THÔNG TIN CẦN THIẾT CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI HỌC TẬP, NGHIÊN CỨU MODUL2 MÔN LUẬT DÂN SỰ THEO HỆ TÍN CHỈ NĂM HỌC 2008 – 2009

1. NỘI DUNG MODUL2:

1.1. Modul 2 có 3 tín chỉ, bao gồm 12 vấn đề:

Vấn đề 1: Khái niệm chung về Nghĩa vụ dân sự

Vấn đề 2: Xác lập, thực hiện, chấm dứt nghĩa vụ dấn ự và trách nhiệm dân sự

Vấn đề 3: Qui định chung về bảo đảm nghĩa vụ dân sự

Vấn đề 4: Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự

Vấn đề 5: Qui định chung về hợp đồng

Vấn đề 6: Hợp đồng chuyển quyền sở hữu tài sản

Vấn đề 7: Hợp đồng chuyển quyền sử dụng tài sản

Vấn đề 8: Hợp đồng có đối tượng là công việc

Vấn đề 9: Nghĩa vụ ngoài hợp đồng

Vấn đề 10: Qui định chung về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Vấn đề 11: Bồi thường thiệt hại do hành vi con người gây ra

Vấn đề 12: Bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra

1.2. Kiến thức tích lũy của sinh viên:

Sinh viên nghiên cứu, tiếp cận 204 mục tiêu nhận thức, trong đó:

– 77 mục tiêu nhận thức bậc 1

– 69 mục tiêu nhận thức bậc 2

– 58 mục tiêu nhận thức bậc 3

1.3. Thời gian triển khai

Được triển khai trong 16 tuần học, trong đó: một tuần 0, 12 tuần triển khai 12 vấn đề trong nội dung Modul1, 1 tuần thảo luận tổng hợp, 2 tuần thuyết trình bài tập nhóm tháng.

2. SỰ HỖ TRỢ DÀNH CHO SINH VIÊN

– Sinh viên được nhà trường cấp cuốn Đề cương môn học Luật dân sự (Modul2);

– Hàng tuần (nằm trong 15 tuần học Modul1) Bộ môn có một buổi tư vấn cho sinh viên (Địa điểm, thời gian xem trong cuốn đề cương môn học Luật dân sự Modul 2;

– Tài liệu tham khảo được hỗ trợ miễn phí tại thư viện Đại học Luật Hà Nội theo hai hình thức: khai thác tại phòng đọc hoặc mượn về nhà (bị giới hạn về số lượng và thời gian mượn tài liệu);

– Sinh viên có thể xin tư vấn từ các giảng viên thông qua gặp trực tiếp hoặc các công cụ điện thoại, Email, chat. Tuy nhiên, các bạn không nên nhắn tin SMS để hỏi giảng viên, gọi điện thoại sau 9 giờ tối, trong các ngày lễ (trừ khi được giảng viên đồng ý).

3. SỰ CHUẨN BỊ TỪ PHÍA SINH VIÊN

– Cần nghiên cứu kỹ cuốn đề cương môn học và Giáo trình Luật dân sự;

– Cần áp dụng phương pháp tự học, tự nghiên cứu;

– Cần chuẩn bị đầy đủ các văn bản pháp luật cần thiết có liên quan;

– Cần đọc các tài liệu tham khảo ngoài giáo trình;

– Cần tích cực tham gia vào hoạt động làm việc nhóm;

– Cần xóa bỏ tâm lý tự ti, e ngại trong giờ thảo luận hoặc khi được tư vấn;

– Chuẫn bị kỹ các câu hỏi trong giờ thảo luận và tư vấn dành cho giáo viên và các bạn. Tránh hỏi ngẫu nhiên, tùy hứng, không có nội dung, mục đích rõ ràng;

– Hãy coi internet là thư viện online của bạn;

– Hãy đưa những kiến thức lý thuyết mà bạn có vào những tình huống thực tế cụ thể;

– Hãy lựa chọn học để lấy kiến thức, kỹ năng hay học để lấy điểm “đẹp” và tấm bằng đại học “đẹp”?;

– Biết lắng nghe và trân trọng những quan điểm khoa học. Nó thể làm bạn “nhức đầu”, “hoang mang”, nhưng nó là “vô giá” sau này khi bạn cần xử lý các vấn đề thực tiễn;

– Hãy từ chối thực hiện hành vi sao chép một phần hoặc toàn bộ nội dung của nhau, hoặc sao chép từ các tài liệu khác không có trích dẫn;

– Những chuẩn bị khác dành cho bạn quyết định…..

