Posted on 09/10/2008 by Civillawinfor
THS. NGUYỄN XUÂN QUANG – ĐH Luật TP. Hồ Chí Minh
Trên Tạp chí Khoa học pháp lý số 1(38)/2007 có đăng bài “Tác động của các hình thức lỗi đến việc xác định trách nhiệm hợp đồng nhìn từ góc độ trung thực và thiện chí” của hai tác giả TS Dương Anh Sơn và ThS Nguyễn Ngọc Sơn. Trong bài viết trên, các tác giả đã đề cập đến vấn đề xác định thời hiệu trong Bộ luật Dân sự(BLDS). Theo đó, những kiến nghị mà các tác giả đưa ra có thể nói, đã đề xuất một cách tiếp cận khá mới mẻ so với phương pháp tiếp cận truyền thống ở nước ta về vấn đề thời hiệu đã được thừa nhận trong BLDS. Cách tiếp cận mới này có thể mở ra một chiều tư duy mới về vấn đề xác định thời điểm khởi kiện về giao dịch vô hiệu cũng như thời điểm khởi kiện các tranh chấp dân sự nói chung.
Một mặt đánh giá cao phương pháp tiếp cận trên cũng như những nội dung khác của bài viết. Mặt khác, sau khi đọc bài viết này chúng tôi thấy còn một số vấn đề cần trao đổi lại với các tác giả trên quan điểm khoa học về những ý kiến mà các tác giả đưa ra.Cụ thể là vấn đề các vấn đề sau:
Thứ nhất, về thời điểm tính thời hiệu khởi kiện xin tuyên bố giao dịch vô hiệu tại các Điều 130, 131, 132, 133 và 134 BLDS trong trường hợp lừa dối, đe dọa.
– Đối với trường hợp khởi kiện xin tuyên bố giao dịch vô hiệu do bị lừa dối. Các tác giả cho rằng lừa dối là hành vi có chủ định được che dấu một cách rất khôn khéo nên bên bị lừa dối đã không thể biết được khi giao kết. Theo đó, thời hiệu khởi kiện là hai năm kể từ thời điểm giao kết là không hợp lý. Thời điểm hai năm tính thời hiệu cần phải quy định tính từ khi bên bị lừa dối biết được hay buộc phải biết được là mình bị lừa dối thì sẽ chính xác hơn.
Continue reading →
Filed under: LDS - Hợp đồng | Leave a comment »
Posted on 09/10/2008 by Civillawinfor
VI TRẦN
Theo nguyên đơn, người giải phẫu cấy túi ngực cam đoan “an toàn tuyệt đối vĩnh viễn” nhưng chỉ được một năm, túi đã bị “xì” làm chủ nhân khổ sở đủ đường… Sau gần ba năm bị cái túi nước biển trong ngực hành hạ, cũng gần từng ấy thời gian đi khiếu nại không có kết quả, mới đây chị NTNT đã đâm đơn ra TAND quận 5 (TP.HCM) yêu cầu ông Nguyễn Xuân Ái – người đặt túi ngực cho chị phải bồi thường 8.700 USD.
Cam đoan “an toàn vĩnh viễn”?
Theo chị T. (ngụ quận Bình Thạnh), trước đây chị có bộ ngực không đến nỗi nào nhưng ngặt nỗi nó bị “nhất bên trọng, nhất bên khinh” nên chị muốn chỉnh trang lại bởi “là phụ nữ ai cũng muốn mặc đồ cho đẹp”.
Cuối năm 2005, tìm hiểu nhiều nơi, thấy trên các phương tiện thông tin quảng cáo ì xèo về thẩm mỹ viện Á Châu tại đường Thủ Khoa Huân (quận 1) do ông Ái làm giám đốc, chị tìm đến. Trước hàng loạt danh xưng rất kêu của ông Ái như tiến sĩ y khoa chuyên khoa giải phẫu thẩm mỹ đã tốt nghiệp tại Hoa Kỳ và Nhật Bản, viện sĩ Viện giải phẫu thẩm mỹ quốc tế và Hoa Kỳ, thành viên hội giải phẫu thẩm mỹ ngực và hút mỡ Hoa Kỳ, chị T. rất tin tưởng.
