niệm mà sự nhìn nhận có thể rất khác biệt, tuỳ theo quan điểm tiếp cận. Thế nhưng, vượt lên trên tất cả những khác biệt, nhất là những khác biệt có nguồn gốc ý thức hệ, có một trật tự phổ quát đặc trưng bởi sự thống trị của hai nguyên tắc công bằng xã hội hay, đúng hơn, của một nguyên tắc công bằng kép, được thừa nhận rộng rãi (2): nguyên tắc công bằng số học, còn gọi là bình đẳng trong quan hệ song phương; nguyên tắc công bằng hình học, còn gọi là bình đẳng trong quan hệ đa phương.

Công bằng số học: Nguyên tắc bình đẳng trong quan hệ song phương đòi hỏi sự cân đối về quyền và nghĩa vụ giữa hai bên trong giao tiếp xã hội. Tư tưởng chủ đạo là mỗi người phải được và chỉ được hưởng những lợi ích thuộc về mình. Xuất phát từ đó, mọi hoạt động trao đổi sản phẩm, dịch vụ giữa con người phải bảo đảm sự cân xứng về giá trị, sự cân xứng toán học. Một người chuyển giao cho người khác một lợi ích mà không với ý định tặng cho, thì có quyền yêu cầu người nhận lợi ích giao trả cho mình một lợi ích tương đương (3); một người có hành vi gây thương tích cho người khác phải bồi thường thiệt hại để khôi phục tình trạng thể chất của nạn nhân như trước khi bị thương; một người có hành vi trộm cắp tài sản của người khác có nghĩa vụ giao trả tài sản cho người bị mất trộm;…

Continue reading

TỜ TRÌNH CỦA BỘ TƯ PHÁP DỰ THẢO NGHỊ ĐỊNH VỀ ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM

Dự thảo ngày 02/02/2010

Kính gửi:

Chính phủ

Thực hiện Chương trình xây dựng văn bản, đề án năm 2010 của Bộ Tư pháp trình Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương, Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ, trong thời gian vừa qua, Bộ Tư pháp đã triển khai xây dựng dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 08/2000/NĐ-CP ngày 10/3/2000 của Chính phủ về đăng ký giao dịch bảo đảm (sau đây gọi là Nghị định về đăng ký giao dịch bảo đảm). Sau một thời gian xây dựng theo đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định, Bộ Tư pháp xin kính trình Chính phủ Dự thảo Nghị định về đăng ký giao dịch bảo đảm như sau:

I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH NGHỊ ĐỊNH VỀ ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM

Việc ban hành Nghị định về đăng ký giao dịch bảo đảm là cần thiết xuất phát từ các lý do chủ yếu sau đây:

1. Trong thực tiễn, đăng ký giao dịch bảo đảm không chỉ đáp ứng lợi ích của người vay và người cho vay vốn, mà còn khuyến khích sự lưu thông nguồn vốn và giúp thị trường tín dụng hoạt động hiệu quả, an toàn, góp phần thúc đẩy sản xuất – kinh doanh phát triển. Thiết chế đăng ký giao dịch bảo đảm ra đời có vai trò, ý nghĩa quan trọng trong việc xác định thứ tự ưu tiên thanh toán giữa các bên cùng nhận bảo đảm khi xử lý tài sản bảo đảm, giúp công khai hóa, minh bạch hóa các thông tin liên quan đến giao dịch bảo đảm. Ngoài ra, thông qua việc tổ chức, vận hành có hiệu quả hệ thống đăng ký giao dịch bảo đảm, Nhà nước có được những thông tin cần thiết phục vụ cho quá trình hoạch định chính sách vĩ mô, đặc biệt liên quan trực tiếp đến mục tiêu bảo đảm an toàn tín dụng.

