SINH VIÊN MỸ: BẠN LÀ AI?

ĐỖ HỮU TÂM – Irvine Valley College, California USA

Vào tháng Giêng năm 2009 vừa qua, Viện Nghiên cứu Giáo dục Đại học (HERI – Higher Education Research Institute) của trường Đại học California ở Los Angeles (UCLA – University of California, Los Angeles) đã cho công bố một bản phúc trình, tạm dịch là “Những điểm tiêu biểu về người sinh viên năm thứ nhất của đại học Mỹ cho học kỳ mùa Thu năm 2008” (The American Freshman: National Norms for Fall 2008).

Đây là kết quả cuộc khảo sát do Phân khoa Giáo dục của Đại học UCLA thực hiện với gần 250.000 sinh viên năm thứ nhất hiện đang học toàn thời gian trong chương trình Cử nhân của 340 đại học khắp nước Mỹ. Những kết quả trong bản phúc trình đã được điều chỉnh bằng phương pháp thống kê để phản ánh con số 1.400.000 sinh viên năm thứ nhất trên toàn nước Mỹ nhập học vào mùa Thu năm 2008. (Tưởng cũng nên biết đây là một bản phúc trình hằng năm được bắt đầu thực hiện kể từ năm 1966. Trong 4 thập niên vừa qua, tổng cộng hơn 13 triệu sinh viên năm thứ nhất từ 1.700 đại học trên toàn nước Mỹ đã lần lượt tham dự vào các cuộc khảo sát để đúc kết nên những bản phúc trình này).

Dưới đây là bài lược dịch và tóm tắt một số trong rất nhiều thông tin tiêu biểu trong bản phúc trình này nhằm giới thiệu với những nhà giáo dục và đặc biệt là các bạn sinh viên Việt Nam một cái nhìn về những người sinh viên đồng tuổi với các bạn tại Mỹ, một trong những quốc gia có nền đại học rất tiên tiến vừa trong ngành khoa học tự nhiên và công nghệ vừa trong ngành khoa học nhân văn và nghệ thuật.

Dĩ nhiên, nền đại học Mỹ có nhiều ưu điểm nhưng cũng không ít khuyết điểm như mọi nền đại học khác trên thế giới và câu trả lời của các sinh viên này chỉ phản ánh những hiện tượng và truyền thống trong giới hạn của chiều dài lịch sử và chiều sâu văn hóa đặc thù của xã hội Mỹ mà thôi.

Cá nhân của người sinh viên Mỹ

Continue reading

TRỌNG TÀI KINH TẾ: “NGƯỜI THỨ 3” CÔNG BẰNG

HẢI NGỌC

Giải quyết tranh chấp thương mại thông qua Trọng tài kinh tế đã, đang và sẽ trở thành cách giải quyết hiệu quả, tích cực nhất mà DN lựa chọn. Các DN VN cũng nên "chơi" theo cách này để tránh các vụ kiện kinh tế không cần thiết trước tòa mà vẫn bảo toàn mối quan hệ hợp tác với bên tranh chấp – Đó là nhận định của nhiều chuyên gia kinh tế và luật pháp.

Theo Chủ tịch Nguyễn Minh Chí – Trung tâm Trọng tài quốc tế VN (VIAC): Năm 2008, số lượng vụ kiện do VIAC tiếp nhận và xử lý lên con số 58 vụ, tại các nước phát triển, phương thức giải quyết tranh chấp kinh tế thông qua trọng tài thương mại rất phổ biến, nhất là ở những nước có nền kinh tế phát triển, cộng đồng DN VN chủ yếu bao gồm các DNNVV, DN quy mô gia đình nên việc đưa tranh chấp ra giải quyết bằng một thiết chế chính thức, trọng tài hay toà án, với các căn cứ pháp lý cụ thể là chưa nhiều.

DN vẫn thích dùng… “giải pháp tại chỗ”

Theo thống kê của Trung tâm Trọng tài quốc tế VN, trong khoảng 2 năm trở lại đây, có gần 60% số vụ tranh chấp thương mại ở VN là xảy ra giữa các DN trong nước với các đối tác nước ngoài. Và DN VN hầu như vẫn thường thua thiệt trước các DN nước ngoài trong các cuộc chơi kinh tế do thiếu nhiều kinh nghiệm thương trường. Khi bất đồng quan điểm trong kinh doanh các bên đối tác lập tức xảy ra tranh chấp nhưng cách mà các DN VN thường làm là đưa sự việc ra tòa án địa phương để giải quyết.