Continue reading →
Filed under: CÂU CHUYỆN PHÁP LUẬT, LDS - Tình huống thực tiễn | Leave a comment »
Posted on 09/10/2008 by Civillawinfor
PGS.TS. PHẠM HỮU NGHỊ – Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật
Bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trường gây ra còn là vấn đề mới ít được nghiên cứu ở Việt nam. Bài viết này đề cập các quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường; chủ thể chịu trách nhiệm và điều kiện phát sinh trách nhiệm do làm ô nhiễm môi trường; các tiêu chí xác định ô nhiễm và phương pháp xác định thiệt hại để tính mức bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trường gây ra.
I Các quy định pháp luật về trách nhiệm bồi thương thiệt hại trong lĩnh vực môi trường
Luật Bảo vệ môi trường được Quốc hội thông qua ngày 27-12-1993, có hiệu từ ngày 10/1/1994 là văn bản pháp luật chủ yếu trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Đạo luật này đưa ra những nguyên tắc về bảo vệ môi trường như: Bảo đảm quyền con người sống trong môi trường trong lành; Nhà nước thống nhất quản lý việc bảo vệ môi trường; Bảo vệ môi trường để phát triển bền vững; Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn dân; Sử dụng các thành phần môi trường phải trả tiền và trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trường gây nên… Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 có các quy định về phòng, chống, khắc phục suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường và sự cố môi trường. Nó quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan Nhà nước trong việc bảo vệ môi trường. Đạo luật này cũng xác lập những cơ sở pháp lý của trách nhiệm hành chính và trách nhiệm dân sự trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
Continue reading →
Filed under: Trách nhiệm dân sự | 1 Comment »
Posted on 09/10/2008 by Civillawinfor
HÀ TRẦN
Nếu bạn cộng tổng ngân sách hàng năm của 142 nước, trong đó có Cuba, Jordan và Lithuania thì cũng chưa tới 19,2 tỷ USD nhưng riêng trong năm 2000, tổng giá trị tài sản của trường đại học Harvard đã đạt tới mức này. Năm 1999, tổng giá trị tài sản của Harvard là 14,4 tỷ USD. Đây là một năm cực kỳ thành công của trường, giá trị tài sản của Harvard tăng gần 1/3. Điều kinh ngạc là riêng phần tăng thêm đã đạt 4,8 tỷ USD lớn hơn giá trị tài sản của một số trường đại học hàng đầu nước Mỹ, trong đó có Học viện Công nghệ Massachuset (4,3 tỷ USD), trường đại học Columbia (3,6 tỷ USD) và trường Darthmouth (1,7 tỷ USD). Vậy Harvard làm thế nào để đạt được thành công lớn như vậy?
Học phí tại Harvard rất cao nhưng nhiều người vẫn sẵn sàng trả tiền để được học. Lý do bởi càng thông minh thì họ càng có khả năng kiếm được nhiều tiền. Càng kiếm được nhiều tiền thì họ càng tin tưởng trường Harvard.
Harvard cực kỳ chú trọng vào chất lượng giảng dạy. Các giáo sư thường áp dụng những phương pháp huấn luyện giảng viên nghiêm khắc. Mỗi giảng viên thường có vài cố vấn dày dạn kinh nghiệm, chuyên sâu các lĩnh vực khác nhau trong hệ thống giảng dạy của Harvard giúp đỡ.
Continue reading →
Filed under: Kinh nghiệm đào tạo | Leave a comment »
Posted on 09/10/2008 by Civillawinfor
MINH AN (Tổng hợp)
Trong kinh doanh, để có được khách hàng, khá nhiều công ty không ngần ngại đưa ra các hình thức ưu đãi và giảm giá. Nhưng đó lại là con dao hai lưỡi, nếu bạn dành cho khách hàng những điều kiện ưu đãi thanh toán mà không có đủ thông tin về họ hay sơ hở trong việc kết hợp điều kiện cơ sở giao hàng với phương thức thanh toán không đủ sức ràng buộc trách nhiệm của người mua hàng thì rủi rõ sẽ vô cùng lớn.
