TRỌNG TÀI KINH TẾ: “NGƯỜI THỨ 3” CÔNG BẰNG

HẢI NGỌC

Giải quyết tranh chấp thương mại thông qua Trọng tài kinh tế đã, đang và sẽ trở thành cách giải quyết hiệu quả, tích cực nhất mà DN lựa chọn. Các DN VN cũng nên "chơi" theo cách này để tránh các vụ kiện kinh tế không cần thiết trước tòa mà vẫn bảo toàn mối quan hệ hợp tác với bên tranh chấp – Đó là nhận định của nhiều chuyên gia kinh tế và luật pháp.

Theo Chủ tịch Nguyễn Minh Chí – Trung tâm Trọng tài quốc tế VN (VIAC): Năm 2008, số lượng vụ kiện do VIAC tiếp nhận và xử lý lên con số 58 vụ, tại các nước phát triển, phương thức giải quyết tranh chấp kinh tế thông qua trọng tài thương mại rất phổ biến, nhất là ở những nước có nền kinh tế phát triển, cộng đồng DN VN chủ yếu bao gồm các DNNVV, DN quy mô gia đình nên việc đưa tranh chấp ra giải quyết bằng một thiết chế chính thức, trọng tài hay toà án, với các căn cứ pháp lý cụ thể là chưa nhiều.

DN vẫn thích dùng… “giải pháp tại chỗ”

Theo thống kê của Trung tâm Trọng tài quốc tế VN, trong khoảng 2 năm trở lại đây, có gần 60% số vụ tranh chấp thương mại ở VN là xảy ra giữa các DN trong nước với các đối tác nước ngoài. Và DN VN hầu như vẫn thường thua thiệt trước các DN nước ngoài trong các cuộc chơi kinh tế do thiếu nhiều kinh nghiệm thương trường. Khi bất đồng quan điểm trong kinh doanh các bên đối tác lập tức xảy ra tranh chấp nhưng cách mà các DN VN thường làm là đưa sự việc ra tòa án địa phương để giải quyết.

Tiến sĩ Micheal Moser – Chủ tịch Trung tâm Trọng tài kinh tế quốc tế HongKong (HKIAC) gọi đó là "giải pháp tại chỗ" và ông cho rằng giải pháp này không phải là cách hiệu quả để lấy được công bằng trong các vụ tranh chấp thương mại. Vì nếu DN VN muốn được giải quyết tranh chấp thương mại tại nước mình để hưởng các "ưu thế sân nhà" thì DN nước ngoài cũng vậy. Như vậy, các bên tranh chấp dù đã nhận được phán xét cuối cùng của tòa án cũng không thỏa mãn hoàn toàn, từ đó có thể dẫn đến việc cưỡng chế thi hành các quyết định của tòa án như bồi thường thiệt hại cũng khó thực hiện. Hơn nữa, chi phí cho các vụ kiện từ khi bắt đầu đến khi kết thúc có thể lớn gấp nhiều lần so với số tiền có thể bên thắng kiện được nhận. Do đó, để giải quyết dễ dàng và đảm bảo khách quan cho tất cả các bên trong tranh chấp, Tiến sĩ Moser khuyên các DN VN nên tìm công bằng tại một "người thứ ba" đó là các trọng tài kinh tế quốc tế.

Continue reading

Tọa đàm về sửa đổi Bộ luật Dân sự năm 2005: QUI ĐỊNH VỀ QUYỀN SỞ HỮU CÒN NHIỀU BẤT CẬP

BÙI NGUYỄN

Trên cơ sở cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 1992, Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2005 đã quy định một cách tương đối đầy đủ, toàn diện (toàn bộ Phần II với 117 Điều) các vấn đề về quyền sở hữu. Tuy nhiên, khi đi vào cuộc sống cũng như trong mối tương quan với các đạo luật khác của hệ thống quốc luật, những quy định về quyền sở hữu trong BLDS năm 2005 cũng bắt đầu cho thấy không ít bất cập. Trong buổi “Tọa đàm về sở hữu trong pháp luật dân sự của một số nước Châu Âu – Sửa đổi BLDS Việt Nam năm 2005” diễn ra mới đây, các chuyên gia pháp lý đã dành khá nhiều thời lượng để “điểm mặt, chỉ tên” những bất cập này, cũng như cách thức để hóa giải chúng.

Quyền của người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản – có cần cụ thể hơn?

Chế định về quyền sở hữu không chỉ tập trung ở địa vị pháp lý và các quyền chủ thể của chủ sở hữu vì như vậy quyền sở hữu chỉ được nhìn nhận ở phạm vi hẹp. Do đó, trong chế định về quyền sở hữu còn có cả các quy định về quyền của người không phải chủ sở hữu đối với tài sản trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt. Trong BLDS Việt Nam năm 2005, quyền này đã được thể hiện qua nội dung Điều 173. Theo đó, người không phải là chủ sở hữu tài sản chỉ có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản không thuộc quyền sở hữu của mình theo thỏa thuận với chủ sở hữu tài sản đó hoặc theo quy định của pháp luật và các quyền của người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản bao gồm: quyền sử dụng đất; quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề và các quyền khác theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật.

Tại buổi Tọa đàm, các chuyên gia pháp lý cho rằng việc quy định rõ ràng và đầy đủ hơn về quyền của người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản đã cho thấy BLDS năm 2005 đã có sự hoàn thiện nhất định so với BLDS năm 1995, tương đồng với các vật quyền theo quy định của nhiều nước trên thế giới. Tuy nhiên, vẫn không tránh khỏi một số bật cập như: tính chưa cụ thể (ví dụ BLDS năm 2005 mới chỉ liệt kê về quyền sử dụng đất mà chưa phân chia nhỏ quyền này thành các loại quyền cụ thể như quyền sử dụng đất bề mặt, quyền sử dụng đất để xây công trình ngầm…); tính chưa đầy đủ (hiện nay trong pháp luật tuy có quy định về việc sử dụng đất để xây công trình ngầm, nhưng khái niệm thế nào là công trình ngầm và việc sử dụng đất để xây dựng công trình ngầm, cũng như mối quan hệ giữa quyền đối với công trình trên mặt đất với quyền đối với công trình ngầm chưa được luật điều chỉnh)… Từ việc chỉ ra bất cập, các chuyên gia pháp lý đề xuất khi tiến hành sửa đổi, trong phần quy định về quyền của người không phải chủ sở hữu đối với tài sản, bên cạnh những quy định đã có, BLDS cần bổ sung thêm những quy định cụ thể các loại vật quyền như: quyền sở hữu, quyền sử dụng đất (đã phân chia cụ thể thành các loại cụ thể quyền sử dụng đất bề mặt để xây nhà, trồng trọt, công trình xây dựng, quyền sử dụng đất để xây dựng công trình ngầm…), quyền khai thác khoáng sản, quyền sử dụng suối nước nóng… Mặt khác, các loại quyền của doanh nghiệp nhà nước và cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp khi các cơ quan này được Nhà nước giao tài sản để quản lý, sử dụng cũng là đối tượng cần được nghiên cứu để có những quy định phù hợp.

