THẨM QUYỀN RA QUYẾT ĐỊNH THI HÀNH ÁN

THS. CÙ HOÀNG HANH – Thi hành án dân sự huyện Phú Vang, Thừa Thiên – Huế

Căn cứ vào nhiệm vụ, quyền hạn của người đứng đầu Cơ quan Thi hành án (CQTHA) khoản 1 Điều 16 Pháp lệnh Thi hành án dân sựnăm 2004 (Pháp lệnh THADS) quy định thẩm quyền ra quyết định thi hành án (QĐTHA) là Thủ trưởng CQTHA. Đồng thời căn cứ vào sự phân cấp của CQTHA (CQTHA cấp huyện và CQTHA cấp tỉnh) và sự phân biệt giữa Cơ quan THADS với Cơ quan THA trong quân đội, Điều 21 Pháp lệnh THADS năm 2004 đã quy định cụ thể thẩm quyền ra quyết định thi hành án của Thủ trưởng Cơ quan Thi hành án dân sự.

Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay vẫn còn một số quan điểm khác nhau về thẩm quyền ra QĐTHA đối với những bản án, quyết định của Toà án có yếu tố nước ngoài. Dưới đây là một vụ việc cụ thể mà tác giả muốn đề cập.

Theo Quyết định số 02/2008/QĐST-KDTM ngày 08 tháng 2 năm 2008 của Toà án nhân dân huyện PV thì Công ty TNHH Nam Phú Mỹ (địa chỉ: Phú Thượng, Phú Vang, Thừa Thiên Huế) phải trả nợ cho Công ty TNHH Quốc tế Long Thăng (địa chỉ: 32 Trần Phú, Nha Trang, Khánh Hoà) số tiền 157.000.000đ.

Ngày 05/3/2008, Công ty TNHH Quốc tế Long Thăng có đơn gửi Cơ quan THADS huyện PV để yêu cầu thi hành án khoản tiền trên. Sau khi nhận Đơn yêu cầu thi hành án, Thủ trưởng Cơ quan THADS huyện PV xét thấy đây là vụ việc có yếu tố nước ngoài (Công ty TNHH Quốc tế Long Thăng do ông Wan Chu Ung người Trung Quốc làm Giám đốc) nên đã làm Công văn xin ý kiến chỉ đạo của THADS tỉnh về thẩm quyền ra QĐTHA đối với trường hợp này. Xung quanh vấn đề này hiện đang có hai quan điểm trái ngược nhau.

*Quan điểm thứ nhất cho rằng, đây là vụ việc có yếu tố nước ngoài nên thẩm quyền ra quyết định và tổ chức thi hành là của CQTHA cấp tỉnh .

Cơ sở pháp lý của quan điểm này đưa ra là căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 11 của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989 quy định: Khi có đương sự là người nước ngoài hoặc là người Việt Nam ở nước ngoài thì thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm thuộc thẩm quyền Toà án nhân dân cấp tỉnh, theo đó thì những bản án, quyết định của Toà án có đương sự là người nước ngoài hoặc là người Việt Nam ở nước ngoài (gọi chung là có yếu tố nước ngoài) thuộc thẩm quyền của Cơ quan THADS cấp tỉnh ra quyết định và tổ chức thi hành án.

Continue reading

TRANH CHẤP QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN: “SỐ PHẬN” MỘT THỬA ĐẤT

HOA CÚC LỬA

KTNT – Một vụ kiện đòi lại quyền sử dụng đất trong 30 năm qua đã không còn xa lạ đối với người dân ấp An Bình, xã Định Yên (Lấp Vò – Đồng Tháp). Vấn đề đặt ra là: Ai đã bao che cho quan xã tước đi quyền lợi chính đáng của dân?

1. Theo kiện từ đời cha… đến con

Trên thửa đất 1.240m2, từ năm 1975, ông Nguyễn Văn Bé đã dựng nhà, sinh sống ổn định. Do nằm ở vị trí thuận lợi, năm 1978, UBND xã Định Yên đã biến thửa đất này thành kho chứa lương thực nhưng không hề thực hiện bồi hoàn hay hỗ trợ tiền di dời cho ông Bé. Ông Bé khiếu nại nhiều nơi nhưng không được giải quyết.