4. PHƯƠNG PHÁP, HÌNH THỨC KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ

12.1. Đánh giá thường xuyên

– Kiểm diện;

– Minh chứng tham gia seminar, làm việc nhóm, trắc nghiệm, bài tập nhỏ

12.2. Đánh giá định kỳ

Hình thức Tỉ lệ
Bài tập cá nhân/tuần 15%
Bài tập nhóm/tháng 15%
Bài tập lớn/học kỳ 20%
Thi cuối kỳ 50%

12.3. Tiêu chí đánh giá

* Bài tập cá nhân/tuần

– Hình thức: Bài viết tối đa 3 trang trên khổ giấy A4; cỡ chữ 14; font: Times New Roman hoặc Vn.Time; kích thước các lề trên, dưới, trái, phải theo thứ tự 2.5cm, 2.5cm, 3.5cm, 2cm, dãn dòng 1.5lines (Nếu viết tay tối đa 4 trang trên khổ giấy A4). Không giới hạn số trang các bản phụ lục kèm theo (Nếu có)

– Nội dung: Kiểm tra thái độ tự học, tự nghiên cứu một mục tiêu cụ thể trong nội dung của từng tuần.

– Tiêu chí đánh giá:

+ Xác định đúng vấn đề cần phân tích, bình luận, nghiên cứu;

+ Bài viết đảm bảo tính trung thực, có liên hệ thực tiễn;

+ Ngôn ngữ trong sáng, chuẩn theo tiếng Việt;

+ Tài liệu tham khảo hợp lệ.

Lưu ý:

– Bài tập sao chép một phần hoặc toàn bộ nội dung của nhau, hoặc sao chép từ các tài liệu khác không có trích dẫn bị tính 0 điểm;

– Bài tập có số trang vượt quá yêu cầu bị trừ 25% điểm (không phụ thuộc số trang vượt);

– Bài tập nộp không đúng hạn (Xem lịch trình chi tiết) bị tính 0 điểm.

* Bài tập nhóm/tháng

– Hình thức: Nhóm trình bày báo cáo dưới dạng tiểu luận, bài viết tối đa 15 trang trên khổ giấy A4; cỡ chữ 14; font: Times New Roman hoặc Vn.Time; kích thước các lề trên, dưới, trái, phải theo thứ tự 2.5cm, 2.5cm, 3.5cm, 2cm, dãn dòng 1.5 lines (Nếu viết tay số trang tối đa là 18). Không giới hạn số trang các bản phụ lục kèm theo (Nếu có)

– Nội dung: Giải quyết một trong các bài tập nhóm/tháng (trong bộ bài tập); thái độ của các thành viên của nhóm cũng như khả năng phối hợp làm việc nhóm, khi giải quyết bài tập được giao.

– Tiêu chí đánh giá:

+ Xác định đúng vấn đề cần phân tích, bình luận, nghiên cứu;

+ Bài viết đảm bảo tính trung thực, có liên hệ thực tiễn;

+ Ngôn ngữ trong sáng, chuẩn theo tiếng Việt;

+ Tài liệu tham khảo hợp lệ.

+ Báo cáo được kết quả làm việc nhóm.

Lưu ý:

– Bài tập sao chép một phần hoặc toàn bộ nội dung của nhau, hoặc sao chép từ các tài liệu khác không có trích dẫn bị tính 0 điểm;

– Bài tập có số trang vượt quá yêu cầu bị trừ 25% điểm (không phụ thuộc số trang vượt);

– Bài tập nộp không đúng hạn (Xem lịch trình chi tiết) bị tính 0 điểm.

* Bài tập lớn/học kỳ

– Hình thức: Bài luận tối đa 20 trang trên khổ giấy A4; cỡ chữ 14; font: Times New Roman hoặc Vn.Time; kích thước các lề trên, dưới, trái, phải theo thứ tự 2.5cm, 2.5cm, 3.5cm, 2cm, dãn dòng 1.5lines (Nếu viết tay số trang tối đa 25 trang A4), đóng thành quyển. Không giới hạn số trang các bản phụ lục kèm theo (Nếu có)

– Nội dung: Giải quyết một bài tập lớn học kỳ (trong bộ bài tập hoặc sinh viên tự chọn).

– Tiêu chí đánh giá:

+ Xác định vấn đề rõ ràng, hợp lý, khả thi;

+ Phân tích lập luận logic sâu sắc, có liên hệ thực tiễn hoặc nhằm giải quyết một vấn đề mà thực tế đặt ra;

+ Ngôn ngữ trong sáng, chuẩn theo tiếng Việt;

+ Tài liệu tham khảo hợp lệ.

* Lưu ý:

– Bài tập sao chép một phần hoặc toàn bộ nội dung của nhau, hoặc sao chép từ các tài liệu khác không có trích dẫn bị tính 0 điểm;

– Bài tập có số trang vượt quá yêu cầu bị trừ 25% điểm (không phụ thuộc số trang vượt);

– Bài tập nộp không đúng hạn (Xem lịch trình chi tiết) bị tính 0 điểm.

(CIVILLAWINFOR TỔNG HỢP)

Sơ lược lịch sử phát triển của nền luật học Việt Nam THỜI PHÁP THUỘC VÀ MIỀN NAM VIỆT NAM TRƯỚC ĐÂY

saigon_palais_justice1 LS. LÊ CÔNG ĐỊNH

Nền luật học Việt Nam phát triển qua nhiều giai đoạn khác nhau, tương ứng với mỗi giai đoạn lịch sử cận đại và hiện đại của dân tộc, khởi đầu dưới thời Pháp thuộc khi xuất hiện trường đào tạo chuyên môn về luật pháp ở Hà Nội, đó là Trường Luật và Pháp chính (Ecole de Droit et d’Administration) được thành lập theo Nghị định ngày 15/10/1917 của Toàn quyền Đông Dương.