Continue reading

TỌA ĐÀM VỀ SỬA ĐỔI VỀ BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005: QUI ĐỊNH VỀ QUYỀN SỞ HỮU CÒN NHIỀU BẤT CẬP

BÙI NGUYỄN

Trên cơ sở cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 1992, Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2005 đã quy định một cách tương đối đầy đủ, toàn diện (toàn bộ Phần II với 117 Điều) các vấn đề về quyền sở hữu. Tuy nhiên, khi đi vào cuộc sống cũng như trong mối tương quan với các đạo luật khác của hệ thống quốc luật, những quy định về quyền sở hữu trong BLDS năm 2005 cũng bắt đầu cho thấy không ít bất cập. Trong buổi “Tọa đàm về sở hữu trong pháp luật dân sự của một số nước Châu Âu – Sửa đổi BLDS Việt Nam năm 2005” diễn ra mới đây, các chuyên gia pháp lý đã dành khá nhiều thời lượng để “điểm mặt, chỉ tên” những bất cập này, cũng như cách thức để hóa giải chúng.

Quyền của người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản – có cần cụ thể hơn?

Chế định về quyền sở hữu không chỉ tập trung ở địa vị pháp lý và các quyền chủ thể của chủ sở hữu vì như vậy quyền sở hữu chỉ được nhìn nhận ở phạm vi hẹp. Do đó, trong chế định về quyền sở hữu còn có cả các quy định về quyền của người không phải chủ sở hữu đối với tài sản trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt. Trong BLDS Việt Nam năm 2005, quyền này đã được thể hiện qua nội dung Điều 173. Theo đó, người không phải là chủ sở hữu tài sản chỉ có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản không thuộc quyền sở hữu của mình theo thỏa thuận với chủ sở hữu tài sản đó hoặc theo quy định của pháp luật và các quyền của người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản bao gồm: quyền sử dụng đất; quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề và các quyền khác theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật.

Tại buổi Tọa đàm, các chuyên gia pháp lý cho rằng việc quy định rõ ràng và đầy đủ hơn về quyền của người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản đã cho thấy BLDS năm 2005 đã có sự hoàn thiện nhất định so với BLDS năm 1995, tương đồng với các vật quyền theo quy định của nhiều nước trên thế giới. Tuy nhiên, vẫn không tránh khỏi một số bật cập như: tính chưa cụ thể (ví dụ BLDS năm 2005 mới chỉ liệt kê về quyền sử dụng đất mà chưa phân chia nhỏ quyền này thành các loại quyền cụ thể như quyền sử dụng đất bề mặt, quyền sử dụng đất để xây công trình ngầm…); tính chưa đầy đủ (hiện nay trong pháp luật tuy có quy định về việc sử dụng đất để xây công trình ngầm, nhưng khái niệm thế nào là công trình ngầm và việc sử dụng đất để xây dựng công trình ngầm, cũng như mối quan hệ giữa quyền đối với công trình trên mặt đất với quyền đối với công trình ngầm chưa được luật điều chỉnh)… Từ việc chỉ ra bất cập, các chuyên gia pháp lý đề xuất khi tiến hành sửa đổi, trong phần quy định về quyền của người không phải chủ sở hữu đối với tài sản, bên cạnh những quy định đã có, BLDS cần bổ sung thêm những quy định cụ thể các loại vật quyền như: quyền sở hữu, quyền sử dụng đất (đã phân chia cụ thể thành các loại cụ thể quyền sử dụng đất bề mặt để xây nhà, trồng trọt, công trình xây dựng, quyền sử dụng đất để xây dựng công trình ngầm…), quyền khai thác khoáng sản, quyền sử dụng suối nước nóng… Mặt khác, các loại quyền của doanh nghiệp nhà nước và cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp khi các cơ quan này được Nhà nước giao tài sản để quản lý, sử dụng cũng là đối tượng cần được nghiên cứu để có những quy định phù hợp.

Continue reading

NỘP THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN VỀ BẤT ĐỘNG SẢN: NHIỀU KẼ HỞ?!

PHẠM TUYÊN

Từ 1/1/2009, người có từ hai bất động sản trở lên, khi bán sẽ phải nộp thuế thu nhập cá nhân. Tuy nhiên, nhiều người có trách nhiệm của ngành thuế thừa nhận vẫn còn kẽ hở lớn trong việc thực hiện quy định này.

Chủ yếu căn cứ trên giấy sở hữu

Ông Nguyễn Duy Minh, Phó ban Quản lý Thuế thu nhập Cá nhân, Tổng cục Thuế, cho biết nguyên tắc để miễn thuế với tài sản duy nhất được hiểu là người có quyền sở hữu nhà, đất ở khi bán đi mà không còn chỗ nào để ở.

Ví dụ, vì điều kiện công tác, anh phải chuyển đến sống ở nơi khác; sau khi bán anh không còn nhà, không còn đất để xây dựng nhà; khi đó, anh được xếp vào trường hợp chuyển nhượng bất động sản duy nhất và không bị tính thuế. Nhưng sau khi bán căn nhà duy nhất và chuyển về ở nhà bố mẹ, anh chị em và được hưởng thừa kế căn nhà đó thì lúc bán căn nhà được thừa hưởng này, người bán  phải chịu thuế.

Ông Nguyễn Huy Trường cho biết người kê khai hồ sơ chứng minh người phụ thuộc không nhất thiết phải công chứng, chứng thực hồ sơ trước khi nộp cho cơ quan thuế mà chỉ cần mang bản gốc đến cơ quan thuế để đối chiếu với bản photo được nộp. Cơ quan thuế chịu trách nhiệm kiểm tra để chấp thuận.

Đại diện Tổng cục Thuế cũng cho biết việc tính thuế chỉ xảy ra khi có sự chuyển nhượng và được cơ quan nhà nước chứng thực. Trường hợp giấy tờ chuyển nhượng nhà, đất ở viết tay giữa các cá nhân không được tính là có căn cứ pháp lý.

Hiện nay nhiều mảnh đất chưa được cấp kịp thời giấy chứng nhận quyền sử dụng cho người sở hữu, nhưng căn cứ xác định bất động sản duy nhất của người bán, ngành thuế vẫn chỉ biết dựa trên bản tự khai và giấy tờ xác nhận quyền sở hữu của người đó.

Continue reading

VỀ NHỮNG TẮC ĐỘNG SAU 2 NĂM GIA NHẬP WTO ĐỐI VỚI MỘT SỐ NGÀNH HÀNG Ở VIỆT NAM

PGS.TS. LÊ DANH VĨNH – TT Bộ Công thương

Việt Nam đã là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) được 2 năm. So với quãng đường 11 năm, kể từ ngày Việt Nam nộp đơn xin gia nhập WTO đến khi là thành viên chính thức, thì thời gian trên là quá ngắn ngủi. Tuy nhiên, việc đánh giá tác động của 2 năm đầu tiên gia nhập lại có vai trò và ý nghĩa rất quan trọng để chúng ta nhìn nhận một cách thực chất hơn về những vấn đề mang tính dự đoán trước đây, từ đó có những giải pháp chiến lược và đối sách phù hợp hơn.

Cách đây 2 năm, chúng ta đã từng chứng kiến một sự kiện quan trọng – đó là việc Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO. Để có được thành công này, trước hết, phải khẳng định chủ trương đúng đắn và các biện pháp thích hợp của Đảng và Chính phủ trong việc chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Một mặt, chúng ta tích cực và chủ động đổi mới từ trong nước; mặt khác, chúng ta kiên trì và khôn khéo trong đàm phán, chủ động đưa ra các bản chào cam kết sao cho có thể mang lại nhiều cơ hội và hạn chế tối đa các thách thức do gia nhập WTO đem lại. Đồng thời, đó cũng là công lao đóng góp rất lớn của các nhà khoa học, các nhà quản lý, các nhà doanh nghiệp, đặc biệt là các nhà đám phán của ta trong việc tham mưu cho Đảng và Chính phủ để nhận diện rõ hơn, đầy đủ hơn và toàn diện hơn về những mặt thuận lợi và khó khăn, cơ hội và thách thức, cũng như những điểm mạnh, điểm yếu của hàng hóa và doanh nghiệp Việt Nam khi phải thực hiện các cam kết gia nhập WTO.

