BỘ XÂY DỰNG CẤM SỬ DỤNG CHUNG CƯ LÀM VĂN PHÒNG: CHƯA THẤU TÌNH, ĐẠT LÝ!

LG. VŨ XUÂN TIỀN -  Chủ tịch Hội đồng thành viên Cty TNHH tư vấn VFAM VN

Ngày 19/11/2009, Bộ Xây dựng ban hành công văn số 2544/2009/BXD-QLN về việc “Cấm sử dụng chung cư làm văn phòng, cơ sở sản xuất…”. Ngay sau đó, có rất nhiều ý kiến phản ứng về quy định “cấm” của công văn số 2544 nêu trên. Ngày 10/2/2010, Bộ Xây dựng lại có tiếp công văn số 241/BXD-QLN gửi UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương yêu cầu thống kê tình hình sử dụng căn hộ nhà chung cư làm cơ sở sản xuất – kinh doanh, văn phòng. Bài viết của đại diện một DN về những bất cập mà các công văn này tác động tới hoạt động của DN, đặc biệt là DNNVV.

Nhiều ý kiến cho rằng, hai văn bản này có thể dẫn đến tình trạng đóng cửa, giải thể hàng loạt DNNVV vì những DN này không thể đủ năng lực tài chính để chuyển đến thuê văn phòng tại các tòa nhà chuyên dùng làm văn phòng cho thuê với giá thuê từ 30 đến 45 USD/m2/tháng.

Không thấu lý

Có thể khẳng định rằng, quy định cấm sử dụng chung cư làm văn phòng, cơ sở kinh doanh không có cơ sở pháp lý đầy đủ và chặt chẽ. Điều đó thể hiện ở những điểm sau:

Thứ nhất, thuê chung cư làm văn phòng, trụ sở Cty đều là các DNNVV hoạt động theo Luật DN. Khoản 1 Điều 35 Luật DN quy định: “1. Trụ sở chính của DN là địa điểm liên lạc, giao dịch của DN; phải ở trên lãnh thổ VN, có địa chỉ được xác định gồm số nhà, tên phố (ngõ phố) hoặc tên xã, phường, thị trấn, huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; số điện thoại, số fax và thư điện tử (nếu có)”. Ngoài quy định trên, trong Luật DN không có bất kỳ quy định nào khác về trụ sở DN. Như vậy, cấm sử dụng chung cư làm văn phòng, trụ sở DN là đã vô hiệu hóa một điều khoản quan trọng của Luật DN.

Continue reading

BAN KIỂM SOÁT BỊ VÔ HIỆU HÓA NHƯ THẾ NÀO?

LY NGUYỄN

Trong các công ty cổ phần, đặc biệt là các công ty đại chúng và công ty niêm yết, vai trò của ban kiểm soát (BKS) là hết sức quan trọng. Ngoài chức năng chính là giám sát hoạt động của hội đồng quản trị (HĐQT), tổng giám đốc/giám đốc (TGĐ/GĐ), nhằm ngăn chặn và phát hiện những trường hợp sai phạm, thiếu sót, bất minh, bất hợp lý, xung đột lợi ích… trong việc quản lý, điều hành công ty; BKS còn đóng vai trò quan trọng trong việc đề xuất các biện pháp, giải pháp khắc phục, cải tiến để hoạt động quản lý, điều hành công ty đạt được hiệu quả cao nhất.

Trong một công ty hoạt động minh bạch, hoặc có mong muốn hoạt động minh bạch, HĐQT và TGĐ/GĐ công ty luôn nhìn nhận BKS dưới góc độ vừa là người “thổi còi”, giúp HĐQT ngừng ngay các sai phạm, để không đi quá xa; vừa là người hỗ trợ tích cực cho các hoạt động cải tiến, đặc biệt trong các lĩnh vực “nhạy cảm” như quản lý tài chính, quản lý đầu tư, quản lý quan hệ cổ đông…

Thế nhưng, ở không ít các công ty, BKS chỉ đóng vai trò như con bù nhìn, được chính HĐQT và các cổ đông lớn dựng lên cho có và hoàn toàn bị vô hiệu hóa, thậm chí còn được xem là lực lượng hậu thuẫn, đứng sau, tiếp tay cho HĐQT, TGĐ/GĐ dấn sâu vào những hoạt động sai phạm, xâm phạm lợi ích các cổ đông nhỏ lẻ.

Ban kiểm soát trong các công ty cổ phần thường bị vô hiệu hóa như thế nào?