Trong thời gian gần 38 năm hiện hữu từ 1917 đến 1955 nền luật học thời Pháp thuộc đã du nhập vào Việt Nam những nguyên tắc pháp lý hoàn toàn mới mẻ so với quan niệm luật pháp phương Đông vốn tồn tại hàng ngàn năm dưới ảnh hưởng của Khổng giáo qua các triều đại phong kiến từ nhà Lý đến nhà Nguyễn.

Có thể nói Trường Luật và Pháp chính đã đặt viên đá đầu tiên cho một nền luật học dựa trên những nguyên tắc pháp lý theo quan niệm phương Tây, được hiểu bao gồm các hệ thống Luật Dân sự (Civil Law) của khối châu Âu lục địa, hệ thống Thông luật (Common Law) của khối Anglo-Saxon và hệ thống Luật Xã hội Chủ nghĩa của khối Liên-Xô cũ.

Mục đích của Trường Luật và Pháp chính là hoàn thiện kiến thức phổ thông và khả năng nghề nghiệp cho những người bản xứ muốn được thu dụng vào ngạch hành chính Pháp hay ngạch quan lại Việt Nam. Trình độ của những người tốt nghiệp trường này chưa đạt bậc cao đẳng.

Khi số lượng người có bằng trung học phổ thông ngày càng gia tăng, thì Trường Luật và Pháp chính được thay thế bằng Trường Cao học Đông Dương (Ecole des Hautes Etudes Indochinoises) để tuyển vào những sinh viên có bằng Tú tài toàn phần cho chương trình đào tạo 4 năm. Dù trình độ của trường này có cao hơn so với trường trước đó, nhưng Trường Cao học Đông Dương vẫn chưa phải là một Đại học Luật khoa theo đúng nghĩa mà nước Pháp thời bấy giờ đã có.

Chương trình luật bậc đại học của Pháp chỉ chính thức giảng dạy đầy đủ tại Việt Nam khi Trường Cao đẳng Luật khoa (Ecole Supérieure de Droit) được thành lập theo Sắc lệnh ngày 11/9/1931. Tuy nhiên, do tình hình suy thoái của cuộc đại khủng hoảng kinh tế toàn cầu lúc đó, nên mãi 2 năm sau Trường Cao đẳng Luật khoa mới chính thức khai giảng vào ngày 15/2/1933 với 101 sinh viên và 3 giáo sư.

Chương trình đào tạo bậc Cử nhân của Trường Cao đẳng Luật khoa kéo dài trong 3 năm học liên tục. Kể từ năm 1935 trường mở thêm chương trình đào tạo năm thứ tư dành cho những sinh viên muốn thi lấy Chứng chỉ Luật học Đông Dương (Certificat d’Etudes Juridiques Indochinoises).

Continue reading

SƠ LƯỢC LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA NỀN LUẬT HỌC VIỆT NAM THỜI PHÁP THUỘC VÀ MIỀN NAM VIỆT NAM TRƯỚC ĐÂY

saigon_palais_justice1 LS. LÊ CÔNG ĐỊNH

Nền luật học Việt Nam phát triển qua nhiều giai đoạn khác nhau, tương ứng với mỗi giai đoạn lịch sử cận đại và hiện đại của dân tộc, khởi đầu dưới thời Pháp thuộc khi xuất hiện trường đào tạo chuyên môn về luật pháp ở Hà Nội, đó là Trường Luật và Pháp chính (Ecole de Droit et d’Administration) được thành lập theo Nghị định ngày 15/10/1917 của Toàn quyền Đông Dương.

Trong thời gian gần 38 năm hiện hữu từ 1917 đến 1955 nền luật học thời Pháp thuộc đã du nhập vào Việt Nam những nguyên tắc pháp lý hoàn toàn mới mẻ so với quan niệm luật pháp phương Đông vốn tồn tại hàng ngàn năm dưới ảnh hưởng của Khổng giáo qua các triều đại phong kiến từ nhà Lý đến nhà Nguyễn.

Có thể nói Trường Luật và Pháp chính đã đặt viên đá đầu tiên cho một nền luật học dựa trên những nguyên tắc pháp lý theo quan niệm phương Tây, được hiểu bao gồm các hệ thống Luật Dân sự (Civil Law) của khối châu Âu lục địa, hệ thống Thông luật (Common Law) của khối Anglo-Saxon và hệ thống Luật Xã hội Chủ nghĩa của khối Liên-Xô cũ.

Mục đích của Trường Luật và Pháp chính là hoàn thiện kiến thức phổ thông và khả năng nghề nghiệp cho những người bản xứ muốn được thu dụng vào ngạch hành chính Pháp hay ngạch quan lại Việt Nam. Trình độ của những người tốt nghiệp trường này chưa đạt bậc cao đẳng.