Từ năm 1993, kho lương thực bị bỏ hoang. Năm 2000, ông Kiều Thế Tính, Bí thư Đảng uỷ xã Định Yên đã tự ý sử dụng nhà kho này kinh doanh vật liệu xây dựng. Ngày 14/6/2005, Công ty Xuất – nhập khẩu Lương thực Vật tư nông nghiệp Đồng Tháp tổ chức bán đấu giá nhà kho. ông Tính trúng thầu với giá 103.400.000 đồng. Thấy quyền lợi hợp pháp của mình bị xâm hại, ông Bé nhiều lần gửi đơn khiếu nại đến các cơ quan có thẩm quyền đề nghị giải quyết nhưng kết quả không như mong muốn. Sau đó, ông Bé uỷ quyền cho con trai là Nguyễn Ngọc Thế tiếp tục theo kiện.

Ngày 10/4/2006, UBND huyện Lấp Vò ban hành Quyết định số 91/QĐ -UBND-NĐ trả lời khiếu nại đối với ông Thế với nội dung: “Không giao trả phần diện tích 1.240m2 cho ông Nguyễn Ngọc Thế vì phần diện tích đất này đang nằm trong quy hoạch chợ chiếu Định Yên, do đó bồi thường tiền”.

Ngày 11/9/2007, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 432/QĐ -UBND-NĐ cũng đồng ý với quan điểm chỉ bồi thường tiền cho gia đình ông Thế. Tuy nhiên, sự thật là công trình chợ chiếu vẫn bị bỏ ngỏ.

Điều đáng nói nữa là Công văn số 508/VPUBND-NC ngày 3/6/2008 thực hiện chỉ đạo của Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp ghi: “Giao UBND huyện Lấp Vò tiến hành làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (CNQSDĐ) cho gia đình ông Thế nếu dự án quy hoạch chợ chiếu Định Yên chưa thực hiện hoặc không thực hiện. Trường hợp dự án đang triển khai thực hiện thì giải quyết bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho gia đình ông Thế theo quy định. Thời gian thực hiện là 30 ngày. Kết quả giải quyết báo cáo UBND tỉnh”.

Tuy nhiên, cho đến tận bây giờ, ông Thế vẫn chưa đòi lại được quyền lợi chính đáng cho mình.

Continue reading

LUẬT TỤC TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI

PHẠM VĂN CHUNG

Đảng và Nhà nước ta xác định "Nhà nước quản lý xã hội chủ yếu bằng pháp luật". Mặc dù vậy, trong cộng đồng các buôn làng của người dân tộc thiểu số bản địa ở Kon Tum, việc quản lý xã hội buôn làng lại chủ yếu là sử dụng luật tục. Với diện tích tự nhiên khoảng 9.614.000 km2 nhưng dân số chỉ có khoảng gần 400.000 người thuộc nhiều dân tộc anh em cùng chung sống như Kinh, Ja Rai, Jẻ Triêng, Xê Đăng, Ba Na, Brâu, Rơ Mâm… và một số dân tộc khác thuộc các tỉnh phía Bắc mới di cư vào như: Mường, Thái, Tày, Nùng… trong đó các dân tộc thiểu số bản địa chiếm khoảng 54% dân số tự nhiên của tỉnh nên việc sử dụng luật tục trong đời sống xã hội có nhiều nét đặc sắc, phong phú và riêng biệt.

Luật tục với các quan hệ hôn nhân và gia đình

Quan hệ hôn nhân của các dân tộc bản địa ở Kon Tum hầu như được xác lập vững chắc bởi chế độ hôn nhân một vợ một chồng. Trường hợp vợ chồng mà ly hôn thì theo lệ của làng bị phạt rất nặng, chẳng hạn như dân tộc Xê – Đăng cư trú tại huyện Ngọc Hồi nếu khi vợ chồng ly hôn thì cả 2 người đều bị phạt và nếu người chồng mà bỏ vợ dẫn đến vợ chồng ly hôn thì sau 6 năm người chồng đó mới được lấy vợ khác hoặc khi vợ hoặc chồng có người chết trước thì người còn lại sau 3 năm mới được kết hôn. Nếu vi phạm các quy định này cũng bị phạt. Cũng như hầu hết các dân tộc khác, các dân tộc thiểu số ở Kon Tum đều kiêng cấm người đã có vợ, có chồng ngoại tình. Ai vi phạm vào điều cấm này sẽ bị phạt vạ, tuỳ từng dân tộc mà mức phạt vạ là khác nhau, ví dụ như phạt heo và rượu để cả làng cùng uống… Luật tục trong hôn nhân nghiêm cấm những người trong cùng dòng họ lấy nhau, đặc biệt đối với người Jẻ -Triêng đây là điều cấm kỵ, một vài dân tộc khác thì phải cách nhau vài thế hệ, chẳng hạn như với người Gia -Rai phải trải qua 4 đời, người Xê -Đăng là 3 đời… Để tiến đến hôn nhân, cả nam và nữ đều có quyền tự do tìm hiểu yêu đương.