Tiến sĩ Micheal Moser – Chủ tịch Trung tâm Trọng tài kinh tế quốc tế HongKong (HKIAC) gọi đó là "giải pháp tại chỗ" và ông cho rằng giải pháp này không phải là cách hiệu quả để lấy được công bằng trong các vụ tranh chấp thương mại. Vì nếu DN VN muốn được giải quyết tranh chấp thương mại tại nước mình để hưởng các "ưu thế sân nhà" thì DN nước ngoài cũng vậy. Như vậy, các bên tranh chấp dù đã nhận được phán xét cuối cùng của tòa án cũng không thỏa mãn hoàn toàn, từ đó có thể dẫn đến việc cưỡng chế thi hành các quyết định của tòa án như bồi thường thiệt hại cũng khó thực hiện. Hơn nữa, chi phí cho các vụ kiện từ khi bắt đầu đến khi kết thúc có thể lớn gấp nhiều lần so với số tiền có thể bên thắng kiện được nhận. Do đó, để giải quyết dễ dàng và đảm bảo khách quan cho tất cả các bên trong tranh chấp, Tiến sĩ Moser khuyên các DN VN nên tìm công bằng tại một "người thứ ba" đó là các trọng tài kinh tế quốc tế.

Continue reading

Tọa đàm về sửa đổi Bộ luật Dân sự năm 2005: QUI ĐỊNH VỀ QUYỀN SỞ HỮU CÒN NHIỀU BẤT CẬP

BÙI NGUYỄN

Trên cơ sở cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 1992, Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2005 đã quy định một cách tương đối đầy đủ, toàn diện (toàn bộ Phần II với 117 Điều) các vấn đề về quyền sở hữu. Tuy nhiên, khi đi vào cuộc sống cũng như trong mối tương quan với các đạo luật khác của hệ thống quốc luật, những quy định về quyền sở hữu trong BLDS năm 2005 cũng bắt đầu cho thấy không ít bất cập. Trong buổi “Tọa đàm về sở hữu trong pháp luật dân sự của một số nước Châu Âu – Sửa đổi BLDS Việt Nam năm 2005” diễn ra mới đây, các chuyên gia pháp lý đã dành khá nhiều thời lượng để “điểm mặt, chỉ tên” những bất cập này, cũng như cách thức để hóa giải chúng.

Quyền của người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản – có cần cụ thể hơn?

Chế định về quyền sở hữu không chỉ tập trung ở địa vị pháp lý và các quyền chủ thể của chủ sở hữu vì như vậy quyền sở hữu chỉ được nhìn nhận ở phạm vi hẹp. Do đó, trong chế định về quyền sở hữu còn có cả các quy định về quyền của người không phải chủ sở hữu đối với tài sản trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt. Trong BLDS Việt Nam năm 2005, quyền này đã được thể hiện qua nội dung Điều 173. Theo đó, người không phải là chủ sở hữu tài sản chỉ có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản không thuộc quyền sở hữu của mình theo thỏa thuận với chủ sở hữu tài sản đó hoặc theo quy định của pháp luật và các quyền của người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản bao gồm: quyền sử dụng đất; quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề và các quyền khác theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật.