Bên cạnh đó, quá trình giải quyết các vụ án về tranh chấp quyền sở hữu tài sản cho thấy, một trong những nguyên nhân có thể dẫn đến tranh chấp là do các bên thiếu thông tin về tình trạng pháp lý của tài sản bảo đảm (ví dụ: Trong vụ án tranh chấp giữa Ngân hàng thương mại cổ phần Dầu khí toàn cầu (GP Bank) với một số hộ dân về quyền sở hữu 47 biệt thự thuộc dự án xây dựng khu biệt thự tại xã An Khánh, huyện Hoài Đức, TP Hà Nội thì 47 biệt thư nêu trên là tài sản bảo đảm trong hợp đồng tín dụng giữa Cty D&T với ngân hàng thương mại cổ phần Dầu khí toàn cầu (GP Bank) để vay vốn thực hiện dự án đầu tư). Do không có thông tin chính thức về tình trạng pháp lý của tài sản nên các hộ dân đã mua 47 lô đất với giá 2,8 tỷ đồng/lô và khi Cty D&T không có khả năng thanh toán số vốn vay hơn 66 tỷ đồng nên đến tháng 12/2008, GP Bank đã ra thông báo chuyển quyền thụ hưởng 47 lô đất trên và GP Bank chính thức thay D&T thực hiện quyền, nghĩa vụ hợp pháp đối với 47 biệt thự là tài sản đảm bảo nêu trên).

Continue reading

BÁO CÁO NGÀY 18 THÁNG 01 NĂM 2010 CỦA THƯỜNG TRỰC ỦY BAN KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ VÀ MÔI TRƯỜNG VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LỚN CỦA DỰ ÁN LUẬT AN TOÀN THỰC PHẨM

Tài liệu phục vụ Phiên họp thứ 27 của Ủy ban thường vụ Quốc hội (19.1.2010)

Kính gửi:

Ủy ban thường vụ Quốc hội

Tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội đã thảo luận về Dự án Luật An toàn thực phẩm. Sau kỳ họp Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã chỉ đạo Thường trực Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường chủ trì phối hợp với Ban Soạn thảo và các cơ quan hữu quan nghiên cứu, tiếp thu ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội để chỉnh lý dự thảo Luật.

Thường trực Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường (KHCN-MT) xin báo cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội về một số vấn đề lớn đã được nghiên cứu và tiếp thu, chỉnh lý trong dự thảo Luật.

1. Về quản lý an toàn thực phẩm đối với thực phẩm sản xuất, kinh doanh quy mô nhỏ lẻ

Có ý kiến đề nghị làm rõ Luật có quản lý an toàn thực phẩm (ATTP) đối với thực phẩm sản xuất, kinh doanh quy mô nhỏ lẻ hay chỉ quy định đối với thực phẩm sản xuất, kinh doanh quy mô công nghiệp.

Về vấn đề này, Thường trực Ủy ban KHCN-MT thấy rằng, ở Việt Nam, việc sản xuất, kinh doanh thực phẩm quy mô nhỏ lẻ còn phổ biến, liên quan trực tiếp tới đời sống của 9,4 triệu hộ nông dân trực tiếp sản xuất nông sản và tiểu thương kinh doanh thực phẩm quy mô nhỏ lẻ tại các chợ. Vì vậy, để phù hợp với điều kiện thực tế và đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, dự thảo Luật quy định theo hướng:

– Mọi cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm đều phải bảo đảm ATTP, việc quản lý ATTP dựa trên tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật (Điều 3); Nhà nước có chính sách khuyến khích phát triển các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm đổi mới công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất, xây dựng thương hiệu, phát triển hệ thống cung cấp thực phẩm an toàn; thực hiện lộ trình bắt buộc áp dụng hệ thống Thực hành sản xuất tốt (GMP), Thực hành nông nghiệp tốt (GAP)… (Điều 4), quy định về quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong bảo đảm an toàn thực phẩm (Chương II), quy định về điều kiện bảo đảm an toàn đối với thực phẩm (Chương III)…

Continue reading

CƠ CHẾ PHÁP LÝ GIÁM SÁT HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP VÀ CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH

THS. NGUYỄN CHÍ DŨNG – Chánh Văn phòng VKSND Hà Nội

Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước được Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo bắt đầu từ Đại hội Đảng lần thứ VI (năm 1986) đến nay đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa vô cùng quan trọng trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị – xã hội. Đặc biệt là những thành tựu về tổ chức quản lý phát triển nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN). Những thành tựu bước đầu về kinh tế đã đưa đất nước ta ra khỏi khủng hoảng về kinh tế – xã hội, cho phép tiếp tục đổi mới về chính trị.