Là hãng kinh doanh đồ điện lạnh khá uy tín tại Pháp, Jean Francois Co.Ltd đã mở rộng thị trường của công ty sang nhiều thị trường lớn tại châu Á như Hồng Kông, Ấn Độ, Nhật Bản,… Hãng rất chú trọng đến việc khai thác và phát triển thị trường Trung Quốc, một thị trường đầy tiềm năng và rất rộng lớn.
Từ tháng 4 năm 2004, sau nhiều nỗ lực, Jean Francois đã có được những hợp đồng xuất khẩu đầu tiên sang Trung Quốc cho một doanh nghiệp thương mại Trung Quốc là công ty Limex Shanghai. Những hợp đồng suôn sẻ ngày càng thắt chặt mối quan hệ thân tình giữa Jean Francois và Limex Shanghai. Không những thế, qua lời giới thiệu của một số doanh nhân Pháp sống tại Trung Quốc thì Limex Shanghai cũng là doanh nghiệp khá có uy tín, nên Jean Francois hoàn toàn yên tâm trong các giao dịch sau đó.
Continue reading →
Filed under: LDS - Hợp đồng, LTM - Hợp đồng thương mại | Leave a comment »
Posted on 08/10/2008 by Civillawinfor
NGUYỄN HỒNG HẢI
Tài sản của vợ chồng trong pháp luật về hôn nhân và gia đình (HN&GĐ) của các nước trên thế giới được qui định gắn liền với các điều kiện kinh tế – xã hội, chế độ sở hữu, truyền thống, phong tục, tập quán, tâm lý, nguyện vọng của người dân… Do đó, giữa các nước khác nhau thường có những qui định khác biệt về tài sản của vợ chồng. Tuy nhiên, về cơ bản tài sản của vợ chồng được xác định dựa trên hai căn cứ: Sự thoả thuận bằng văn bản của vợ chồng (chế độ tài sản ước định) và theo các qui định của pháp luật (chế độ tài sản pháp định).
1. Tài sản của vợ chồng được xác định dựa trên cơ sở hôn ước – Chế độ tài sản ước định
Hôn ước (hôn khế) là sự thoả thuận bằng văn bản (hợp đồng) do vợ chồng lập trước khi kết hôn để qui định chế độ tài sản của vợ chồng trong suốt thời kỳ hôn nhân (1). Nội dung của hôn ước thường xác định tài sản của vợ chồng, quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản đó cũng như trong việc thực hiện các giao dịch giữa họ với người thứ ba.
Continue reading →
Filed under: Quan hệ tài sản giữa cha mẹ-con, Quyền sở hữu | Leave a comment »
Posted on 08/10/2008 by Civillawinfor
THS. NGUYỄN HỒNG HẢI – Khoa Luật dân sự, Đại học Luật Hà Nội
Tài sản của vợ chồng trong pháp luật về hôn nhân và gia đình (HN&GĐ) của các nước trên thế giới được qui định gắn liền với các điều kiện kinh tế – xã hội, chế độ sở hữu, truyền thống, phong tục, tập quán, tâm lý, nguyện vọng của người dân… Do đó, giữa các nước khác nhau thường có những qui định khác biệt về tài sản của vợ chồng. Tuy nhiên, về cơ bản tài sản của vợ chồng được xác định dựa trên hai căn cứ: Sự thoả thuận bằng văn bản của vợ chồng (chế độ tài sản ước định) và theo các qui định của pháp luật (chế độ tài sản pháp định).
1. Tài sản của vợ chồng được xác định dựa trên cơ sở hôn ước – Chế độ tài sản ước định
Hôn ước (hôn khế) là sự thoả thuận bằng văn bản (hợp đồng) do vợ chồng lập trước khi kết hôn để qui định chế độ tài sản của vợ chồng trong suốt thời kỳ hôn nhân (1). Nội dung của hôn ước thường xác định tài sản của vợ chồng, quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản đó cũng như trong việc thực hiện các giao dịch giữa họ với người thứ ba.
Continue reading →
Filed under: Quan hệ tài sản giữa cha mẹ-con, Quyền sở hữu | Leave a comment »
Posted on 08/10/2008 by Civillawinfor
ĐẶNG ĐỨC SAN – Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội
I. Khái niệm
Ở Việt Nam, thuật ngữ “an sinh xã hội” được xuất hiện vào những năm 70 trong một số cuốn sách nghiên cứu về pháp luật của mọt số học giả Sài Gòn. Sau năm 1975, thuật ngữ này được dùng nhiều hơn và đặc biệt là từ những năm 1995 trở lại đây nó được dùng rộng rãi hơn.