Tại buổi Tọa đàm, các chuyên gia pháp lý cho rằng việc quy định rõ ràng và đầy đủ hơn về quyền của người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản đã cho thấy BLDS năm 2005 đã có sự hoàn thiện nhất định so với BLDS năm 1995, tương đồng với các vật quyền theo quy định của nhiều nước trên thế giới. Tuy nhiên, vẫn không tránh khỏi một số bật cập như: tính chưa cụ thể (ví dụ BLDS năm 2005 mới chỉ liệt kê về quyền sử dụng đất mà chưa phân chia nhỏ quyền này thành các loại quyền cụ thể như quyền sử dụng đất bề mặt, quyền sử dụng đất để xây công trình ngầm…); tính chưa đầy đủ (hiện nay trong pháp luật tuy có quy định về việc sử dụng đất để xây công trình ngầm, nhưng khái niệm thế nào là công trình ngầm và việc sử dụng đất để xây dựng công trình ngầm, cũng như mối quan hệ giữa quyền đối với công trình trên mặt đất với quyền đối với công trình ngầm chưa được luật điều chỉnh)… Từ việc chỉ ra bất cập, các chuyên gia pháp lý đề xuất khi tiến hành sửa đổi, trong phần quy định về quyền của người không phải chủ sở hữu đối với tài sản, bên cạnh những quy định đã có, BLDS cần bổ sung thêm những quy định cụ thể các loại vật quyền như: quyền sở hữu, quyền sử dụng đất (đã phân chia cụ thể thành các loại cụ thể quyền sử dụng đất bề mặt để xây nhà, trồng trọt, công trình xây dựng, quyền sử dụng đất để xây dựng công trình ngầm…), quyền khai thác khoáng sản, quyền sử dụng suối nước nóng… Mặt khác, các loại quyền của doanh nghiệp nhà nước và cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp khi các cơ quan này được Nhà nước giao tài sản để quản lý, sử dụng cũng là đối tượng cần được nghiên cứu để có những quy định phù hợp.

Continue reading

TỌA ĐÀM VỀ SỬA ĐỔI VỀ BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005: QUI ĐỊNH VỀ QUYỀN SỞ HỮU CÒN NHIỀU BẤT CẬP

BÙI NGUYỄN

Trên cơ sở cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 1992, Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2005 đã quy định một cách tương đối đầy đủ, toàn diện (toàn bộ Phần II với 117 Điều) các vấn đề về quyền sở hữu. Tuy nhiên, khi đi vào cuộc sống cũng như trong mối tương quan với các đạo luật khác của hệ thống quốc luật, những quy định về quyền sở hữu trong BLDS năm 2005 cũng bắt đầu cho thấy không ít bất cập. Trong buổi “Tọa đàm về sở hữu trong pháp luật dân sự của một số nước Châu Âu – Sửa đổi BLDS Việt Nam năm 2005” diễn ra mới đây, các chuyên gia pháp lý đã dành khá nhiều thời lượng để “điểm mặt, chỉ tên” những bất cập này, cũng như cách thức để hóa giải chúng.

Quyền của người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản – có cần cụ thể hơn?

Chế định về quyền sở hữu không chỉ tập trung ở địa vị pháp lý và các quyền chủ thể của chủ sở hữu vì như vậy quyền sở hữu chỉ được nhìn nhận ở phạm vi hẹp. Do đó, trong chế định về quyền sở hữu còn có cả các quy định về quyền của người không phải chủ sở hữu đối với tài sản trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt. Trong BLDS Việt Nam năm 2005, quyền này đã được thể hiện qua nội dung Điều 173. Theo đó, người không phải là chủ sở hữu tài sản chỉ có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản không thuộc quyền sở hữu của mình theo thỏa thuận với chủ sở hữu tài sản đó hoặc theo quy định của pháp luật và các quyền của người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản bao gồm: quyền sử dụng đất; quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề và các quyền khác theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật.

Tại buổi Tọa đàm, các chuyên gia pháp lý cho rằng việc quy định rõ ràng và đầy đủ hơn về quyền của người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản đã cho thấy BLDS năm 2005 đã có sự hoàn thiện nhất định so với BLDS năm 1995, tương đồng với các vật quyền theo quy định của nhiều nước trên thế giới. Tuy nhiên, vẫn không tránh khỏi một số bật cập như: tính chưa cụ thể (ví dụ BLDS năm 2005 mới chỉ liệt kê về quyền sử dụng đất mà chưa phân chia nhỏ quyền này thành các loại quyền cụ thể như quyền sử dụng đất bề mặt, quyền sử dụng đất để xây công trình ngầm…); tính chưa đầy đủ (hiện nay trong pháp luật tuy có quy định về việc sử dụng đất để xây công trình ngầm, nhưng khái niệm thế nào là công trình ngầm và việc sử dụng đất để xây dựng công trình ngầm, cũng như mối quan hệ giữa quyền đối với công trình trên mặt đất với quyền đối với công trình ngầm chưa được luật điều chỉnh)… Từ việc chỉ ra bất cập, các chuyên gia pháp lý đề xuất khi tiến hành sửa đổi, trong phần quy định về quyền của người không phải chủ sở hữu đối với tài sản, bên cạnh những quy định đã có, BLDS cần bổ sung thêm những quy định cụ thể các loại vật quyền như: quyền sở hữu, quyền sử dụng đất (đã phân chia cụ thể thành các loại cụ thể quyền sử dụng đất bề mặt để xây nhà, trồng trọt, công trình xây dựng, quyền sử dụng đất để xây dựng công trình ngầm…), quyền khai thác khoáng sản, quyền sử dụng suối nước nóng… Mặt khác, các loại quyền của doanh nghiệp nhà nước và cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp khi các cơ quan này được Nhà nước giao tài sản để quản lý, sử dụng cũng là đối tượng cần được nghiên cứu để có những quy định phù hợp.