Trong điều kiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế, đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân. Chính vì lẽ đó trong những năm đầu bước vào thế kỷ XXI, Đảng ta đã có nhiều Nghị quyết quan trọng về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật và cải cách nền tư pháp[1], Chính phủ có Quyết định về chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2001 – 2010[2].

Trong nội dung của các văn kiện chính trị – pháp lý quan trọng nêu trên, vấn đề cải cách tư pháp và giám sát hoạt động tư pháp được Đảng ta quan tâm, chỉ đạo cụ thể. Trước hết là việc cụ thể hoá đầy đủ nguyên tắc hiến định “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”, "nâng cao hiệu lực, hiệu quả thi hành pháp luật”.

Một trong những vấn đề cần được cụ thể hoá nguyên tắc trên là vấn đề giám sát việc thực hiện pháp luật của các cơ quan nhà nước nói chung và việc giám sát hoạt động tư pháp nói riêng. Đảng ta chỉ ra rằng “thể chế hoá nguyên tắc dân chủ trong hoạt động của các cơ quan dân cử bảo đảm để nhân dân tích cực tham gia vào các hoạt động xây dựng pháp luật, giám sát bằng nhiều hình thức việc thi hành luật của các cơ quan, công chức nhà nước. Hoàn thiện pháp luật về giám sát tối cao của Quốc hội, cơ chế bảo vệ luật và Hiến pháp”; “hoàn thiện pháp luật về khiếu nại tố cáo, bảo đảm mọi quyết định pháp luật và hành vi hành chính trái pháp luật đều được phát hiện và có thể bị khởi kiện trước toà án”; “hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động thanh tra”; “hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của viện kiểm sát nhân dân theo hướng bảo đảm thực hiện tốt chức năng công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp”; "hoàn thiện pháp luật về quyền giám sát của các cơ quan dân cử, quyền trực tiếp giám sát kiểm tra của công dân đối với các hoạt động của cơ quan, cán bộ, công chức; mở rộng các hình thức dân chủ trực tiếp để người dân tham gia vào công việc của Nhà nước…”.

Continue reading

TỜ TRÌNH CỦA BỘ TƯ PHÁP VỀ DỰ ÁN LUẬT TIẾP CẬN THÔNG TIN

Kính gửi:

Thủ tướng Chính phủ

Thực hiện Nghị quyết số 27/2008/QH12 về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2009 và bổ sung Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội khoá XII, được sự phân công của Chính phủ, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan xây dựng Dự án Luật tiếp cận thông tin (sau đây gọi là Dự án Luật). Bộ Tư pháp xin trình Chính phủ những nội dung chính liên quan đến Dự án Luật như sau:

I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH VĂN BẢN

Ở nước ta, quyền được thông tin của công dân, tổ chức đã được thể hiện trong nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 đã khẳng định: bảo đảm quyền được thông tin… của công dân. Thể chế hoá đường lối của Đảng, Hiến pháp năm 1992 quy định: “Công dân… có quyền được thông tin… theo quy định của pháp luật” (Điều 69). Gần đây nhất, Nghị quyết Hội nghị lần thứ Ba, Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khoá X) về tăng cường sự lãnh đạo của Ðảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí đã đề ra nhiệm vụ nghiên cứu ban hành Luật bảo đảm quyền được thông tin của công dân và coi đây là một trong các biện pháp phòng, chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước.

Trên phương diện quốc tế, quyền tiếp cận thông tin là một trong các quyền cơ bản của con người, thuộc nhóm quyền dân sự – chính trị, được ghi nhận trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948[1], Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 mà Việt Nam là thành viên. Các quyền này tiếp tục được khẳng định trong Công ước của Liên Hợp quốc về chống tham nhũng[2], Tuyên bố Rio về Môi trường và phát triển và Công ước UNECE về tiếp cận thông tin môi trường. Cho đến nay, nhiều quốc gia trên thế giới cũng đã ban hành luật liên quan đến quyền tiếp cận thông tin của công chúng.[3]

Continue reading