Khi số lượng người có bằng trung học phổ thông ngày càng gia tăng, thì Trường Luật và Pháp chính được thay thế bằng Trường Cao học Đông Dương (Ecole des Hautes Etudes Indochinoises) để tuyển vào những sinh viên có bằng Tú tài toàn phần cho chương trình đào tạo 4 năm. Dù trình độ của trường này có cao hơn so với trường trước đó, nhưng Trường Cao học Đông Dương vẫn chưa phải là một Đại học Luật khoa theo đúng nghĩa mà nước Pháp thời bấy giờ đã có.

Chương trình luật bậc đại học của Pháp chỉ chính thức giảng dạy đầy đủ tại Việt Nam khi Trường Cao đẳng Luật khoa (Ecole Supérieure de Droit) được thành lập theo Sắc lệnh ngày 11/9/1931. Tuy nhiên, do tình hình suy thoái của cuộc đại khủng hoảng kinh tế toàn cầu lúc đó, nên mãi 2 năm sau Trường Cao đẳng Luật khoa mới chính thức khai giảng vào ngày 15/2/1933 với 101 sinh viên và 3 giáo sư.

Chương trình đào tạo bậc Cử nhân của Trường Cao đẳng Luật khoa kéo dài trong 3 năm học liên tục. Kể từ năm 1935 trường mở thêm chương trình đào tạo năm thứ tư dành cho những sinh viên muốn thi lấy Chứng chỉ Luật học Đông Dương (Certificat d’Etudes Juridiques Indochinoises).

Continue reading

VIỆC THI CỬ Ở NƯỚC TA: Làm ssao gắn với thực tiễn

PHÙNG HỒ HẢI

Như vậy hiện nay chúng ta vẫn phải đối mặt với một thực tế không thay đổi được, đó là kỳ thi tuyển sinh vào đại học. Vấn đề đặt ra là chúng ta cần làm là sao cho kỳ thi đó có chất lượng hơn, có ích hơn cho học sinh, cho xã hội. Và việc này nằm trong tầm tay của Bộ GD&ĐT.

Thi cử vốn là một truyền thống  của người Việt. Khoa thi Đình chọn ra các tiến sĩ đầu tiên được tổ chức từ gần 1000 năm trước (1075). Con đường của hầu hết các sỹ tử ngày xưa rất rõ ràng: thi đỗ thì được ra làm quan. Sự học ngày xưa lấy thi làm mục đích. Học có giỏi mấy mà thi không đỗ thì cũng chỉ làm được nghề ”gõ đầu trẻ” và chỉ biết than thân trách phận mình không may mắn.

Như lời Trần Tế Xương, ”thi không ngậm ớt thế mà cay”.

Với sự du nhập của nền văn minh phương Tây, thực tài dần dần được coi trọng. Ngày nay các tiến sĩ ra lò thực ra mới chỉ là những anh ”tập sự”, mới xong giai đoạn nghiên cứu sinh tức là học cách nghiên cứu.

Về bằng cấp, tiến sĩ là cao nhất. Tuy nhiên các tiến sĩ còn phải chứng minh thực lực của mình trong công việc và chỉ có thực tài mới đảm bảo chỗ đứng của họ trong xã hội.

Một trong những lý do khiến nền văn minh Châu Âu thời kỳ Phục hưng vượt qua nền văn minh Trung Quốc chính là việc coi trọng thực tài hơn bằng cấp. Ở nhiều nước Tây Âu và Mỹ ngày nay không có kỳ thi đại học. Đa số sinh viên học đại học là để có được kiến thức chứ không phải chỉ để có bằng. Bởi quy luật cạnh tranh của KTTT đào thải những người mà khả năng không tương xứng với bằng cấp của mình. Ở các nước tư bản phát triển những trường hợp người ta phải giấu bớt bằng cấp khi đi xin việc không phải là hiếm. Ở các nước này thất nghiệp có nghĩa là không tìm được việc phù hợp với trình độ của mình chứ không đơn thuần là không có việc làm. Tôi cho rằng đây là cái đích mà chúng ta phải tiến tới, tuy nhiên không thể lạc quan tếu mà khẳng định chúng ta sẽ ở trình độ đó trong vòng 20, 30 năm tới.

Trong khoảng mười năm lại đây tại nước ta có một xu thế ngược lại. Với tinh thần ”chuẩn hóa bằng cấp” người ta đổ xô đi học cao học, nghiên cứu sinh để có được những tấm bằng thạc sỹ, tiến sĩ, nhằm mục đích lên lương, lên chức, lên (quân) hàm,…, chống về hưu sớm. Cũng khác với thời xưa, bằng tiến sĩ ngày nay kiếm cũng dễ. Không phải là một kỳ thi Đình do đích thân Thiên tử ra đề mà chỉ là một hội đồng, ít nhất hai phần ba trong đó có chuyên môn chẳng mấy liên quan tới chuyên môn vị tiến sĩ tương lai. Tại hầu hết các hội đồng người ta đã biết trước kết quả là ”thành công tốt đẹp”.