Continue reading

NỘP THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN VỀ BẤT ĐỘNG SẢN: NHIỀU KẼ HỞ?!

PHẠM TUYÊN

Từ 1/1/2009, người có từ hai bất động sản trở lên, khi bán sẽ phải nộp thuế thu nhập cá nhân. Tuy nhiên, nhiều người có trách nhiệm của ngành thuế thừa nhận vẫn còn kẽ hở lớn trong việc thực hiện quy định này.

Chủ yếu căn cứ trên giấy sở hữu

Ông Nguyễn Duy Minh, Phó ban Quản lý Thuế thu nhập Cá nhân, Tổng cục Thuế, cho biết nguyên tắc để miễn thuế với tài sản duy nhất được hiểu là người có quyền sở hữu nhà, đất ở khi bán đi mà không còn chỗ nào để ở.

Ví dụ, vì điều kiện công tác, anh phải chuyển đến sống ở nơi khác; sau khi bán anh không còn nhà, không còn đất để xây dựng nhà; khi đó, anh được xếp vào trường hợp chuyển nhượng bất động sản duy nhất và không bị tính thuế. Nhưng sau khi bán căn nhà duy nhất và chuyển về ở nhà bố mẹ, anh chị em và được hưởng thừa kế căn nhà đó thì lúc bán căn nhà được thừa hưởng này, người bán  phải chịu thuế.

Ông Nguyễn Huy Trường cho biết người kê khai hồ sơ chứng minh người phụ thuộc không nhất thiết phải công chứng, chứng thực hồ sơ trước khi nộp cho cơ quan thuế mà chỉ cần mang bản gốc đến cơ quan thuế để đối chiếu với bản photo được nộp. Cơ quan thuế chịu trách nhiệm kiểm tra để chấp thuận.

Đại diện Tổng cục Thuế cũng cho biết việc tính thuế chỉ xảy ra khi có sự chuyển nhượng và được cơ quan nhà nước chứng thực. Trường hợp giấy tờ chuyển nhượng nhà, đất ở viết tay giữa các cá nhân không được tính là có căn cứ pháp lý.

Hiện nay nhiều mảnh đất chưa được cấp kịp thời giấy chứng nhận quyền sử dụng cho người sở hữu, nhưng căn cứ xác định bất động sản duy nhất của người bán, ngành thuế vẫn chỉ biết dựa trên bản tự khai và giấy tờ xác nhận quyền sở hữu của người đó.

Continue reading

VỀ NHỮNG TẮC ĐỘNG SAU 2 NĂM GIA NHẬP WTO ĐỐI VỚI MỘT SỐ NGÀNH HÀNG Ở VIỆT NAM

PGS.TS. LÊ DANH VĨNH – TT Bộ Công thương

Việt Nam đã là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) được 2 năm. So với quãng đường 11 năm, kể từ ngày Việt Nam nộp đơn xin gia nhập WTO đến khi là thành viên chính thức, thì thời gian trên là quá ngắn ngủi. Tuy nhiên, việc đánh giá tác động của 2 năm đầu tiên gia nhập lại có vai trò và ý nghĩa rất quan trọng để chúng ta nhìn nhận một cách thực chất hơn về những vấn đề mang tính dự đoán trước đây, từ đó có những giải pháp chiến lược và đối sách phù hợp hơn.