Cũng như nhiều nơi ở Tây Nguyên, mô hình gia đình phổ biến của các dân tộc bản địa ở Kon Tum là đại gia đình bao gồm nhiều thế hệ cùng sống trong ngôi một nhà. Về thiết chế của gia đình, tuỳ theo tính chất hôn nhân của từng dân tộc mà mang tính mẫu hệ, phụ hệ hay song hệ. Người Ba -Na theo chế độ phụ hệ; người Brâu, JaRai theo chế độ mẫu hệ, gia đình Xê -Đăng và Jẻ -Triêng theo chế độ song hệ. Đối với gia đình theo chế độ mẫu hệ thì con sinh ra lấy họ mẹ, người phụ nữ lấy chồng và có quyền lực cao hơn chồng. Đối với gia đình phụ hệ thì ngược lại so với gia đình mẫu hệ, còn gia đình song hệ thì con sinh ra có thể lấy họ cha hoặc họ mẹ việc cư trú sau hôn nhân có sự lưu trú từ 2 phía. Mọi mâu thuẫn, tranh chấp xảy ra trong nội bộ gia đình thì gia đình tự thu xếp giải quyết. Nếu gia đình không tự giải quyết được thì đều được phân xử trước bản làng. Trong gia đình, các vấn đề quan trọng như việc mua bán các tài sản có giá trị thì đều có sự bàn bạc trước giữa vợ và chồng. Luật tục của các dân tộc bản địa ở Kon Tum còn phản ánh mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, trong đó cha mẹ phải có trách nhiệm giáo dục con cái, con cái phải phụng dưỡng cha mẹ khi về già, người nào vi phạm đều bị phạt.

Continue reading

ĐỌC LẠI KHỔNG TỬ ĐỂ HIỂU CON NGƯỜI HIỆN ĐẠI

VƯƠNG TRÍ NHÀN

TBKTSG – Nhiều năm làm nghề phê bình văn học, song mấy năm nay, mỗi lần cầm trên tay một sáng tác, dù văn hay thơ, tôi đều rất ngại. Đọc vào cứ thấy tức tức.

Hoặc đây không phải văn chương, hoặc cảm quan văn học mình bị hỏng. Để giải tỏa mối nghi ngờ bản thân, tôi quay lại đọc văn chương quá khứ, đại khái như Nửa chừng xuân, Gió đầu mùa, Chí Phèo, hoặc Tiếng thu, Lửa thiêng. Thì vẫn thấy mình bị hấp dẫn, nghĩa là mình không có lỗi… Đành buông hẳn sáng tác đương thời, mà đặt toàn bộ công sức vào việc quay trở lại với văn chương cũ.

Tưởng đó chỉ là chuyện riêng của mình, hóa ra có nhiều người trong nhiều lĩnh vực khác cũng đang nghĩ vậy. Báo chí đưa tin loại sách cổ điển đang trở lại với người ta. Trong hoàn cảnh khủng hoảng kinh tế, châu Âu đang đọc lại Mác. Cũng như ở Trung Quốc, người ta đọc lại các nhà triết học thời Bách gia chư tử.

Tại sao lại có hiện tượng như vậy? Trên nét lớn có thể ngờ rằng nay là lúc nhiều người đang bối rối trước đời sống trước mắt, và không tìm ra cách cắt nghĩa các hiện tượng đang xảy ra, nên đành tìm cách khác, hoặc đi đường vòng hoặc lùi xa hơn, chứ không quá chăm chú vào các sự việc trước mắt. Ta đặt mình vào vị thế người xưa. Thấy xã hội xưa nay vẫn vậy, kiếp người xưa nay vẫn vậy, ta yên lòng mà sống…