Đến nay, sau 2 năm là thành viên chính thức của tổ chức này, chúng ta có thể bước đầu đánh giá một cách tổng quát những tác động của việc gia nhập đối với một số ngành hàng công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ của Việt Nam như sau:

1 – Về các tác động tích cực và kết quả mang lại

Có thể khẳng định, sau 2 năm gia nhập WTO năng lực sản xuất và kinh doanh của các ngành hàng đã tăng lên rõ rệt. Mặc dù trong thời gian qua, các biến động phức tạp của nền kinh tế toàn cầu, như sự thay đổi "chóng mặt" của giá năng lượng, lương thực và nhiều loại nguyên liệu khác, cùng với sự khủng khoảng của hệ thống tài chính toàn cầu đã và đang có ảnh hưởng lan tỏa đến hầu hết các nền kinh tế và thương mại thế giới. Các tác động này cũng có ảnh hưởng rất lớn đối với nền kinh tế và thương mại của Việt Nam vốn có quy mô nhỏ bé, đang phát triển ở trình độ thấp, nhưng độ mở cao và đang phải mở cửa thị trường để thực hiện cam kết gia nhập WTO. Tuy nhiên, hầu hết các ngành hàng của nước ta đều giữ được tốc độ tăng trưởng cao so với nhiều nước trong khu vực. Theo số liệu ước tính, năm 2008, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tăng 31% so với năm 2007 (nếu loại trừ yếu tố tăng giá, mức tăng còn 7%); kim ngạch xuất khẩu đạt 62,9 tỉ USD, tăng 29,5% so với năm 2007; kim ngạch nhập khẩu đạt 79,9 tỉ USD, tăng 27,5% so với năm 2007. Nhìn chung, xuất khẩu các mặt hàng chủ lực thuộc các ngành hàng công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ đều tăng rõ rệt. Chẳng hạn, hàng điện tử và linh kiện máy tính đạt 2,7 tỉ USD, tăng 25,5% so với năm 2007; hàng dệt may đạt 9,1 tỉ USD, tăng 17,5%; sản phẩm gỗ đạt 2,78 tỉ USD, tăng 15,6%; cà phê đạt 2,02 tỉ USD, tăng 5,8%; cao su đạt 1,6 tỉ USD, tăng 14,6%.

Continue reading

BẠO LỰC GIA ĐÌNH – S0S

TIENPHONG- Qua diễn biến phiên tòa sơ thẩm vụ án bạo lực gia đình (BLGĐ) ở Hà Nam, có thể thấy Luật Phòng chống BLGĐ tuy có hiệu lực thi hành, song để nó thực sự đi vào cuộc sống không dễ. Ba luật sư của Đoàn luật sư TP Hà Nội bảo vệ miễn phí cho bị hại trong vụ án ở Hà Nam đều là tình nguyện viên của CSAGA (Trung tâm Nghiên cứu & Ứng dụng Khoa học về Giới – Gia đình – Phụ nữ & Vị thành niên, tổ chức phi chính phủ chuyên tư vấn, bảo vệ miễn phí cho các nạn nhân BLGĐ).

Để tìm hiểu tình trạng BLGĐ ở Việt Nam hiện nay, sau phiên tòa, PV Tiền Phong có cuộc trao đổi với các chuyên gia tư vấn của CSAGA, cũng như các luật sư nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực phòng chống BLGĐ.

Kể mãi không hết…

Trên các tỉnh thành trong toàn quốc, trung bình cứ ba ngày có một phụ nữ chết vì BLGĐ. Số vụ án ly hôn có nguyên nhân từ nạn BLGĐ chiếm 61 phần trăm tổng số án ly hôn hiện nay.
Chị Phạm sống tại một huyện miền núi phía tây Nghệ An (vì nhiều lý do, các nạn nhân BLGĐ trong bài viết này đều được đổi tên, các địa chỉ là có thực), lấy chồng 20 năm nay, có ba con.

Chồng chị cục cằn thô lỗ, thêm tật nghiện rượu. Những hôm anh ta nhậu say, chị Thúy khó thoát một trận đòn vô cớ. Ba lần chị Thúy đưa đơn ra tòa, rồi lại rút đơn. Bởi những khi tỉnh rượu, chồng chị tỏ ra ăn năn hối hận, cầu xin chị tha thứ, hứa sẽ sửa chữa.

Chị Phạm gọi điện đến trung tâm tư vấn, hỏi về việc có nên đưa đơn ra tòa lần thứ tư không. Nếu không, trung tâm có thể khuyên chị cách nào để ngăn chặn được những trận đòn của chồng mà chị vẫn đang phải chịu đựng…

Chị Nguyễn ở Cầu Giấy – Hà Nội, lấy chồng 16 năm nay, có ba con, chồng không nghiện rượu nhưng có nhóm máu “D”, từng quan hệ bất chính với cả… chị dâu mình. Anh ta còn cao hứng quay video clip. Khi biết vợ đã xem cái “clip” đó, anh ta tặng luôn chị Nguyễn một trận đòn thừa sống thiếu chết, dọa sẽ… giết nếu để lộ chuyện.

Continue reading

PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG “BỎ QUÊN” HỢP TÁC XÃ

NGƯỜI ĐẠI BIỂU NHÂN DÂN – Tính đến hết năm 2008, khu vực kinh tế tập thể (KTTT) đã thu hút, tạo việc làm cho hơn 12,5 triệu xã viên và người lao động. Tuy nhiên, một trong những khó khăn đối với khu vực này là quá trình thực thi và vận dụng các quy định của pháp luật lao động và quan hệ lao động còn rất hạn chế.

Cho đến nay, tuy khu vực KTTT chưa xảy ra xung đột tranh chấp lao động lớn dẫn đến đình công… nhưng hiện tại cho thấy có nhiều bất ổn đang tiềm ẩn. Quá trình vận dụng các quy định của Bộ Luật Lao động và các văn bản hướng dẫn thi hành đã bộc lộ nhiều hạn chế, một số quan hệ lao động mới phát sinh nhưng chưa được pháp luật điều chỉnh kịp thời.

Có thể khẳng định, quan hệ lao động trong HTX có sự khác biệt tương đối so với quan hệ lao động trong các doanh nghiệp Nhà nước và các loại hình doanh nghiệp khác. Trong HTX, xã viên là chủ sở hữu vừa là người làm công ăn lương, HTX là người sử dụng lao động nên xã viên và người lao động có quyền đòi hỏi HTX thực hiện đầy đủ các chính sách về các quan hệ lao động nhưng đồng thời cũng phải có trách nhiệm đối với những người lao động không phải là xã viên HTX. Lợi ích của HTX được phân bổí đều và nằm trong lợi ích của từng xã viên. Do vậy, trong quá trình hoạt động, nhiều quy định của pháp luật lao động hiện hành chưa thực sự “khớp” và bao quát được thực tế diễn biến trong quan hệ lao động của tổ chức kinh tế HTX. Ví dụ trong Luật Lao động có rất nhiều quy định về lao động trong doanh nghiệp (Điều 3, 10, 11, 17, 20, 23, 24…) nhưng không quy định cho HTX dẫn đến nhiều việc nếu chuyển theo các điều khoản của Luật Lao động thì các HTX không có căn cứ để thực hiện.