Continue reading

VIỆC THI CỬ Ở NƯỚC TA: LÀM SAO GẮN VỚI THỰC TIỄN

PHÙNG HỒ HẢI

Như vậy hiện nay chúng ta vẫn phải đối mặt với một thực tế không thay đổi được, đó là kỳ thi tuyển sinh vào đại học. Vấn đề đặt ra là chúng ta cần làm là sao cho kỳ thi đó có chất lượng hơn, có ích hơn cho học sinh, cho xã hội. Và việc này nằm trong tầm tay của Bộ GD&ĐT.

Thi cử vốn là một truyền thống  của người Việt. Khoa thi Đình chọn ra các tiến sĩ đầu tiên được tổ chức từ gần 1000 năm trước (1075). Con đường của hầu hết các sỹ tử ngày xưa rất rõ ràng: thi đỗ thì được ra làm quan. Sự học ngày xưa lấy thi làm mục đích. Học có giỏi mấy mà thi không đỗ thì cũng chỉ làm được nghề ”gõ đầu trẻ” và chỉ biết than thân trách phận mình không may mắn.

Như lời Trần Tế Xương, ”thi không ngậm ớt thế mà cay”.

Với sự du nhập của nền văn minh phương Tây, thực tài dần dần được coi trọng. Ngày nay các tiến sĩ ra lò thực ra mới chỉ là những anh ”tập sự”, mới xong giai đoạn nghiên cứu sinh tức là học cách nghiên cứu.

Về bằng cấp, tiến sĩ là cao nhất. Tuy nhiên các tiến sĩ còn phải chứng minh thực lực của mình trong công việc và chỉ có thực tài mới đảm bảo chỗ đứng của họ trong xã hội.

Một trong những lý do khiến nền văn minh Châu Âu thời kỳ Phục hưng vượt qua nền văn minh Trung Quốc chính là việc coi trọng thực tài hơn bằng cấp. Ở nhiều nước Tây Âu và Mỹ ngày nay không có kỳ thi đại học. Đa số sinh viên học đại học là để có được kiến thức chứ không phải chỉ để có bằng. Bởi quy luật cạnh tranh của KTTT đào thải những người mà khả năng không tương xứng với bằng cấp của mình. Ở các nước tư bản phát triển những trường hợp người ta phải giấu bớt bằng cấp khi đi xin việc không phải là hiếm. Ở các nước này thất nghiệp có nghĩa là không tìm được việc phù hợp với trình độ của mình chứ không đơn thuần là không có việc làm. Tôi cho rằng đây là cái đích mà chúng ta phải tiến tới, tuy nhiên không thể lạc quan tếu mà khẳng định chúng ta sẽ ở trình độ đó trong vòng 20, 30 năm tới.

Trong khoảng mười năm lại đây tại nước ta có một xu thế ngược lại. Với tinh thần ”chuẩn hóa bằng cấp” người ta đổ xô đi học cao học, nghiên cứu sinh để có được những tấm bằng thạc sỹ, tiến sĩ, nhằm mục đích lên lương, lên chức, lên (quân) hàm,…, chống về hưu sớm. Cũng khác với thời xưa, bằng tiến sĩ ngày nay kiếm cũng dễ. Không phải là một kỳ thi Đình do đích thân Thiên tử ra đề mà chỉ là một hội đồng, ít nhất hai phần ba trong đó có chuyên môn chẳng mấy liên quan tới chuyên môn vị tiến sĩ tương lai. Tại hầu hết các hội đồng người ta đã biết trước kết quả là ”thành công tốt đẹp”.

Continue reading

TRANH CHẤP DO VI PHẠM LUẬT CẠNH TRANH: Công ty cổ phần Sinh hóa Minh Đức cạnh tranh thiếu lành mạnh?

NGUYỄN MINH

Với mục tiêu hướng đến nền nông nghiệp hữu cơ, an toàn, bền vững, những năm gần đây, các ngành chức năng tích cực tuyên truyền nông dân hạn chế sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu hóa học trong trồng trọt. Lợi dụng điều này, một số doanh nghiệp đã sản xuất phân bón giả, kém chất lượng dưới nhãn mác phân hữu cơ sinh học, đánh lừa nông dân. Vụ việc mới xảy ra tại Công ty cổ phần Sinh hóa Minh Đức ở Phú Minh (Sóc Sơn – Hà Nội) là một ví dụ.

Biến phân vô cơ thành phân hữu cơ

Năm 2006, Công ty cổ phần Sinh hóa Minh Đức tung ra thị trường sản phẩm phân bón hữu cơ sinh học K-Humat 18.000ppm loại 15ml và 10ml. Điều đáng nói là loại phân này không hề có trong Danh mục các loại phân bón được phép sản xuất, kinh doanh và sử dụng ở Việt Nam do Bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành.

Tại văn bản ngày 27/11/2006 do ông Trương Hợp Tác, Trưởng phòng Sử dụng đất và phân bón (Cục Trồng trọt – Bộ Nông nghiệp và PTNT) trả lời báo Nông nghiệp Việt Nam có ghi: “Phân hữu cơ sinh học K-Humat do Công ty Minh Đức sản xuất hiện nay chưa thấy có tên trong Danh mục phân bón được phép sản xuất, kinh doanh và sử dụng ở Việt Nam do Bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành kèm theo Quyết định số 40 ngày 19/8/2004; Quyết định số 77 ngày 23/11/2005; Quyết định số 55 ngày 7/7/2006”.