Lấy ví dụ như trường hợp cuốn Luận ngữ của Khổng Tử. Bên cạnh nguyên văn, sách được các nhà khoa học Trung Hoa lục địa chú giải và “dịch” ra ngôn ngữ hiện đại. Hàng chục triệu bản loại này đã được in ra trong mươi năm gần đây. Lại còn loại sách mà ở Việt Nam mình hay gọi là “ăn theo”, thật ra là sách giải thích các bộ kinh điển nói trên. Vu Đan với Luận ngữ tâm đắc là một kỳ tích của giới nghiên cứu và xuất bản truyền thông Trung Quốc. Bản in cuốn sách này mà tôi đang có trong tay ghi rõ là đến tháng 7-2008 đã in tới 31 lần, tổng cộng 4,75 triệu bản (có tin là sách in lậu cũng phải dăm triệu nữa, tổng cộng lên tới cả chục triệu bản).

Sự vồ vập này được cắt nghĩa từ nhiều góc độ. Có người nói Trung Quốc đang phương Tây hóa quá đậm, phải lo bảo nhau quay về cội nguồn. Đằng sau sự huy hoàng của phát triển là những băng hoại đến từ cuộc va chạm giữa hai nền văn minh.

Continue reading

TRANH CHẤP QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN: ĐÒI “CHIA PHẦN” KHI ĐÃ TỪ BỎ QUYỀN LỢI

ANH ĐỨC

Tháng 6 năm 2005, Tổng công ty Vật tư nông nghiệp (TCT VTNN) góp vốn với một số pháp nhân khác thành lập Công ty cổ phần Vinacam, trụ sở tại 28 Mạc Đĩnh Chi (quận 1 – TP. Hồ Chí Minh). Tháng 9 và 10 năm 2005, TCT VTNN đã lập biên bản bàn giao tài sản và tự nguyện từ bỏ mọi quyền lợi có liên quan, đồng thời bán hết cổ phần tại Vinacam. Tuy nhiên, hiện nay, đơn vị này muốn được quay lại chia chác tài sản không phải của mình.

Bán cổ phần và từ bỏ quyền lợi

Tháng 6/2005, HĐQT Tổng công ty VTNN ra quyết định phê duyệt đề án góp vốn với một số pháp nhân khác thành lập Công ty cổ phần Vinacam. Theo đó, trong tổng vốn điều lệ 34 tỷ đồng của Vinacam, VTNN góp 12,5 tỷ đồng (36,76%). Vốn đóng góp không phải bằng tiền mặt mà bằng giá trị trụ sở, các động sản, bất động sản mà Chi nhánh TCT VTNN tại TP. Hồ Chí Minh (địa chỉ 28, Mạc Đĩnh Chi) đang quản lý sử dụng.

Việc góp vốn đã được xác lập tại biên bản bàn giao tài sản giữa TCT VTNN và Vinacam ngày 5/7/2005. Biên bản này là cơ sở để Vinacam kê khai nhập tài sản, đăng ký làm các thủ tục chuyển quyền sở hữu đối với các tài sản theo quy định của pháp luật….

Ngày 19/9/2005, TCT VTNN có Công văn số 462/VTNN gửi HĐQT Vinacam đề nghị cho chuyển nhượng lại 125.000 cổ phần (100.000 đồng/cổ phần) của mình tại đơn vị này, với lý do: “Giá phân bón tăng cao khoảng 50% so với năm 2004, trong khi hạn mức tín dụng ngân hàng thương mại dành cho TCT VTNN để nhập khẩu phân bón không thay đổi. Để tháo gỡ khó khăn trên, TCT VTNN có chủ trương chuyển nhượng cổ phần tại các công ty cổ phần mà TCT VTNN góp vốn, để sử dụng vốn vào việc nhập khẩu phân bón”.

Sau khi xem xét đề nghị của TCT VTNN, HĐQT Vinacam quyết định mua tối đa 108.000/125.000 cổ phần của TCT VTNN. Sau khi thỏa thuận, trong 2 ngày (5 và 10/10/2005), Vinacam chuyển 10, 8 tỷ đồng vào tài khoản của TCT VTNN. Tiếp đó, ngày 15/6/2006, TCT VTNN lại có Công văn 205/VTNN-CV gửi Vinacam muốn chuyển nhượng tiếp 17.000 cổ phần còn lại. Vinacam đồng ý mua và đã chuyển 1,7 tỷ đồng vào tài khoản của TCT VTNN (ngày 22/6/2006).

Continue reading