Luật Doanh nghiệp, mặc dù có biện pháp bảo vệ cổ đông nhỏ thông qua điều khoản quy định tiêu chuẩn và điều kiện làm thành viên BKS, nhưng các ràng buộc trong luật lại khá lỏng lẻo, còn nhiều kẽ hở.

Điều 122, Luật Doanh nghiệp, (khoản 1, mục a) quy định thành viên BKS không được là “vợ hoặc chồng, cha, cha nuôi, mẹ, mẹ nuôi, con, con nuôi, anh, chị, em ruột của thành viên HĐQT, TGĐ/GĐ và người quản lý khác”. Tuy nhiên, mối quan hệ thân thiết với các thành viên HĐQT, TGĐ/GĐ không chỉ là các thành phần trên mà còn nhiều quan hệ khác như chú, bác, cô, dì ruột, anh, em nhà chú bác, cô, dì, anh, em vợ (chồng)… Nhiều công ty đã lợi dụng kẽ hở này để đưa người thân vào BKS nhằm có thêm tiếng nói ủng hộ hơn là để kiểm soát.

Continue reading

RỐI RẮM CHẾ TÀI DÂN SỰ, THƯƠNG MẠI

NGUYÊN TẤN

Không phải không có lý khi mới đây Đại học Luật TPHCM tổ chức hẳn một cuộc hội thảo với chuyên đề “Không thực hiện đúng hợp đồng trong pháp luật thực định Việt Nam”. Các chuyên gia cho rằng quy định của pháp luật về các biện pháp chế tài trong cả lĩnh vực dân sự lẫn thương mại vẫn còn nhiều bất cập, gây không ít lúng túng cho việc áp dụng, thực thi.

Những khác biệt khó hiểu

Bà Lê Mai Hương, giảng viên Học viện Tư pháp, kể lại câu chuyện như sau. Cách đây không lâu bà được một nhà thầu nhờ tư vấn để giúp họ giải quyết tranh chấp. Nguyên nhà thầu này đã thực hiện gần xong một công trình, tuy nhiên phía chủ đầu tư lại dây dưa, không chịu thanh toán tiền cho đối tác của mình. Nhà thầu hỏi liệu họ có quyền làm rào chắn ngăn không cho chủ đầu tư tiếp cận công trình được không? Tìm hiểu Bộ luật Dân sự 2005 (BLDS 2005) và Luật Thương mại 2005 (LTM 2005), bà Hương phát hiện ra một vấn đề lý thú: trong khi điều 416, BLDS 2005 có quy định về chế tài cầm giữ tài sản thì chế tài này lại hoàn toàn vắng bóng trong tất cả bảy biện pháp chế tài được quy định tại điều 292, LTM 2005.

Câu hỏi đặt ra là liệu có thể áp dụng chế tài cầm giữ tài sản đối với mọi hợp đồng thương mại hay không? Ý kiến thứ nhất khẳng định là có thể vì BLDS 2005 sẽ được áp dụng khi các luật chuyên ngành không quy định một vấn đề nào đó. Tuy nhiên, ý kiến khác lại cho rằng điều 292 LTM 2005 là một quy định khác biệt về chế tài thương mại; do đó nếu điều 292 LTM 2005 không nói về cầm giữ tài sản thì không thể áp dụng chế tài trong thương mại.

Trên đây chỉ là một trong những trường hợp cho thấy sự thiếu đồng bộ, thậm chí đến mức khó hiểu, trong các quy định liên quan đến chế tài giữa BLDS 2005 và LTM 2005 – hai đạo luật trụ cột điều chỉnh các quan hệ dân sự và thương mại của xã hội.

Continue reading

“VẬN DỤNG” LUẬT PHÁP – SOS!

LS. TRẦN THỊ PHỤNG

Luật sư Nguyễn Ngọc Bích (Công ty Luật Hợp danh DC) dẫn lời bài viết “ Biết – hiểu – và vận dụng luật” (Bản Tin Luật Sư số tân niên ngày 13.3.2010) rằng ông viết bài này nhằm chỉ “cho các bạn đang tập sự, để bạn biết mình đang ở mức độ nào trong nghề nghiệp của mình và biết phải trau dồi thêm về mặt nào trong 18 tháng vác củi”.

Tôi không nghĩ như vậy khi đọc xong bài viết của ông, bởi những nội dung mà ông thể hiện trong bài viết có thể cũng là “bí mật” mà nhiều người chưa biết (không chỉ có người tập sự luật sư ) ví như điều “bí mật” của luật pháp mà ông đã đề cập đến. Tôi đặt vấn đề này không nhằm “dám” trao đổi “song phương” với bậc đại thụ về những nguyên tắc “bất di, bất dịch” của luật pháp, lại càng không phải muốn tranh luận hay phản biện với những tâm huyết thật bình dị mà sâu sắc của tác giả đã muốn gởi gắm trong bài viết của mình. Vậy nên, tôi chỉ cảm thấy muốn được chia sẻ nhiều hơn những cái bất cập từ thực tế của luật pháp, và tin chắc rằng những trăn trở ấy không chỉ riêng tôi.