Cách đây 2 năm, chúng ta đã từng chứng kiến một sự kiện quan trọng – đó là việc Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO. Để có được thành công này, trước hết, phải khẳng định chủ trương đúng đắn và các biện pháp thích hợp của Đảng và Chính phủ trong việc chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Một mặt, chúng ta tích cực và chủ động đổi mới từ trong nước; mặt khác, chúng ta kiên trì và khôn khéo trong đàm phán, chủ động đưa ra các bản chào cam kết sao cho có thể mang lại nhiều cơ hội và hạn chế tối đa các thách thức do gia nhập WTO đem lại. Đồng thời, đó cũng là công lao đóng góp rất lớn của các nhà khoa học, các nhà quản lý, các nhà doanh nghiệp, đặc biệt là các nhà đám phán của ta trong việc tham mưu cho Đảng và Chính phủ để nhận diện rõ hơn, đầy đủ hơn và toàn diện hơn về những mặt thuận lợi và khó khăn, cơ hội và thách thức, cũng như những điểm mạnh, điểm yếu của hàng hóa và doanh nghiệp Việt Nam khi phải thực hiện các cam kết gia nhập WTO.

Đến nay, sau 2 năm là thành viên chính thức của tổ chức này, chúng ta có thể bước đầu đánh giá một cách tổng quát những tác động của việc gia nhập đối với một số ngành hàng công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ của Việt Nam như sau:

1 – Về các tác động tích cực và kết quả mang lại

Có thể khẳng định, sau 2 năm gia nhập WTO năng lực sản xuất và kinh doanh của các ngành hàng đã tăng lên rõ rệt. Mặc dù trong thời gian qua, các biến động phức tạp của nền kinh tế toàn cầu, như sự thay đổi "chóng mặt" của giá năng lượng, lương thực và nhiều loại nguyên liệu khác, cùng với sự khủng khoảng của hệ thống tài chính toàn cầu đã và đang có ảnh hưởng lan tỏa đến hầu hết các nền kinh tế và thương mại thế giới. Các tác động này cũng có ảnh hưởng rất lớn đối với nền kinh tế và thương mại của Việt Nam vốn có quy mô nhỏ bé, đang phát triển ở trình độ thấp, nhưng độ mở cao và đang phải mở cửa thị trường để thực hiện cam kết gia nhập WTO. Tuy nhiên, hầu hết các ngành hàng của nước ta đều giữ được tốc độ tăng trưởng cao so với nhiều nước trong khu vực. Theo số liệu ước tính, năm 2008, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tăng 31% so với năm 2007 (nếu loại trừ yếu tố tăng giá, mức tăng còn 7%); kim ngạch xuất khẩu đạt 62,9 tỉ USD, tăng 29,5% so với năm 2007; kim ngạch nhập khẩu đạt 79,9 tỉ USD, tăng 27,5% so với năm 2007. Nhìn chung, xuất khẩu các mặt hàng chủ lực thuộc các ngành hàng công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ đều tăng rõ rệt. Chẳng hạn, hàng điện tử và linh kiện máy tính đạt 2,7 tỉ USD, tăng 25,5% so với năm 2007; hàng dệt may đạt 9,1 tỉ USD, tăng 17,5%; sản phẩm gỗ đạt 2,78 tỉ USD, tăng 15,6%; cà phê đạt 2,02 tỉ USD, tăng 5,8%; cao su đạt 1,6 tỉ USD, tăng 14,6%.

Continue reading

BẠO LỰC GIA ĐÌNH – S0S

TIENPHONG- Qua diễn biến phiên tòa sơ thẩm vụ án bạo lực gia đình (BLGĐ) ở Hà Nam, có thể thấy Luật Phòng chống BLGĐ tuy có hiệu lực thi hành, song để nó thực sự đi vào cuộc sống không dễ. Ba luật sư của Đoàn luật sư TP Hà Nội bảo vệ miễn phí cho bị hại trong vụ án ở Hà Nam đều là tình nguyện viên của CSAGA (Trung tâm Nghiên cứu & Ứng dụng Khoa học về Giới – Gia đình – Phụ nữ & Vị thành niên, tổ chức phi chính phủ chuyên tư vấn, bảo vệ miễn phí cho các nạn nhân BLGĐ).

Để tìm hiểu tình trạng BLGĐ ở Việt Nam hiện nay, sau phiên tòa, PV Tiền Phong có cuộc trao đổi với các chuyên gia tư vấn của CSAGA, cũng như các luật sư nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực phòng chống BLGĐ.