Phó ban Chính sách Liên minh HTX Việt Nam Phan Vĩnh Điển viện dẫn: về phạm vi điều chỉnh của Bộ Luật Lao động, Điều 1 Bộ Luật Lao động quy định: “Bộ Luật Lao động điều chỉnh quan hệ lao động giữa người lao động làm công ăn lương với người sử dụng lao động và các quan hệ xã hội liên quan trực tiếp với quan hệ lao động”.

Continue reading

NGƯỜI VIỆT TƯ DUY . . . BẰNG CÁI BỤNG?!

imageNGUYỄN HOÀNG

TuanVietNam – Người Việt lạc quan nhất thế giới bởi vì họ không chỉ tư duy bằng cái đầu, mà còn có cái bụng tham gia vào quá trình suy nghĩ, cảm nhận. Người Việt nghĩ gì, cảm gì bằng… cái bụng của mình? GS. Trí Việt luận giải.

Theo kết quả khảo sát của Tổ chức Gallup International (GIA) về mức độ lạc quan của người dân 53 nước trên thế giới năm 2007, người Việt Nam được đánh giá là lạc quan và vô tư nhất thế giới. Họ dẫn đầu thế giới về mức độ tin tưởng vào tương lai tươi sáng (mặc cảnh báo về những đám mây lạm phát đã bắt đầu vần vũ trên bầu trời kinh tế đất nước từ năm 2007 và đã biến thành giông bão trong năm 2008).

Đầu năm 2009, trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu, vị Đại sứ Nhật Bản tại Hà Nội cũng vẫn đưa ra nhận xét tương tự trên báo Đầu tư:"Người Việt Nam suy nghĩ rất tích cực về tương lai, hầu hết mọi người đều nghĩ rằng, tương lai sẽ tốt đẹp hơn hiện tại… Lạc quan có lẽ là một tố chất nằm trong "gene" của người Việt."
Ra nước ngoài, người Việt thường được đánh giá là trẻ hơn so với tuổị, được xếp vào những tộc người trẻ trung nhất thế giới. Người Việt luôn thường trực nụ cười trên môi, vui cũng cười, được khen cũng cười, bị phê phán cũng cười, theo đúng tinh thần "dĩ bất  biến ứng vạn biến" mà các cụ dặn.
Một dân tộc bị thử thách bởi một lịch sử bi tráng và một số phận nghiệt ngã, bao đời sống trong nghèo nàn và thiếu thốn, lại trải qua quá nhiều giai đoạn chiến tranh đầy mất mát, đau thương, vậy tại sao người Việt đứng đầu thế giới về tinh thần lạc quan như đánh giá của công luận quốc tế trong những năm vừa qua?

****

Tôi cứ tự hỏi nên phải lý giải như thế nào về hiện tượng này và đem thắc mắc của mình trình bày với Giáo sư Trí Việt. Sau đây là trích từ khảo cứu và các kiến giải của vị giáo sư khả kính của chúng ta về vấn đề trên:

Continue reading

CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ NHÌN TỪ GÓC ĐỘ CÁC NHÂN TỐ SẢN XUẤT

TS. NGUYỄN HỮU HIỂU

Chất lượng tăng trưởng kinh tế là gì?

Tăng trưởng phản ánh sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế trong một giai đoạn nhất định (thường là 1 năm). Đây là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp quan trọng hàng đầu, có liên quan mật thiết đến các biến số vĩ mô khác như việc làm, lạm phát, nghèo đói,… Tuy nhiên, nếu chỉ xem xét tăng trưởng kinh tế (TTKT) trên giác độ số lượng thu nhập tăng thêm thì chưa đủ. Thực tế cho thấy nhiều “loại” tăng trưởng không những không đem đến cho con người cuộc sống tốt đẹp hơn mà trái lại còn để lại những hậu quả không tốt mà các thế hệ tương lai phải gánh chịu. Năm 1996, UNDP đã chỉ ra 5 loại tăng trưởng xấu để các quốc gia tham khảo, đó là:

  • Tăng trưởng không việc làm: Tăng trưởng không tạo ra việc làm mới.
  • Tăng trưởng không lương tâm: Tăng trưởng chỉ đem lại lợi ích cho một bộ phận nhỏ người giàu, điều kiện sống của phần đông người nghèo không được cải thiện.
  • Tăng trưởng không tiếng nói: Tăng trưởng không gắn với sự cải thiện về dân chủ.
  • Tăng trưởng không gốc rễ: Tăng trưởng nhưng đạo đức xã hội bị suy thoái.
  • Tăng trưởng không tương lai: Tăng trưởng nhưng huỷ hoại môi trường sống của con người.

Chính vì lẽ đó, nghiên cứu TTKT bên cạnh sự gia tăng về số lượng, còn cần và nhất thiết phải quan tâm đến khía cạnh chất lượng.

Vậy, chất lượng tăng trưởng là gì?

Chất lượng tăng trưởng phản ánh nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng cao, duy trì trong một thời gian dài, gắn với đó là quá trình nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, bảo vệ môi trường và đảm bảo quyền tự do cho mỗi người.
Có thể tiếp cận chất lượng TTKT trên nhiều giác độ khác nhau như: theo nhân tố đầu vào, theo kết quả đầu ra, theo cấu trúc ngành kinh tế, theo năng lực cạnh tranh,… Bài viết này tập trung nghiên cứu chất lượng TTKT theo các nhân tố đầu vào.

Continue reading

NHÌN LẠI BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ: NHIỀU VƯỚNG MẮC KHI ÁP DỤNG

NGUYÊN TRƯỜNG

Đương sự cố tình “giếm” chứng cứ ở cấp sơ thẩm, đợi đến cấp phúc thẩm mới cung cấp thì tòa có được hủy án? Ngày 19/2/2009, tại TP Cà Mau, TAND tối cao đã phối hợp với cơ quan hợp tác Nhật Bản tổ chức hội nghị về thực thi Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) và Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) với sự tham dự của đại diện tòa án các tỉnh phía Nam. Trong ngày làm việc đầu tiên, nhiều vướng mắc nổi cộm trong quá trình áp dụng BLTTDS đã được các đại biểu thẳng thắn mổ xẻ.

Án dân sự hay thương mại?

Cái vướng đầu tiên được đa số đại biểu nêu lên là chưa biết xác định tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa cá nhân không đăng ký kinh doanh với ngân hàng là tranh chấp dân sự hay tranh chấp kinh doanh, thương mại.

Theo các đại biểu, Điều 29 BLTTDS hiện hành quy định tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau đều có mục đích lợi nhuận là tranh chấp về kinh doanh, thương mại. Còn tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa cá nhân không có đăng ký kinh doanh với ngân hàng phải là tranh chấp dân sự. Tuy nhiên, theo Nghị quyết số 01 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao năm 2005, tòa kinh tế có nhiệm vụ, quyền hạn giải quyết các tranh chấp và các yêu cầu kinh doanh, thương mại mà một hoặc các bên không có đăng ký kinh doanh nhưng đều có mục đích lợi nhuận.

Như vậy, hai quy định mâu thuẫn này đã dẫn đến rối trong việc xác định tòa dân sự hay tòa kinh tế có thẩm quyền giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa cá nhân không đăng ký kinh doanh với ngân hàng.

Đau đầu về chuyện cung cấp chứng cứ

Việc cung cấp chứng cứ mới của các đương sự trong vụ án dân sự cũng được hội nghị bàn thảo. TAND tối cao gợi mở: Đương sự cố tình “giếm” chứng cứ ở cấp sơ thẩm, đợi đến cấp phúc thẩm mới cung cấp thì tòa có được hủy án sơ thẩm hay không?