Tuy vậy, từ tiếng Anh (Social Security) mỗi người lại sử dụng thành những từ khác nhau (mặc dù nội dung đều hiểu như nhau) do đó ta thấy xuất hiện các thuật ngữ: “an sinh xã hội”, “an toàn xã hội”, “an ninh xã hội”, “bảo đảm xã hội”… Theo tôi dùng các cụm từ “an toàn xã hội” hoặc “an ninh xã hội” sẽ sát nghĩa hơn, nhưng vì dùng các thuật ngữ này ở nước ta dễ hiểu sang các lĩnh vực khác, ví như: trật tự an toàn xã hội, trật tự an ninh quốc gia… Do vậy, đành tạm chấp nhận thuật ngữ “an sinh xã hội” để cùng trao đổi.
Điều đầu tiên cần phải làm rõ: “an sinh xã hội” nghĩa là gì ? Theo ILO, đó là: Sự bảo vệ mà xã hội thực hiện đối với các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng để chống lại sự cùng quẫn về kinh tế và xã hội dẫn đến sự chấm dứt hay giam sút đáng kể về thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, mất việc làm, mất sức lao động, tuổi già hoặc cái chết; những dịch vụ về chăm sóc y tế và những quy định về hỗ trợ đối với những gia đình có con nhỏ gặp phải khó khăn trong cuộc sống.
Continue reading →
Filed under: PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG VÀ ASXH | 2 Comments »
Posted on 08/10/2008 by Civillawinfor
TS. TRẦN VĂN GIAO – Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
Xử lý bội chi ngân sách nhà nước (NSNN) là một vấn đề nhạy cảm, bởi nó không chỉ tác động trước mắt đối với nền kinh tế mà còn tác động đến sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đang có những biến động lớn như: giá dầu tăng cao, khủng hoảng tài chính tại Mỹ, tình trạng lạm phát diễn ra nhiều nước trên thế giới, vấn đề kiềm chế lạm phát đặt ra vô cùng cấp bách không chỉ ở Việt Nam. Vậy xử lý bội chi NSNN như thế nào để ổn định vĩ mô, thực hiện hiệu quả các mục tiêu chiến lược về phát triển kinh tế – xã hội, tăng trưởng kinh tế và kiềm chế lạm phát hiện nay?
1 – Bội chi NSNN và các giải pháp xử lý
Bội chi NSNN trong một thời kỳ (1 năm, 1 chu kỳ kinh tế) là số chênh lệch giữa chi lớn hơn thu của thời kỳ đó. Nhưng thu gồm những khoản nào, chi gồm những khoản gì? Theo thông lệ quốc tế, có thể tóm tắt báo cáo về NSNN hằng năm như sau:
Bảng: Tóm tắt nội dung cân đối ngân sách nhà nước hằng năm
|
Thu
|
Chi
|
|
A. Thu thường xuyên (thuế, phí, lệ phí).
B. Thu về vốn (bán tài sản nhà nước).
C. Bù đắp thâm hụt.
– Viện trợ.
– Lấy từ nguồn dự trữ.
Vay thuần (= vay mới – trả nợ gốc).
|
D. Chi thường xuyên.
E. Chi đầu tư.
F. Cho vay thuần
(= cho vay mới – thu nợ gốc).
|
Continue reading →
Filed under: LUẬT TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG | 12 Comments »
Posted on 08/10/2008 by Civillawinfor
NGUYỄN THỊ LỢI
Cát xê từ 30.000 đồng đến 40.000 đồng một buổi học, việc học thuê gần đây đã trở thành một nghề khá phổ biến trong các giảng đường đại học.
Đột nhập giảng đường lạ
Nguyễn Thị Thủy (Bắc Giang) một cô bạn học trường Ngoại thương rủ đi học cùng một buổi, thấy tôi còn băn khoăn Thủy nói: yên tâm đi, cứ coi như là đi chơi thôi mà. Tôi ngại cô giáo của Thủy phát hiện tôi là người lạ đột nhập vào giảng đường nhưng Thủy khẳng định: biết làm sao được, chẳng ai thèm để ý đâu!