Kể mãi không hết…

Trên các tỉnh thành trong toàn quốc, trung bình cứ ba ngày có một phụ nữ chết vì BLGĐ. Số vụ án ly hôn có nguyên nhân từ nạn BLGĐ chiếm 61 phần trăm tổng số án ly hôn hiện nay.
Chị Phạm sống tại một huyện miền núi phía tây Nghệ An (vì nhiều lý do, các nạn nhân BLGĐ trong bài viết này đều được đổi tên, các địa chỉ là có thực), lấy chồng 20 năm nay, có ba con.

Chồng chị cục cằn thô lỗ, thêm tật nghiện rượu. Những hôm anh ta nhậu say, chị Thúy khó thoát một trận đòn vô cớ. Ba lần chị Thúy đưa đơn ra tòa, rồi lại rút đơn. Bởi những khi tỉnh rượu, chồng chị tỏ ra ăn năn hối hận, cầu xin chị tha thứ, hứa sẽ sửa chữa.

Chị Phạm gọi điện đến trung tâm tư vấn, hỏi về việc có nên đưa đơn ra tòa lần thứ tư không. Nếu không, trung tâm có thể khuyên chị cách nào để ngăn chặn được những trận đòn của chồng mà chị vẫn đang phải chịu đựng…

Chị Nguyễn ở Cầu Giấy – Hà Nội, lấy chồng 16 năm nay, có ba con, chồng không nghiện rượu nhưng có nhóm máu “D”, từng quan hệ bất chính với cả… chị dâu mình. Anh ta còn cao hứng quay video clip. Khi biết vợ đã xem cái “clip” đó, anh ta tặng luôn chị Nguyễn một trận đòn thừa sống thiếu chết, dọa sẽ… giết nếu để lộ chuyện.

Continue reading

PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG “BỎ QUÊN” HỢP TÁC XÃ

NGƯỜI ĐẠI BIỂU NHÂN DÂN – Tính đến hết năm 2008, khu vực kinh tế tập thể (KTTT) đã thu hút, tạo việc làm cho hơn 12,5 triệu xã viên và người lao động. Tuy nhiên, một trong những khó khăn đối với khu vực này là quá trình thực thi và vận dụng các quy định của pháp luật lao động và quan hệ lao động còn rất hạn chế.

Cho đến nay, tuy khu vực KTTT chưa xảy ra xung đột tranh chấp lao động lớn dẫn đến đình công… nhưng hiện tại cho thấy có nhiều bất ổn đang tiềm ẩn. Quá trình vận dụng các quy định của Bộ Luật Lao động và các văn bản hướng dẫn thi hành đã bộc lộ nhiều hạn chế, một số quan hệ lao động mới phát sinh nhưng chưa được pháp luật điều chỉnh kịp thời.

Có thể khẳng định, quan hệ lao động trong HTX có sự khác biệt tương đối so với quan hệ lao động trong các doanh nghiệp Nhà nước và các loại hình doanh nghiệp khác. Trong HTX, xã viên là chủ sở hữu vừa là người làm công ăn lương, HTX là người sử dụng lao động nên xã viên và người lao động có quyền đòi hỏi HTX thực hiện đầy đủ các chính sách về các quan hệ lao động nhưng đồng thời cũng phải có trách nhiệm đối với những người lao động không phải là xã viên HTX. Lợi ích của HTX được phân bổí đều và nằm trong lợi ích của từng xã viên. Do vậy, trong quá trình hoạt động, nhiều quy định của pháp luật lao động hiện hành chưa thực sự “khớp” và bao quát được thực tế diễn biến trong quan hệ lao động của tổ chức kinh tế HTX. Ví dụ trong Luật Lao động có rất nhiều quy định về lao động trong doanh nghiệp (Điều 3, 10, 11, 17, 20, 23, 24…) nhưng không quy định cho HTX dẫn đến nhiều việc nếu chuyển theo các điều khoản của Luật Lao động thì các HTX không có căn cứ để thực hiện.

Phó ban Chính sách Liên minh HTX Việt Nam Phan Vĩnh Điển viện dẫn: về phạm vi điều chỉnh của Bộ Luật Lao động, Điều 1 Bộ Luật Lao động quy định: “Bộ Luật Lao động điều chỉnh quan hệ lao động giữa người lao động làm công ăn lương với người sử dụng lao động và các quan hệ xã hội liên quan trực tiếp với quan hệ lao động”.

Continue reading