Thẩm phán Huỳnh Văn Lưu (TAND tỉnh Đồng Nai) bảo rất cần làm rõ, có hướng dẫn cụ thể vì hiện nay, có hiện tượng cấp phúc thẩm “vô tư” hủy bản án sơ thẩm chỉ vì thiếu những chứng cứ mà cấp phúc thẩm hoàn toàn có thể yêu cầu đương sự bổ sung ngay được.

Continue reading

GIA ĐÌNH VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

image LÊ THẢO

"Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng cả đời người, là môi trường quan trọng trong giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách". Từ bao đời nay, gia đình Việt Nam luôn là chỗ dựa vững chắc, nơi nuôi dưỡng, ươm mầm và gắn kết những giá trị văn hóa tinh thần của dân tộc. Thế nhưng, trước những đổi thay nhanh chóng của thời đại, những biến chuyển của xã hội trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, gia đình Việt Nam có còn giữ được những nét đẹp truyền thống như xưa?

Gia đình Việt Nam truyền thống – nơi bảo tồn những giá trị văn hóa của dân tộc

Từ xưa đến nay, ở khắp nơi trên thế giới, quan niệm về gia đình hầu như luôn có điểm tương đồng. Gia đình đó là nơi tập hợp những người có cùng chung quan hệ huyết thống gắn bó với nhau. Trong xã hội Việt Nam truyền thống, gia đình là một đơn vị cơ sở rất quan trọng trong đời sống của mỗi con người từ khi sinh ra, trưởng thành cho đến lúc qua đời.

Khác với xã hội phương Tây, nơi mà gia đình kiểu mẫu bao giờ cũng chỉ duy nhất tồn tại một thế hệ chung sống với nhau, khi con cái đến tuổi trưởng thành thì việc ra ở riêng, tách khỏi cha, mẹ đã trở thành truyền thống, gia đình Việt Nam theo "chuẩn mực" truyền thống bao giờ cũng là gia đình"tam, tứ đại đồng đường" với nhiều thế hệ cùng tụ họp bên nhau. Đời sống kinh tế theo kiểu cùng làm, cùng hưởng, cùng sinh sống dưới một mái nhà.

Hình ảnh gia đình tập trung nhiều thế hệ như thế có thể nói là một dấu ấn riêng, tạo nên bản sắc đặc trưng cho tinh thần cố kết cộng đồng và lối sống trọng tình, trọng nghĩa của người Việt, có nguồn gốc từ truyền thống nông nghiệp trồng lúa nước. Nghề nông trồng lúa theo thời vụ rất cần có sự đoàn kết giúp đỡ nhau nên con người sống rất gắn bó, gia đình nào đông người thì càng tăng thêm sức lao động, hỗ trợ lẫn nhau trong công việc đồng áng để thu hoạch nhanh chóng. Có thể nói gia đình chính là nơi nảy sinh mọi giá trị tốt đẹp coi trọng truyền thống của người Việt: tinh thần yêu thương, gắn bó, giúp đỡ lẫn nhau trong cơn hoạn nạn hay những lúc khó khăn. Không chỉ có sự gắn bó mật thiết giữa mọi thành viên trong nhà, gia đình truyền thống của người Việt cũng giữ một mối quan hệ thân thiết với hàng xóm láng giềng để tương trợ lẫn nhau mỗi khi "tắt lửa tối đèn".

Continue reading

THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ TÂM LÝ ĐẦU TƯ THẮNG THUA Ở VIỆT NAM

TRẦN LONG

TuanVietNam – Không ít sách vở phân tích tâm lý của người thành công và thất bại tại thị trường chứng khoán trên thế giới. Nhà đầu tư Việt Nam có những đặc điểm tâm lý riêng khác với nhà đầu tư thế giới. Một số phân tích về tâm lý nhà đầu tư Việt Nam từ những nhận xét của các cán bộ môi giới của nhiều công ty chứng khoán tại Việt Nam.

Người thắng cuộc:  tạo và luôn giữ nguyên tắc

Người thắng cuộc được coi là những người có tỷ lệ thành công trong đầu tư cao, thu được mức lợi nhuận tương đối sau một khoảng thời gian dài đầu tư. Những người chỉ tham gia một hai lần mà lãi lớn không thể coi là người thắng cuộc trên thị trường.

Người thắng cuộc có quá trình chuẩn bị quyết định đầu tư cẩn thận. Họ có thể mất nhiều đêm chỉ để đọc thông tin, phân tích các chỉ tiêu cơ bản, xem xét diễn biến thị trường để rút ra quy luật diễn biến giá của một cổ phiếu. Họ tổ chức thông tin khá khoa học, đọc thông tin từ nhiều nguồn, sau đó, họ biết cách tổng hợp thông tin dưới dạng các bảng biểu thuận lợi nhất cho việc ra quyết định của mình.

Người thắng cuộc khi đầu tư phải chuẩn bị một lượng vốn tương đối, vì vậy họ trường vốn hơn trong giai đoạn đầu tư dài, họ có thể đã thắng từ trước nên có tích luỹ khá lớn. Vì vậy, tâm lý của họ cũng khá thoải mái hơn khi  thua lỗ. Họ không bao giờ đầu tư hết toàn bộ tiền của mình. Mà các khoản đầu tư thường chỉ chiếm một tỷ lệ % nhất định trong tổng số tiền của mình. Họ vẫn để “cửa” để cho những lần sau, để có cơ hội sửa sai nếu như lần đầu tư này thua lỗ.

Người thắng cuộc khá kiên trì sau quyết định của mình. Họ có nguyên tắc đầu tư. Ví dụ, họ xác định mức giá mua vào từ trước của một cổ phiếu, và chỉ khi giá thị trường xuống tới mức đó mới mua, sau đó họ cũng có ngưỡng trên bán ra cổ phiếu, và ngay khi giá cổ phiếu đạt mức đó họ bán ngay không ngần ngừ mặc dù thị trường có thể vẫn đang lên.

Người thắng cuộc ra quyết định ít khi bị ảnh hưởng bởi người khác. Họ tự tin với quyết định của mình, vì biết chắc là xác xuất thắng của mình khá cao. Chính sự chiến thắng đem lại sự tự tin và từ đó củng cố cảm nhận “giác quan thứ sáu” của người chơi.

Continue reading

SUY NGẪM 30

image Từ ngày 1/8/2008, chúng ta đánh đổi một tỉnh (Hà tây) và đất một số địa phương (thuộc Vĩnh Phúc, Hòa Bình) để Hà Nội được mở rộng diện tích đến 3,6 lần. Căn nguyên cơ bản,  Hà Nội cũ đã quá chật hẹp …!?

Thực tế, người ta lại tiếp tục chèn những khối bê tông vào những khoảng “không gian xanh” hiếm hoi, cuối cùng ở khu vực Hà Nội cũ  (Dự án khách sạn Novotel on the park trên đất công viên Thống Nhất, những lình sình xây dựng trên đất công viên Thủ Lệ…).

Bạn nên biết, người dân Hà Nội vẫn chưa có một “không gian xanh” theo đúng nghĩa để nghỉ ngơi, thư giãn, giao tiếp giữa các thế hệ, đặc biệt trẻ em và người già …. cái mà họ xứng đáng được hưởng.

Xem ra, diện tích mở rộng, nhưng tư duy qui hoạch vẫn chỉ quanh quẩn, bám đuổi trong vài con phố mà thôi!?