Đi một hồi chúng tôi dừng lại tại cổng trường Đại Học Thương Mại chứ không phải trường Đại học Ngoại thương nơi Thủy đang theo học. Thủy phân trần: tao đi học hộ một chị đang học hệ Tại chức ở trường này!
Mọi sự lo lắng của tôi quả là thừa, lớp có khoảng 30 sinh viên nhưng chẳng ai để ý đến một kẻ lạ mặt đang đi vào lớp, việc ai nấy làm. Thủy và tôi đường hoàng vào chỗ ngồi học.
– Em mới đến à? Đi học hộ ai vậy? Một chị sinh viên ngồi cạnh tôi hỏi rất tự nhiên.
Continue reading →
Filed under: CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI, Kinh nghiệm học tập | Leave a comment »
Posted on 08/10/2008 by Civillawinfor
THÁI BÌNH
Một lô đất được mang “gả” tùm lum chỗ! Lời khai lại của ông Phố đã làm thay đổi bản chất vụ án, biến ông từ có tội thành vô tội dù những lời khai này đều bị bà Hồng bác bỏ.
Bị cáo bán một lô đất cho nhiều người, bị tòa sơ thẩm kết án lừa đảo. Cấp phúc thẩm hủy án, yêu cầu xử nặng hơn nhưng cơ quan điều tra đình chỉ vụ án. Đó là ông Trần Hoàng Phố, ngụ phường Trung Dũng, TP Biên Hòa (Đồng Nai). Trước đó, chính ông Phố đã đến công an tự thú hành vi lừa đảo rồi bị xử lý hình sự.
Tự biết mình sai
Theo hồ sơ, năm 2000, ông Phố được UBND tỉnh Đồng Nai cấp hơn 100 m2 đất ở phường Tân Mai (TP Biên Hòa). Hơn một năm sau, ông bán giấy tay cho bà Hồng với giá gần 20 lượng vàng và cam kết sẽ làm thủ tục sang tên. Hơn hai tháng sau, ông tiếp tục bán giấy tay lô đất này cho ông Hải với giá tương tự rồi ông Hải lại đem bán cho người khác.
Continue reading →
Filed under: CÂU CHUYỆN PHÁP LUẬT, LDS - Tình huống thực tiễn | Leave a comment »
Posted on 07/10/2008 by Civillawinfor
Các văn bản do chính phủ và cơ quan trực thuộc chính phủ đều qui định: Nghị định/thông tư …. có hiệu thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.
Như vậy, người dân – chủ thể trực tiếp chịu tác động bởi các qui định trong các văn bản này, muốn biết chúng có hiệu lực đối với mình khi nào thì buộc phải tìm hiểu, tra cứu số công báo đã đăng văn bản và ngày đăng công báo?
Trên thực tế, công báo là thuật ngữ quá xa lạ và là hàng “xa xỉ phẩm” đối với đại đa số người dân!?
Nếu đây là qui định mang tính thói quen thì cần phải thay đổi. Nếu đó là nguyên tắc, thì phải chăng đây là một trong những dấu hiệu không minh bạch của pháp luật???
Civillawinfor
Filed under: Cùng suy ngẫm | 1 Comment »
Posted on 07/10/2008 by Civillawinfor
THS. BÙI MINH HỒNG – Khoa Luật dân sự – Đại học Luật HN (NCS tại CH Pháp)
Trong đời sống giao lưu dân sự, kinh tế, có rất nhiều chủ thể mang tư cách vợ (hoặc chồng). Việc thực hiện những quan hệ này còn phải tuân theo những quy định của Luật hôn nhân và gia đình về chế độ tài sản của vợ chồng. Tuy nhiên, thực tiễn lập pháp và nghiên cứu ở Việt Nam về vấn đề này dường như còn khá mới mẻ. Qua nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy Pháp luật của Cộng hoà Pháp có nhiều quy định quan trọng mà chúng ta có thể tham khảo. Trong bài viết này, tác giả chỉ tập trung giới thiệu về “Sự hợp tác của vợ và chồng trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh”, mà tác giả cho rằng chúng có thể có giá trị cho sự hoàn thiện pháp luật Việt Nam phù hợp với đà phát triển của xã hội.