Cũng tại văn bản số 942 do Cục trưởng Cục Trồng trọt Nguyễn Trí Ngọc ký ngày 5/8/2008 về việc xác nhận sản phẩm phân bón K-H của Công ty cổ phần Sinh hóa Minh Đức và Công ty cổ phần Thanh Hà cho Trung tâm Thông tin doanh nghiệp cho thấy: Sản phẩm K-Humat của Công ty Minh Đức không có tên trong Danh mục phân bón được phép sản xuất, kinh doanh và sử dụng ở Việt Nam. Trong danh mục này, chỉ có sản phẩm MĐ 101 và MĐ 201HT của Công ty Minh Đức, nhưng chúng nằm trong mục phân vô cơ chứ không phải hữu cơ sinh học.

Trong Công văn số 23/CV/MĐ-2008 của Công ty cổ phần Sinh hoá Minh Đức gửi các ban ngành, ông Nguyễn Thanh Đức, Giám đốc Công ty cho rằng: “Chúng tôi không có sản phẩm nào có tên thương mại là K-H… Việc quảng cáo thành phần K-Humat 18.000ppm tuân thủ theo đúng pháp luật”. Tuy nhiên, ông Đức không biết rằng, theo quy định về nhãn mác, tên thành phần bao giờ cũng phải ghi nhỏ hơn tên thương mại của sản phẩm. Một điều nữa là trong bản tự công bố sản phẩm của Công ty Minh Đức không hề có thành phần nào là hữu cơ sinh học K-Humat.

Continue reading

TRANH CHẤP DO VI PHẠM LUẬT CẠNH TRANH: CÔNG TY CỔ PHẦN SINH HÓA MINH ĐỨC CẠNH TRANH THIẾU LÀNH MẠNH?

NGUYỄN MINH

Với mục tiêu hướng đến nền nông nghiệp hữu cơ, an toàn, bền vững, những năm gần đây, các ngành chức năng tích cực tuyên truyền nông dân hạn chế sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu hóa học trong trồng trọt. Lợi dụng điều này, một số doanh nghiệp đã sản xuất phân bón giả, kém chất lượng dưới nhãn mác phân hữu cơ sinh học, đánh lừa nông dân. Vụ việc mới xảy ra tại Công ty cổ phần Sinh hóa Minh Đức ở Phú Minh (Sóc Sơn – Hà Nội) là một ví dụ.

Biến phân vô cơ thành phân hữu cơ

Năm 2006, Công ty cổ phần Sinh hóa Minh Đức tung ra thị trường sản phẩm phân bón hữu cơ sinh học K-Humat 18.000ppm loại 15ml và 10ml. Điều đáng nói là loại phân này không hề có trong Danh mục các loại phân bón được phép sản xuất, kinh doanh và sử dụng ở Việt Nam do Bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành.

Tại văn bản ngày 27/11/2006 do ông Trương Hợp Tác, Trưởng phòng Sử dụng đất và phân bón (Cục Trồng trọt – Bộ Nông nghiệp và PTNT) trả lời báo Nông nghiệp Việt Nam có ghi: “Phân hữu cơ sinh học K-Humat do Công ty Minh Đức sản xuất hiện nay chưa thấy có tên trong Danh mục phân bón được phép sản xuất, kinh doanh và sử dụng ở Việt Nam do Bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành kèm theo Quyết định số 40 ngày 19/8/2004; Quyết định số 77 ngày 23/11/2005; Quyết định số 55 ngày 7/7/2006”.

Cũng tại văn bản số 942 do Cục trưởng Cục Trồng trọt Nguyễn Trí Ngọc ký ngày 5/8/2008 về việc xác nhận sản phẩm phân bón K-H của Công ty cổ phần Sinh hóa Minh Đức và Công ty cổ phần Thanh Hà cho Trung tâm Thông tin doanh nghiệp cho thấy: Sản phẩm K-Humat của Công ty Minh Đức không có tên trong Danh mục phân bón được phép sản xuất, kinh doanh và sử dụng ở Việt Nam. Trong danh mục này, chỉ có sản phẩm MĐ 101 và MĐ 201HT của Công ty Minh Đức, nhưng chúng nằm trong mục phân vô cơ chứ không phải hữu cơ sinh học.

Trong Công văn số 23/CV/MĐ-2008 của Công ty cổ phần Sinh hoá Minh Đức gửi các ban ngành, ông Nguyễn Thanh Đức, Giám đốc Công ty cho rằng: “Chúng tôi không có sản phẩm nào có tên thương mại là K-H… Việc quảng cáo thành phần K-Humat 18.000ppm tuân thủ theo đúng pháp luật”. Tuy nhiên, ông Đức không biết rằng, theo quy định về nhãn mác, tên thành phần bao giờ cũng phải ghi nhỏ hơn tên thương mại của sản phẩm. Một điều nữa là trong bản tự công bố sản phẩm của Công ty Minh Đức không hề có thành phần nào là hữu cơ sinh học K-Humat.