CIVILLAWINFOR

THỦ TỤC KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ

Hồ sơ khởi kiện gồm:

– Đơn khởi kiện (Mẫu đơn)

– Các giấy tờ liên quan đến vụ kiện ( giấy tờ sở hữu nhà, đất, hợp đồng liên quan…)

– Đối với cá nhân: Giấy chứng minh nhân dân, hộ khẩu (bản sao có công chứng).

– Đối với pháp nhân: Giấy tờ về tư cách pháp lý của người khởi kiện, của các đương sự và người có liên quan khác như: giấy phép, quyết định thành lập doanh nghiệp, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; điều lệ hoạt động, quyết định bổ nhiệm hoặc ủy quyền đại diện doanh nghiệp (bản sao có công chứng).

– Bản kê các giấy tờ nộp kèm theo đơn kiện (ghi rõ số bản chính, bản sao).

Lưu ý: Các giấy tờ nêu trên là văn bản, giấy tờ tiếng nước ngoài đều phải được dịch sang tiếng Việt Nam. Do cơ quan, tổ chức có chức năng dịch thuật, kèm theo bản gốc.

Lệ phí:

1/ Án phí dân sự bao gồm án phí dân sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm đồng thời chung thẩm, án phí dân sự phúc thẩm.

2/ Mức án phí dân sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm đồng thời chung thẩm đối với các vụ án dân sự không có giá ngạch là 50.000 đồng.

3/ Mức án phí dân sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm đồng thời chung thẩm đối với các vụ án dân sự có giá ngạch được quy định như sau:

Giá trị tài sản có tranh chấp

Mức án phí

a/ Từ 1.000.000 đồng trở xuống.

50.000 đồng.

b/ Từ trên 1.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.

5% của giá trị tài sản có tranh chấp.

c/ Từ trên 100.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng.

5.000.000 đồng + 4% của phần giá trị có tranh chấp vượt quá 100.000.000 đồng.

d/ Từ trên 200.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng.

9.000.000 đồng + 3% của phần giá trị có tranh chấp vượt quá 200.000.000 đồng.

đ/ Từ trên 500.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng.

18.000.000 đồng + 2% của phần giá trị có tranh chấp vượt quá 500.000.000 đồng.

e/ Từ trên 1.000.000.000 đồng .

28.000.000 đồng + 0,1% của phần giá trị có tranh chấp vượt quá 1.000.000.000 đồng.

4/ Mức án phí dân sự phúc thẩm đối với tất cả các vụ án dân sự là 50.000 đồng.

5/ Đối với vụ án hôn nhân và gia đình mà có tranh chấp về việc chia tài sản chung của vợ chồng, thì ngoài việc chịu án phí quy định tại mục 2, các đương sự còn phải chịu án phí đối với phần tài sản có tranh chấp như đối với vụ án dân sự có giá ngạch quy định tại mục 3 tương ứng với giá trị phần tài sản mà họ được hưởng.

Nộp tiền tạm ứng án phí:

Nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập trong các vụ án dân sự không có giá ngạch hoặc có giá ngạch từ 1.000.000 đồng trở xuống phải nộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm là 50.000 đồng, trong các vụ án dân sự có giá ngạch quy định tại các điểm b, c, d, đ, e mục 3 phải nộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm là 50% của mức án phí sơ thẩm mà án dự tính theo giá trị tài sản có tranh chấp, trừ trường hợp được miễn tiền tạm ứng án phí, miễn nộp án phí.

Người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm phải nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm trong thời hạn kháng cáo theo mức quy định tại Điều 8 của Nghị định 70/CP ngày 12/6/1997, trừ trường hợp được miễn tiền tạm ứng án phí, miễn nộp án phí.

Trích ‘Nghị định số 70/CP ngày 12-6-1997 của Chính phủ về án phí, lệ phí án’.

Nơi tiếp nhận hồ sơ:

Nộp trực tiếp hoặc gửi qua đường bưu điện đến Tòa án có thẩm quyền.

TRÍCH BLTTDS NĂM 2004 VỀ THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN

Điều 35. Thẩm quyền của Toà án theo lãnh thổ

1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Toà án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này;

b) Các đương sự có quyền tự thoả thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Toà án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này;

c) Toà án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết những tranh chấp về bất động sản.

2. Thẩm quyền giải quyết việc dân sự của Toà án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Toà án nơi người bị yêu cầu tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;

b) Toà án nơi người bị yêu cầu thông báo tìm kiếm vắng mặt tại nơi cư trú, bị yêu cầu tuyên bố mất tích hoặc là đã chết có nơi cư trú cuối cùng có thẩm quyền giải quyết yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó, yêu cầu tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết;

c) Toà án đã ra quyết định tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết có thẩm quyền giải quyết yêu cầu huỷ bỏ quyết định tuyên bố mất tích hoặc là đã chết;

d) Toà án nơi người phải thi hành bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của Toà án nước ngoài cư trú, làm việc, nếu người phải thi hành án là cá nhân hoặc nơi người phải thi hành án có trụ sở, nếu người phải thi hành án là cơ quan, tổ chức hoặc nơi có tài sản liên quan đến việc thi hành bản án, quyết định của Toà án nước ngoài có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của Toà án nước ngoài;

đ) Toà án nơi người gửi đơn cư trú, làm việc, nếu người gửi đơn là cá nhân hoặc nơi người gửi đơn có trụ sở, nếu người gửi đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết yêu cầu không công nhận bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của Toà án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam;

e) Toà án nơi người phải thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài cư trú, làm việc, nếu người phải thi hành là cá nhân hoặc nơi người phải thi hành có trụ sở, nếu người phải thi hành là cơ quan, tổ chức hoặc nơi có tài sản liên quan đến việc thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của Trọng tài nước ngoài;

g) Toà án nơi việc đăng ký kết hôn trái pháp luật được thực hiện có thẩm quyền giải quyết yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật;

h) Toà án nơi một trong các bên thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn;

i) Toà án nơi một trong các bên thoả thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận sự thoả thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn;

k) Toà án nơi cha hoặc mẹ của con chưa thành niên cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc quyền thăm nom con sau khi ly hôn;

l) Toà án nơi cha, mẹ nuôi hoặc con nuôi cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi;

m) Thẩm quyền của Toà án theo lãnh thổ giải quyết các yêu cầu liên quan đến việc Trọng tài thương mại Việt Nam giải quyết các vụ tranh chấp được thực hiện theo quy định của pháp luật về Trọng tài thương mại.

Điều 36. Thẩm quyền của Toà án theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu

1. Nguyên đơn có quyền lựa chọn Toà án giải quyết tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động trong các trường hợp sau đây:

a) Nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết;

b) Nếu tranh chấp phát sinh từ hoạt động của chi nhánh tổ chức thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi tổ chức có trụ sở hoặc nơi tổ chức có chi nhánh giải quyết;

c) Nếu bị đơn không có nơi cư trú, làm việc, trụ sở ở Việt Nam hoặc vụ án về tranh chấp việc cấp dưỡng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi mình cư trú, làm việc giải quyết;

d) Nếu tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi xảy ra việc gây thiệt hại giải quyết;

đ) Nếu tranh chấp về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động, bảo hiểm xã hội, quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác đối với người lao động thì nguyên đơn là người lao động có thể yêu cầu Toà án nơi mình cư trú, làm việc giải quyết;

e) Nếu tranh chấp phát sinh từ việc sử dụng lao động của người cai thầu hoặc người có vai trò trung gian thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi người sử dụng lao động là chủ chính cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi người cai thầu, người có vai trò trung gian cư trú, làm việc giải quyết;

g) Nếu tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi hợp đồng được thực hiện giải quyết;

h) Nếu các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở ở nhiều nơi khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi một trong các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết;

i) Nếu tranh chấp bất động sản mà bất động sản có ở nhiều địa phương khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi có một trong các bất động sản giải quyết.