I. Những quy định của luật chung liên quan đến các hoạt động nghề nghiệp của vợ chồng
1.1. Quyền tự chủ của vợ, chồng về nghề nghiệp
Trong phần quy định về các nghĩa vụ và quyền của vợ và chồng, Bộ luật dân sự (BLDS) đã ghi nhận một quyền rất quan trọng cho mỗi bên vợ chồng: quyền tự chủ về nghề nghiệp. Điều 233 quy định: “Mỗi bên vợ chồng có quyền tự do thực hiện nghề nghiệp, thu những món lợi và tiền lương và định đoạt nó sau khi đã đóng góp trách nhiệm đối với đời sống chung”. Sự tự chủ về nghề nghiệp có ý nghĩa đảm bảo cho vợ, chồng thực hiện được trách nhiệm của mình đối với đời sống gia đình nhưng không phá vỡ trật tự của hoạt động về nghề nghiệp đã được tiến hành từ trước khi kết hôn hoặc được thiết lập trong thời kỳ hôn nhân. Hơn nữa, quy định này còn mang một giá trị là nhằm giải phóng và phát triển năng lực của cá nhân.
Continue reading →
Filed under: Quan hệ tài sản giữa cha mẹ-con, Xã hội, nhà nước và pháp luật nước ngoài | Leave a comment »
Posted on 07/10/2008 by Civillawinfor
TS. DƯƠNG ANH SƠN – Khoa Kinh tế – Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh
THS. NGUYỄN NGỌC SƠN – Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh
1. Đặt vấn đề: Trung thực, thiện chí là một trong những nguyên tắc nền tảng của việc ký kết và thực hiện hợp đồng, được ghi nhận không những trong pháp luật hợp đồng của Việt Nam mà còn được quy định trong pháp luật của nhiều nước[1]. Giữa hành vi vi phạm hợp đồng với nguyên tắc nói trên tồn tại mối quan hệ tương hỗ. Chúng tôi cho rằng, vi phạm hợp đồng cố ý là biểu hiện của sự không trung thực, thiện chí, còn không cố ý vi phạm hợp đồng có thể không vì không thiện chí, trung thực.
Lý thuyết về hợp đồng mà pháp luật của Việt Nam và pháp luật của các nước thuộc hệ thống pháp luật châu Âu lục địa sử dụng đã chỉ ra rằng, lỗi là một trong những căn cứ để xác định trách nhiệm pháp lý nói chung và trách nhiệm do vi phạm hợp đồng nói riêng. Trong khi đó pháp luật của các nước thuộc hệ thống pháp luật Anh-Mỹ lại không coi lỗi là một trong các yếu tố để xác định trách nhiệm hợp đồng. Sự khác biệt nói trên có lẽ là do truyền thống pháp luật, truyền thống được hình thành từ các nguồn gốc không giống nhau. Các văn bản pháp lý quốc tế về hợp đồng, ví dụ Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, có lẽ để hài hòa giữa hai hệ thống pháp luật nói trên, thay vì xác định bên vi phạm có lỗi hay không đã xác định hành vi vi phạm hợp đồng có phải là hậu quả của tình huống bất khả kháng hay không.
Continue reading →
Filed under: LDS - Hợp đồng | Leave a comment »
Posted on 07/10/2008 by Civillawinfor
TƯỞNG DUY LƯỢNG – Chánh tòa Dân sự, Tòa án nhân dân tối cao
1. Phải xác định giá trị quyền thuê nhà ở thuộc sở hữu nhà nước là tài sản chung của vợ chồng
Trong nhiều vụ án ly hôn, hai bên đương sự tranh chấp với nhau về quyền thuê nhà của Nhà nước. Đương sự nào cũng yêu cầu được sử dụng diện tích nhà đang thuê củaNhà nước. Đối với trường hợp vợ chồng vừa có quyền sở hữu nhà đất, vừa có diện tích nhà thuê của Nhà nước thì trước năm 2001 các tòa án đều không coi quyền thuê nhà của Nhà nước là tài sản chung của vợ chồng. Sau năm 2001, mặc dù đã có Nghị định 70/2001/NĐ-CP ngày 3/10/2001 của Chính phủ nhưng khi giải quyết, nhiều tòaán vẫn tỏ ra lúng túng, có không ít trường hợp tòa án không coi quyền thuê nhà là tài sản chung vợ chồng, nên không xác định giá trị để chia. Đây là một điều không hợp lý, dưới đây là một ví dụ:
Chị Phạm Thị Thanh, trú tại 38 Đại lộ Hồ Chí Minh, thành phố HD ly hôn anh Nguyễn Đình Chuyền, hiện đang cư trú tại Cộng hòa Liên bang Nga.