Continue reading

BẢO VỆ QUYỀN NHÂN THÂN CỦA CÁ NHÂN: VỤ HAI VỢ CHỒNG ÔNG LÃO 80 TUỔI BỊ ĐUỔI RA VỈA HÈ Ở THÁI BÌNH, CHÍNH QUYỀN “ĐẦU HÀNG” NGƯỜI VI PHẠM?

TRUNG ĐÔNG PHƯƠNG

Khi đặt bút viết bài viết này, chúng tôi tự đặt câu hỏi vì sao trong suốt quá trình xử lý hậu quả, nhất là sau khi các cơ quan ngôn luận đã nhiều lần lên tiếng, cộng với sự cam kết công khai với công luận của lãnh đạo UBND TP. Thái Bình (tỉnh Thái Bình) mà hai vợ chồng già trên 80 tuổi vẫn phải ăn tết ở vỉa hè? Phải chăng vụ việc này không thể xử lý?

Kiên quyết xử lý… trên giấy

Liên tiếp trên các số báo trong năm 2008, ĐS&PL đã có nhiều bài viết phân tích về các dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự của vụ việc này. Xuyên suốt nội dung vụ việc các bài viết mà bản báo đã đăng tải, đều tập trung vào việc phân tích hành vi đưa người đến "chiếm nhà" đập phá đồ đạc của người khác với bất kỳ lý do, nguyên nhân nào đều là vi phạm pháp luật. Hành vi này đáng lý ra phải được ngăn chặn ngay từ đầu, bởi nó diễn ra giữa thanh thiên bạch nhật song thực tế các cấp chính quyền, đặc biệt là lãnh đạo UBND phường Đề Thám đã không thể làm việc đó. Diễn biến của sự việc ngày càng “nóng” dần khi vụ việc vượt ra khỏi tầm kiểm soát của chính quyền phường Đề Thám. Còn nhớ trước tết Nguyên đán, trong buổi làm việc với PV ĐS &PL ông Nguyễn Văn Hưng, Phó Chủ tịch thường trực UBND TP.Thái Bình khẳng định: "Lãnh đạo TP. Thái Bình sẽ chỉ đạo, kiên quyết xử lý dứt điểm vụ việc trước tết Nguyên đán. Sau khi nhận được đơn thư phản ánh của gia đình cụ Vũ Xuân Kiều, UBND TP. đã giao cho đồng chí Đỗ Khắc Dũng, Chánh Thanh tra chủ trì phối hợp với các ngành chức năng TP. để làm rõ 4 vấn đề: Xác minh các thủ tục chuyển quyền sử dụng căn nhà số 238 đường Trần Hưng Đạo, phường Đề Thám giữa anh Tiến, chị Tân (con trai ông bà bị đuổi ra vỉa hè) sang cho anh Tuấn, chị Kim Anh vào tháng 10.2008 là đúng hay sai?; Làm rõ việc chị Kim Anh cho người đến chuyển đồ đạc, vật dụng của gia đình ông Kiều ra ngoài vỉa hè vào ngày 8.12.2008; Việc xảy ra mất an ninh trật tự vi phạm quy chế quản lý đô thị thì trách nhiệm thuộc về ai? Cuối cùng làm rõ trách nhiệm các cá nhân có liên quan tới vụ việc này”.

Tuy nhiên, trên thực tế, vợ chồng ông Vũ Xuân Kiều đã phải đón một cái tết trên vỉa hè theo đúng nghĩa!

Continue reading

TRANH CHẤP BẤT ĐỘNG SẢN LIỀN KỀ: KHIẾU KIỆN KÉO SÀI DO CƠ QUAN CHỨC NĂNG “LÀM LIỀU”?

HUYỀN THƯ

Bức tường là ranh giới giữa hai thửa đất liền kề. Năm 2003, khi xảy ra tranh chấp, hòa giải không thành, vụ việc được chuyển từ xã lên huyện rồi bị "chìm xuồng". Tháng 3/2008, chủ sử dụng mới nhận chuyển nhượng một thửa đất đã phá tường, xây nhà, "nuốt" luôn bức tường đang có tranh chấp. Khi vụ việc tiếp tục được xem xét, mọi người mới tá hỏa, phần diện tích của bức tường đã nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của chủ sử dụng mới. Sự việc trên diễn ra tại xã Ngọc Thụy, huyện Gia Lâm, nay là phường Ngọc Thụy (Long Biên – Hà Nội).