2. Người yêu cầu có quyền lựa chọn Toà án giải quyết yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình trong các trường hợp sau đây:

a) Đối với các yêu cầu về dân sự quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 26 của Bộ luật này thì người yêu cầu có thể yêu cầu Toà án nơi mình cư trú, làm việc hoặc có trụ sở giải quyết;

b) Đối với yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật này thì người yêu cầu có thể yêu cầu Toà án nơi một trong các bên đăng ký kết hôn trái pháp luật giải quyết;

c) Đối với yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc quyền thăm nom con sau khi ly hôn thì người yêu cầu có thể yêu cầu Toà án nơi người con cư trú giải quyết.

Điều 37. Chuyển vụ việc dân sự cho Toà án khác, giải quyết tranh chấp về thẩm quyền

1. Vụ việc dân sự đã được thụ lý mà không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án đã thụ lý thì Toà án đó ra quyết định chuyển hồ sơ vụ việc dân sự cho Toà án có thẩm quyền và xoá sổ thụ lý. Quyết định này phải được gửi ngay cho đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan.

Đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định. Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận được khiếu nại, Chánh án Toà án đã ra quyết định chuyển vụ việc dân sự phải giải quyết khiếu nại.

2. Tranh chấp về thẩm quyền giữa các Toà án nhân dân cấp huyện trong cùng một tỉnh do Chánh án Toà án nhân dân cấp tỉnh giải quyết.

3. Tranh chấp về thẩm quyền giữa các Toà án nhân dân cấp huyện thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác nhau hoặc giữa các Toà án nhân dân cấp tỉnh do Chánh án Toà án nhân dân tối cao giải quyết.

SOURCE: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

THỦ TỤC LY HÔN

Hồ sơ cần thiết:

– Đơn xin ly hôn. (Nếu hai người thuận tình ly hôn thì đơn ly hôn của vợ hoặc chồng phải có xác nhận của chính quyền địa phương hoặc sứ quán Việt Nam tại nước ngoài).

– Bản sao Giấy CMND (Hộ chiếu); Hộ khẩu (có công chứng bản chính).

– Bản chính giấy chứng nhận kết hôn (nếu có), trong trường hợp mất bản chính giấy chứng nhận kết hôn thì nộp bản sao có xác nhận sao y bản chính của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, nhưng phải trình bày rõ trong đơn kiện.

– Bản sao giấy khai sinh con (nếu có con).

– Bản sao chứng từ, tài liệu về quyền sở hữu tài sản (nếu có tranh chấp tài sản).

– Nếu hai bên kết hôn tại Việt Nam, sau đó vợ hoặc chồng xuất cảnh sang nước ngoài (không tìm được địa chỉ) thì phải có xác nhận của chính quyền địa phương về việc một bên đã xuất cảnh và đã tên trong hộ khẩu.

– Nếu hai bên đăng ký kết hôn theo pháp luật nước ngoài muốn ly hôn tại Việt Nam thì phải hợp thức lãnh sự giấy đăng ký kết hôn và làm thủ tục ghi chú vào sổ đăng ký tại Sở Tư pháp rồi mới nộp đơn xin ly hôn. Trong trường hợp các bên không tiến hành ghi chú nhưng vẫn muốn ly hôn thì trong đơn xin ly hôn phải trình bày rõ lý do không ghi chú kết hôn.

Nơi tiếp nhận hồ sơ:

Nộp trực tiếp hoặc gửi qua đường bưu điện đến Tòa án có thẩm quyền (Tòa án nơi bên không có yêu cầu ly hôn cư trú hoặc Tòa án một trong hai bên vợ chồng cư trú nếu thuận tình ly hôn).

SOURCE: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG GỬI GIỮ TÀI SẢN: MẤT XE CỦA KHÁCH, ĐỀN SAO?

MINH NGUYÊN

Phía chủ xe đòi bồi thường nguyên chiếc, phía nhận giữ xe chỉ chấp nhận bồi thường một nửa. Ông A là chủ một câu lạc bộ bi da ở quận 1, TP.HCM đang làm hồ sơ khởi kiện công ty bảo vệ B để đòi công ty này bồi thường cho khách chơi bi da một chiếc xe đã bị mất.

Bất đồng ý kiến

Tháng 5-2008, ông A thuê Công ty B bảo vệ an ninh cho câu lạc bộ và giữ xe của các khách hàng ra vào câu lạc bộ. Giữa hai bên ký hợp đồng nêu rõ nếu bên công ty bảo vệ do lỗi vô ý hoặc cố ý để xảy ra mất an toàn, gây thiệt hại cho câu lạc bộ thì chính công ty phải có trách nhiệm làm việc với bên bị thiệt hại để đưa ra hình thức và mức bồi thường hợp lý nhất.

Cuối tháng 10-2008, khi đến câu lạc bộ trên chơi bi da, một khách hàng đã bị mất chiếc xe Honda PS trị giá hơn 100 triệu đồng. Ngay sau đó, ông A đã gọi nhân viên bảo vệ của công ty B và công an đến lập biên bản vụ việc. Đồng thời, ông A đề nghị công ty B phải bồi thường cho chủ xe hơn 100 triệu đồng. Do công ty B từ chối bồi thường nên để giữ uy tín cho câu lạc bộ, ông A đã đứng ra giao trả cho người khách hơn 100 triệu đồng. Nay ông A yêu cầu công ty B phải trả lại cho mình số tiền này.

Tuy nhiên, sau nhiều lần giằng co, công ty B chỉ chấp nhận bồi thường 1/2 chiếc xe. Lý do đưa ra: Chiếu theo bản hợp đồng nêu trên thì công ty B có nhiệm vụ cử hai nhân viên đến bảo vệ câu lạc bộ từ 10 giờ đến 23 giờ hàng ngày. Khi chỉ còn vài ngày nữa hết hợp đồng thì ông A tự ý đổi ca trực nhân viên bảo vệ (tức không thực hiện theo bản hợp đồng đã ký kết). Ngoài ra, người khách trên có gửi xe tại bãi giữ xe nhưng lại không lấy vé xe.

Phía ông A không thừa nhận việc mình tự ý đổi ca trực của nhân viên bảo vệ. Ông A tiếp tục yêu cầu công ty B bồi thường nguyên chiếc xe vì “nhiệm vụ của nhân viên bảo vệ là phải xé vé giao cho khách gửi xe”.