Có chăng “bí mật” ngoài luật pháp?

“Luật là thực tế!” Vâng. Cũng biết rằng mục đích chính của luật pháp là duy trì trật tự xã hội, tạo sự an tâm của mọi người hôm nay và mai sau, vì thế các nhà làm luật luôn mong muốn sử dụng một kỹ thuật hoàn hảo để có thể dễ dàng ứng dụng nó vào trong cuộc sống, nhằm bảo vệ nhu cầu chính đáng của xã hội. Người biết luật là người biết cả những kỹ thuật mà luật sử dụng. Đọc một văn bản quy phạm pháp luật, biết văn bản đó điều chỉnh những vấn đề nào, các quan hệ nào, đối tượng nào …điều đó giúp chúng ta tiếp cận vấn đề dễ dàng hơn. Thế nhưng, đôi khi nếu chỉ dựa vào phạm vi điều chỉnh, đối tượng điều chỉnh mà luật đã ban hành dường như chưa thuyết phục lắm, bởi sự chồng chéo, mâu thuẫn của “luật trước” với “luật sau”, luật “trong” với luật “ngoài” (quốc tế) cả việc xác định cái “tư cách” pháp lý hay “địa vị” pháp lý nào đó thì luật pháp dường như cũng bó tay trước những diễn biến và tác động của cuộc sống thực tế vẫn diễn ra mỗi ngày. Cứ thế, luật pháp chạy theo đến mỏi chân mà không thấy tới. Trong khi đó những người đi cùng luật pháp vẫn vừa chạy nhưng lại vừa cố tìm cách nào đễ “chạy” nhanh nhất.

Continue reading

MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ LUẬT TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC

TS. LS. NGUYỄN ĐĂNG LIÊM – Trưởng văn phòng luật sư Quang Trung

Nhu cầu bồi thường thiệt hại cho các công dân, các tổ chức là nghĩa vụ, trách nhiệm của một nhà nước dân chủ, “Nhà nước của dân, do dân và vì dân”, thể hiện sự bình đẳng, đối xử công bằng của pháp luật đối với các cơ quan Nhà nước, cán bộ, công chức và mọi công dân.

Trước đây do sự bức xúc của xã hội công dân trước những hậu quả thiệt hại cho công dân và xã hội xuất phát từ những hành xử, việc làm của một số cán bộ, công chức vô tình hay cố ý gây ra, trong tình hình còn thiếu các văn bản luật pháp qui định, Nhà nước Việt Nam đã có sáng kiến đáp ứng giải quyết có tính chất tình thế, nhất là trong lĩnh vực tố tụng hình sự, bằng hai văn bản: Nghị định số 47/CP ngày 03/05/1997 của Chính phủ về việc giải quyết bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra cùng một số văn bản hướng dẫn thi hành và nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH11 ngày 17/3/2003 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra. Việc ưu tiên ban hành sớm các văn bản pháp luật trên, do quan tâm trước hết về việc bồi thường các oan sai trên lĩnh vực tố tụng hình sự là hoàn toàn đúng đắn và thể hiện tính cấp bách, vì sự oan sai này sẽ đưa đến những hậu quả hết sức nghiêm trọng vì xâm phạm đến nhân thân, danh dự và cả tính mạng con người. Các văn bản đó mang tính chữa cháy hết sức cần thiết trong giai đoạn còn thiếu luật. Và trong thời gian qua, kết hợp hai văn bản trên với các qui định của Luật Hình sự, Luật Dân sự và cả Luật khiếu nại, tố cáo, các cơ quan thẩm quyền Nhà nước (trong đó có cả cơ quan công an, viện kiểm sát nhân dân và tòa án nhân dân) đã bước đầu giải quyết được một số vụ bồi thường thiệt hại về oan sai trong lĩnh vực tố tụng hình sự, cũng như một số thiệt hại trên lĩnh vực dân sự, quản lý hành chính về đất đai, thậm chí tiến xa hơn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với số cán bộ, công chức có hành vi gây thiệt hại lớn, thiệt hại nghiêm trọng cho công dân, cho đơn vị tổ chức và doanh nghiệp ngoài nhà nước.

Continue reading