Năm 1993, bà Tạ Quán Nam, hộ khẩu thường trú tại số 51, ngõ 203, phố Tôn Đức Thắng (Đống Đa – Hà Nội) được ông Nguyễn Gia Liêm ở thôn Gia Quất, xã Ngọc Thụy chuyển nhượng 2.050m2 đất tại số 2, ngách 264/42, phường Ngọc Thụy. Việc mua bán có xác nhận của chính quyền địa phương. Thời điểm chuyển nhượng, con ngõ từ đường đi chung của thôn vào thửa đất chỉ có gia đình ông Liêm sử dụng. Vì ngõ nhỏ nên ông Liêm đã dẫn bà Nam đến gặp bà Lý – chủ sử dụng thửa đất liền kề, bàn bạc mở rộng lối đi. Bà Lý đồng ý bán cho bà Nam 11,5m2 đất thuộc quyền quản lý, sử dụng của gia đình mình, dọc lối đi từ thửa đất bà Nam nhận chuyển nhượng ra đường đi của thôn. Trong giấy mua bán viết tay, hai bên thống nhất: “Bà Nam có toàn quyền sử dụng lối vào kể từ phần tường xây giáp vườn nhà bà Lý".

Tuy nhiên, năm 2003, gia đình bà Lý lại phá bức tường này, xây một bức tường khác ngay trên móng tường cũ. Sau khi nhận được đơn khiếu nại của bà Nam, chính quyền xã Ngọc Thụy đã lập biên bản, ra quyết định xử phạt hành chính gia đình bà Lý vì xây nhà cấp 4 trái phép trên phần đất đang có tranh chấp, yêu cầu đình chỉ xây dựng, khôi phục nguyên trạng. Vụ việc sau đó được báo cáo lên huyện, Thanh tra xây dựng huyện Gia Lâm đã có văn bản yêu cầu chính quyền xã Ngọc Thụy cưỡng chế tháo dỡ công trình vi phạm, nhưng mọi việc… dậm chân tại chỗ.

Hành vi vi phạm ban đầu không bị xử lý dứt điểm đã trở thành tiền đề cho các vi phạm tiếp theo. Tháng 3/2008, phát hiện một chủ sử dụng đất mới phá một đoạn bức tường ranh giới, đào móng cả phần diện tích đang tranh chấp để xây nhà, gia đình bà Nam lại có đơn khiếu nại. Đến lúc này gia đình bà mới biết phần đất có móng của bức tường cũ đã nằm gọn trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) của gia đình ông Đặng Đình Tuấn, người nhận chuyển nhượng đất từ con trai bà Lý.

Continue reading

TRANH CHẤP QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN: VỤ KIỆN TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI Ở BÌNH MỸ (TÂN UYÊN – BÌNH DƯƠNG), TIỀN HẬU BẤT NHẤT

A.C

KTNT – Qua đơn khiếu nại của ông Phạm Văn Tâm và bà Phạm Thị Lợi, ngụ tại ấp Đồng Sặt, xã Bình Mỹ (Tân Uyên – Bình Dương), chúng tôi đã xác minh và nhận thấy việc khiếu nại của gia đình ông Tâm là có cơ sở.

Theo tìm hiểu, chúng tôi được biết, ông Phạm Văn Tâm tham gia cách mạng từ năm 1960, là cháu nội của ông Phạm Văn Tửng, người khai phá và để lại phần đất đang tranh chấp.

Ông Tửng khi qua đời để lại cho ông Phạm Văn Huột và ông Phạm Văn Trâm thửa đất rộng 1.984m2, toạ lạc tại xã Bình Mỹ. Năm 1962, ông Trâm qua đời chỉ còn ông Huột chăm sóc và canh tác đến khi miền Nam hoàn toàn giải phóng. Lúc này ông Phạm Văn Tâm đang công tác trong quân đội về thăm cha, thấy cha già không ai phụng dưỡng nên ông xin phục viên nghỉ hưu và canh tác trên mảnh đất của gia đình.

Cùng thời gian này có 2 người cháu là Trương Thị Bưởi và Trương Thị Bông do hoàn cảnh khó khăn đã đến xin mượn tạm một phần số đất trên để canh tác. Nghĩ tình ruột thịt, ông Tâm chấp thuận với điều kiện, chỉ trồng hoa màu, không được trồng cây lâu năm và cất nhà trại. Sau khi làm rẫy được vài mùa, ông Tâm thu hồi lại đất và quản lý cho đến bây giờ.

Năm 2000, huyện Tân Uyên cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Tâm nhưng kiểm tra không đúng với diện tích thực tế nên ông xin điều chỉnh lại và phát sinh tranh chấp, do ông Hận, em bà Bưởi cho rằng ông Tâm kê khai cả đất của bà Bưởi vào đất của ông. Sau nhiều lần hoà giải không thành, UBND huyện chỉ đạo giao phần đăng ký trên cho bà Bưởi, với yêu cầu trong 30 ngày nếu ông Tâm không khiếu nại sẽ giải quyết cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Bưởi. Lập tức ông Tâm làm đơn khiếu nại, gửi ông Nguyễn Hồng Quốc (cán bộ địa chính lúc bấy giờ), yêu cầu giải quyết công bằng và đúng pháp luật. Không hiểu sao, lá đơn đó không đến được các cấp có thẩm quyền để xem xét giải quyết. Do đó, các cấp có thẩm quyền cho rằng, ông Tâm không khiếu nại gì trong hạn định, sau khi hết 30 ngày, hội đồng xét duyệt đã công nhận quyền sử dụng đất (QSDĐ) cho bà Bưởi, số 02369/QSDĐ TK ngày 26/8/2002.

Continue reading