Continue reading

CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TRONG VAI TRÒ ĐIỀU TIẾT HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

TS. NGUYỄN VĂN LƯƠNG – PGS. TS.  NGUYỄN THỊ NHUNG

Sự bùng phát của lạm phát vào những tháng đầu năm 2008 ít nhất cũng mang lại cho chúng ta một khía cạnh tích cực – làm cho nhiều người giật mình về vai trò quan trọng của chính sách tiền tệ đối với nền kinh tế. Lý thuyết được thực tiễn làm sáng tỏ. Rõ ràng, với chính sách tiền tệ không thể xem thường hay thờ ơ với nó…

Nội dung cơ bản của chính sách tiền tệ

Nói đến tiền là nói đến sự ổn định của tiền, mà sự ổn định của tiền liên quan mật thiết và chịu sự ràng buộc bởi hoạt động của toàn hệ thống ngân hàng. Thông qua các thao tác của mình, Ngân hàng Trung ương (NHTW) có thể làm thay đổi tiền tệ trên tất cả các mặt: lưu lượng, chi phí, giá trị… Toàn bộ các thao tác có liên quan đến tiền của NHTW luôn nằm trong hệ thống những ý đồ mang tính chiến lược mà người ta gọi là chính sách tiền tệ. Nếu chính sách tài chính tập trung vào thành phần, kết cấu các mức chi phí, thuế khoá của Nhà nước, thì chính sách tiền tệ quốc gia lại tập trung vào việc giải quyết khả năng thanh toán cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân, bao gồm việc đáp ứng khối lượng tiền cung ứng cho lưu thông, điều khiển hệ thống tiền tệ và tín dụng đáp ứng vốn cho hoạt động kinh tế, tạo điều kiện thúc đẩy thị trường tiền tệ, thị trường vốn theo những quỹ đạo đã định, kiểm soát hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) và các tổ chức tín dụng khác, cùng với việc xác định tỷ giá hối đoái hợp lý nhằm ổn định và thúc đẩy kinh tế đối ngoại, hướng tới mục tiêu cuối cùng là ổn định tiền tệ, giữ vững sức mua của đồng tiền, ổn định giá cả hàng hoá.

Nội dung quan trọng nhất của chính sách tiền tệ là việc cung ứng tiền cho nền kinh tế. Việc cung ứng tiền có thể thông qua con đường tín dụng, cũng có thể thông qua hoạt động của thị trường mở (mua bán giấy tờ có giá), thị trường hối đoái (mua bán ngoại tệ) và để điều tiết mức tiền cung ứng, NHTW các nước sử dụng các công cụ khác nhau như lãi suất, tỷ giá, dự trữ bắt buộc…

Continue reading

Tọa đàm về sửa đổi Bộ luật Dân sự năm 2005: CẦN BAO NHIÊU QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT?

BÙI NGUYỄN

Trên cơ sở cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 1992, Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2005 đã quy định một cách tương đối đầy đủ, toàn diện (toàn bộ Phần II với 117 Điều) các vấn đề về quyền sở hữu. Tuy nhiên, khi đi vào cuộc sống cũng như trong mối tương quan với các đạo luật khác của hệ thống quốc luật, những quy định về quyền sở hữu trong BLDS năm 2005 cũng bắt đầu cho thấy không ít bất cập. Trong buổi “Tọa đàm về sở hữu trong pháp luật dân sự của một số nước Châu Âu – Sửa đổi BLDS Việt Nam năm 2005” diễn ra mới đây, các chuyên gia pháp lý đã dành khá nhiều thời lượng để “điểm mặt, chỉ tên” những bất cập này, cũng như cách thức để hóa giải chúng.

Quyền của người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản – có cần cụ thể hơn?

            Chế định về quyền sở hữu không chỉ tập trung ở địa vị pháp lý và các quyền chủ thể của chủ sở hữu vì như vậy quyền sở hữu chỉ được nhìn nhận ở phạm vi hẹp. Do đó, trong chế định về quyền sở hữu còn có cả các quy định về quyền của người không phải chủ sở hữu đối với tài sản trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt. Trong BLDS Việt Nam năm 2005, quyền này đã được thể hiện qua nội dung Điều 173. Theo đó, người không phải là chủ sở hữu tài sản chỉ có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản không thuộc quyền sở hữu của mình theo thỏa thuận với chủ sở hữu tài sản đó hoặc theo quy định của pháp luật và các quyền của người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản bao gồm: quyền sử dụng đất; quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề và các quyền khác theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật.

            Tại buổi Tọa đàm, các chuyên gia pháp lý cho rằng việc quy định rõ ràng và đầy đủ hơn về quyền của người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản đã cho thấy BLDS năm 2005 đã có sự hoàn thiện nhất định so với BLDS năm 1995, tương đồng với các vật quyền theo quy định của nhiều nước trên thế giới. Tuy nhiên, vẫn không tránh khỏi một số bật cập như: tính chưa cụ thể (ví dụ BLDS năm 2005 mới chỉ liệt kê về quyền sử dụng đất mà chưa phân chia nhỏ quyền này thành các loại quyền cụ thể như quyền sử dụng đất bề mặt, quyền sử dụng đất để xây công trình ngầm…); tính chưa đầy đủ (hiện nay trong pháp luật tuy có quy định về việc sử dụng đất để xây công trình ngầm, nhưng khái niệm thế nào là công trình ngầm và việc sử dụng đất để xây dựng công trình ngầm, cũng như mối quan hệ giữa quyền đối với công trình trên mặt đất với quyền đối với công trình ngầm chưa được luật điều chỉnh)…

Continue reading

TỌA ĐÀM VỀ SỬA ĐỔI BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005̀: CẦN BAO NHIÊU QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT?

BÙI NGUYỄN

Trên cơ sở cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 1992, Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2005 đã quy định một cách tương đối đầy đủ, toàn diện (toàn bộ Phần II với 117 Điều) các vấn đề về quyền sở hữu. Tuy nhiên, khi đi vào cuộc sống cũng như trong mối tương quan với các đạo luật khác của hệ thống quốc luật, những quy định về quyền sở hữu trong BLDS năm 2005 cũng bắt đầu cho thấy không ít bất cập. Trong buổi “Tọa đàm về sở hữu trong pháp luật dân sự của một số nước Châu Âu – Sửa đổi BLDS Việt Nam năm 2005” diễn ra mới đây, các chuyên gia pháp lý đã dành khá nhiều thời lượng để “điểm mặt, chỉ tên” những bất cập này, cũng như cách thức để hóa giải chúng.

Quyền của người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản – có cần cụ thể hơn?

            Chế định về quyền sở hữu không chỉ tập trung ở địa vị pháp lý và các quyền chủ thể của chủ sở hữu vì như vậy quyền sở hữu chỉ được nhìn nhận ở phạm vi hẹp. Do đó, trong chế định về quyền sở hữu còn có cả các quy định về quyền của người không phải chủ sở hữu đối với tài sản trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt. Trong BLDS Việt Nam năm 2005, quyền này đã được thể hiện qua nội dung Điều 173. Theo đó, người không phải là chủ sở hữu tài sản chỉ có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản không thuộc quyền sở hữu của mình theo thỏa thuận với chủ sở hữu tài sản đó hoặc theo quy định của pháp luật và các quyền của người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản bao gồm: quyền sử dụng đất; quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề và các quyền khác theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật.

            Tại buổi Tọa đàm, các chuyên gia pháp lý cho rằng việc quy định rõ ràng và đầy đủ hơn về quyền của người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản đã cho thấy BLDS năm 2005 đã có sự hoàn thiện nhất định so với BLDS năm 1995, tương đồng với các vật quyền theo quy định của nhiều nước trên thế giới. Tuy nhiên, vẫn không tránh khỏi một số bật cập như: tính chưa cụ thể (ví dụ BLDS năm 2005 mới chỉ liệt kê về quyền sử dụng đất mà chưa phân chia nhỏ quyền này thành các loại quyền cụ thể như quyền sử dụng đất bề mặt, quyền sử dụng đất để xây công trình ngầm…); tính chưa đầy đủ (hiện nay trong pháp luật tuy có quy định về việc sử dụng đất để xây công trình ngầm, nhưng khái niệm thế nào là công trình ngầm và việc sử dụng đất để xây dựng công trình ngầm, cũng như mối quan hệ giữa quyền đối với công trình trên mặt đất với quyền đối với công trình ngầm chưa được luật điều chỉnh)…

Continue reading