Continue reading →
Filed under: Quan hệ tài sản giữa cha mẹ-con | Leave a comment »
Posted on 07/10/2008 by Civillawinfor
HOÀNG LÊ – VĂN ĐOÀN
Sau hơn sáu năm vướng vào vòng tố tụng hình sự, đương sự giờ đã tự do nhưng vẫn chưa được bồi thường oan. Đó là trường hợp của ông Võ Đình Dũng, ngụ thị trấn Thác Mơ, huyện Phước Long, tỉnh Bình Phước.
Không phạm tội tham ô
Trước đây, ông Dũng là nhân viên của Công ty Thương nghiệp huyện Phước Long. Ông Dũng có nhiệm vụ thu mua và sơ chế hạt điều cho công ty. Tháng 11-1990, khi phát hiện đã chi lố cho ông Dũng hơn chín triệu đồng, công ty đã nhiều lần làm việc với ông Dũng nhưng ông Dũng không chấp nhận khoản nợ này.
Đầu năm 1991, VKSND huyện Phước Long ra quyết định khởi tố bị can Dũng về tội tham ô tài sản XHCN và tạm giam bị can hai tháng. Đến tháng 5-1991, ông Dũng mới được trả tự do. Trong thời gian bị tạm giam, ông Dũng không được các cơ quan điều tra lấy lời khai theo quy định và bị bỏ quên thêm 69 ngày nữa mà không hề có lệnh gia hạn việc tạm giam. Sau đó, ông không hề nhận được giấy triệu tập đến làm việc. Mãi đến cuối tháng 11-1997, Công an huyện Phước Long mới có bản kết luận điều tra cho rằng bị can Dũng đã có hành vi phạm tội chiếm giữ trái phép tài sản XHCN (không phải tội tham ô tài sản XHCN như lúc đầu khởi tố). Tuy nhiên, do thời hạn điều tra đã hết, tội phạm lại ít nghiêm trọng, các cơ quan pháp luật không xử lý hình sự ông Dũng nữa mà chuyển hồ sơ sang TAND huyện xét xử dân sự. Cũng trong ngày, Công an huyện Phước Long đã ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án, đình chỉ điều tra bị can Dũng.
Continue reading →
Filed under: CÂU CHUYỆN PHÁP LUẬT, LDS - Tình huống thực tiễn | Leave a comment »
Posted on 07/10/2008 by Civillawinfor
TS. NGUYỄN ĐÌNH LIÊU – Thứ trưởng Bộ Lao động TBXH
Việt Nam là nước nằm ở khu vực Đông Nam á với diện tích trên 331 ngàn Km, dân số 77.686.000 người. Người có công với cách mạng theo qui định của pháp luật khoảng 6,3 triệu người, chiếm tỷ lệ trên 8 % dân số. Từ năm 1990 trở lại đây, nhịp độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam khá cao và tương đối ổn định, đời sống của đại bộ phận dân cư được nâng lên, trong đó có nhóm đối tượng của hệ thống an sinh xã hội như người có công, người nghỉ hưu trí, người nghỉ do mất sức lao động, người già cô đơn, người tàn tật….
Song nhìn chung Việt Nam vẫn là một nước nghèo, thu nhập binh quân tính theo đầu người năm 1998 chỉ đạt 335 USD, năm 2000 đạt 400 USD; bên cạnh đó lại thường xuyên phải gánh chịu hậu quả hết sức khốc liệt của thiên tai, bão lụt, hạn hán và chịu tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực… Điều đó đã ảnh hưởng khá gay gắt đến việc thực hiện các chính sách trong hệ thống an sinh xã hội. Kết hợp hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển xã hội trên nguyên tắc công bằng và tiến bộ xã hội là mối quan tâm hàng đầu của Đảng, Nhà nước. Chính vì vậy ngay từ khi giành được độc lập, thiết lập nền dân chủ cộng hoà cho tới nay, đặc biệt qua hơn 10 năm đổi mới, chúng ta đã từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội, tạo môi trường pháp lý hành chính thuận lợi bằng việc ban hành chính sách, cơ chế, giải pháp để để bảo đảm cuộc sống của các nhóm đối tượng, đặc biệt là nhám đối tượng ưu đãi xã hội.
Continue reading →
Filed under: PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG VÀ ASXH | Leave a comment »
Posted on 07/10/2008 by Civillawinfor
TRẦN ANH TÚ – Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
I. Phần mở đầu
Pháp luật về bảo vệ các di tích lịch sử ở Thuỵ điển đã có từ rất lâu. Từ năm 1966 đã có “Tuyên ngôn có hiệu lực pháp luật theo đặc quyền của Hoàng gia về di tích lịch sử và cổ vật”. Theo đó, việc can thiệp vào các di tích cổ bị nghiêm cấm, các di tích cổ phải được bảo vệ, gìn giữ để ghi lại những thành tựu của tổ tiên, đặc biệt là những tiến bộ, sự phát triển của Hoàng gia. Các huyệt mộ, các đồ đá mà trên đó có viết bằng các chữ cổ, các toà nhà bị hư hỏng và các di sản còn lại của quá khứ phải được giữ gìn, bảo vệ khỏi sự can thiệp bên ngoài.
Tính từ đó, số lượng các văn bản pháp luật luôn luôn được bổ sung và sửa đổi, thay thế bằng các văn bản mới. Tuy nhiên, các nội dung cốt lõi của vấn đề vẫn được giữ lại, như: Các yếu tố vật chất của di sản văn hoá phải được giữ gìn, nếu như có sự can thiệp cần thiết từ bên ngoài đến một di tích lịch sử thì sự thay đổi về kích thước, hình dáng của di tích phải được các nhà chức trách có trách nhiệm xem xét và quyết định; những thành phần bị thay đổi hoặc mất đi phải được ghi lại và lưu trữ một cách thận trọng. Những thay đổi lớn đối với các di tích phải tuân theo các quy định của luật pháp. ở đây có sự khác nhau về quan điểm đối với các di vật, di tích đã hoàn toàn bỏ đi và không còn giá trị kinh tế song các giá trị về cấu trúc của nó vẫn tồn tại trong xã hội. Vì vậy, các điều luật về bảo vệ các di sản khảo cổ được ban hành sớm hơn các điều luật bảo vệ các giá trị kiến trúc. Tuy vậy, các giá trị kiến trúc của các nhà thờ thu hút được sự chú ý giám sát, bảo vệ của các nhà chức sắc tôn giáo trước khi có Tuyên ngôn của Hoàng Gia.
Continue reading →
Filed under: Xã hội, nhà nước và pháp luật nước ngoài | Leave a comment »
Posted on 07/10/2008 by Civillawinfor
Mối quan hệ giữa thị trường bất động sản và hệ thống ngân hàng ở Việt Nam đến nay vẫn là một câu hỏi lớn. Điều này càng được đặc biệt quan tâm hơn khi liên hệ với sự sụp đổ của thị trường tài chính Mỹ.
Tại Diễn đàn Kinh tế Việt Nam 2008 do Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) và Tổ chức hợp tác kỹ thuật Đức GTZ phối hợp tổ chức cuối tuần qua, vấn đề nợ xấu của ngân hàng và ảnh hưởng của việc cho vay bất động sản đến chất lượng tài sản của các ngân hàng đã được tập trung thảo luận.
Nguy cơ nợ xấu
Theo nhìn nhận của TS. Võ Trí Thành – Trưởng ban Nghiên cứu chính sách hội nhập, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) – mối quan hệ giữa thị trường bất động sản với ngân hàng ở Việt Nam vẫn chưa rõ ràng và minh bạch. Chính vì vậy, ông Thành liệt kê đây chính là một trong những rủi ro khiến nợ xấu của hệ thống ngân hàng trở nên nghiêm trọng hơn.
Continue reading →
Filed under: Thị trường bất động sản | Leave a comment »