CÔNG VĂN SỐ 1484/BTC-TCT NGÀY 10/2/2009 CỦA BỘ TÀI CHÍNH VỀ XỬ LÝ THUẾ ĐỐI VỚI KHOẢN TIỀN ĐẶT CỌC VỎ BÌNH GA

Kính gửi: Cục thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Bộ Tài chính nhận được một số kiến nghị của doanh nghiệp đề nghị hướng dẫn xử lý về thuế và hạch toán kế toán đối với khoản tiền đặt cọc vỏ bình ga theo hướng dẫn tại công văn 7640 TC/TCT ngày 21/06/2005. Về vấn đề này, Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện thống nhất như sau:

1. Phân bổ chi phí đối với vỏ bình ga khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp:

Vỏ bình ga của các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh ga loại có giá trị dưới 10 triệu đồng/vỏ được coi là công cụ, dụng cụ phục vụ sản suất kinh doanh, thực hiện phương thức hạch toán phân bổ chi phí như sau: thời gian phân bổ giá trị đối với các loại vỏ bình đựng ga loại có giá trị dưới 10 triệu đồng/vỏ tính vào chi phí sản xuất, kinh doanh tối đa là 05 năm. Trường hợp các vỏ bình ga đã tiến hành phân bổ mà thời gian phân bổ còn lại dưới 05 năm thì tiếp tục phân bổ tiếp cho số năm còn lại nhưng vẫn phải đảm bảo nguyên tắc phân bổ hết giá trị vỏ bình ga tối đa trong 05 năm. Trường hợp các vỏ bình ga đã tiến hành phân bổ mà thời gian phân bổ còn lại lớn hơn 05 năm thì doanh nghiệp thực hiện điều chỉnh số năm phân bổ còn lại, đảm bảo thời gian phân bổ còn lại tối đa không quá 05 năm.

2. Thuế giá trị gia tăng áp dụng đối với vỏ bình ga và phương thức kết chuyển thu nhập khác:

– Trường hợp bán vỏ bình ga: các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh ga và các cơ sở kinh doanh vỏ bình ga khi thực hiện bán vỏ bình ga phải xuất hóa đơn giá trị gia tăng, tính thuế giá trị gia tăng, kê khai và nộp thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp đối với vỏ bình ga bán ra như các loại hàng hóa khác.

Continue reading

SỬA ĐỔI ĐIỀU 126 LUẬT NHÀ Ở: KHUYẾN KHÍCH KIỀU BÀO VỀ XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC

BÌNH AN

Luật Nhà ở năm 2005 lần đầu tiên cho phép một số đối tượng là người Việt Nam (VN) định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại VN. Tuy nhiên, theo báo cáo của Chính phủ, sau hơn 2 năm thực hiện Luật Nhà ở chỉ có hơn 140 trường hợp người VN định cư ở nước ngoài được công nhận quyền sở hữu nhà ở tại VN, trong đó chủ yếu là những đối tượng thuộc diện về đầu tư lâu dài theo quy định tại khoản 1 Điều 126 Luật  nhà ở. Con số này so với nhu cầu thực tế là quá ít ỏi. Lý giải về điều này, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Hồng Quân cho rằng, đó là các đối tượng người VN định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở VN theo Luật Nhà ở quá hẹp. Mặt khác, một số quy định của Luật này không rõ ràng, gây khó khăn cho việc áp dụng thực hiện.

Trong khi đó, Nghị quyết số 19 của Quốc hội thí điểm cho phép tổ chức, cá nhân nước ngoài được mua nhà ở VN đã mở rộng hơn về đối tượng so với Luật Nhà ở nên việc sửa đổi Điều 126 là cần thiết.

Phải có cống hiến thực sự mới được mua nhà.

Theo Dự thảo, đối tượng được sở hữu nhà đã mở rộng hơn với Luật hiện hành. Theo đó, người VN định cư ở nước ngoài đang tạm trú hợp pháp ở VN thì có quyền sở hữu nhà ở tại VN bao gồm: người có quốc tịch VN; người gốc VN, bao gồm: người về đầu tư trực tiếp tại VN; người có công đóng góp cho đất nước; nhà văn hóa, nhà khoa học; người có kỹ năng đặc biệt mà VN có nhu cầu; người kết hôn với công dân VN ở trong nước.

Ông Trần Thế Vượng Trưởng Ban dân nguyện Quốc hội đặt vấn đề: các nhà văn hóa, nhà khoa học, người có kỹ năng đặc biệt thì VN cần thật, nhưng họ có vào VN để làm việc thực sự hay không, Cơ quan có thẩm quyền cấp thị thực cho họ trong 3 tháng nhưng thực tế họ chỉ ở VN có 1,2 tuần. Có khi họ vào VN lại vì mục đích du lịch mà không phải làm việc. Cứ theo Luật thì chỉ cần họ xuất trình giấy của cơ quan có thẩm quyền là được sở hữu nhà trong khi không có cống hiến gì cho đất nước. Như vậy là không ổn.

Continue reading

LUẬT ĐẤU THẦU VÀ LUẬT ĐẦU TƯ “RÀNG BUỘC” CÁC DOANH NGHIỆP TRONG NƯỚC?

TRẦN THỊ SÁNH

Theo quy định của Luật Đấu thầu hiện hành, việc đấu thầu EPC (tổng thầu) hoặc từng gói thầu của các dự án đầu tư xây dựng được chia làm hai giai đoạn. Giai đoạn sơ tuyển về năng lực, kinh nghiệm và giai đoạn đấu thấu thương mại và giá. Theo phương thức lựa chọn này thì hầu hết các nhà thầu đều vượt qua giai đoạn 1, vì các nhà thầu có thể thuê các nhà tư vấn có kinh nghiệm làm bài. Giai đoạn 2 là đấu giá. Thực chất đấu thầu ở Việt Nam hiện nay là đấu về giá. Với cách làm này thì không có nhà thầu nào có thể vượt qua các nhà thầu Trung Quốc.

Thực chất là đấu về giá

Nhiều năm qua, Chính phủ Trung Quốc đã có nhiều chính sách ưu đãi, trợ giá cho các doanh nghiệp trong nước, đặc biệt với các tập đoàn, các doanh nghiệp thực hiện các dự án ở nước ngoài, nhằm đảm bảo đời sống và việc làm cho công nhân của họ. Chính vì vậy, nhà thầu Trung Quốc luôn bỏ giá thấp hơn các nhà thầu của các nước khác. Với hàng loạt dự án do Trung Quốc làm tổng thầu ở Việt Nam hiện nay, họ đã đưa sang nước ta hàng ngàn lao động phổ thông, trong đó có cả nấu ăn, vệ sinh, bảo vệ… như ở Nhà máy nhiệt điện Quảng Ninh, Hải Phòng, Cao Ngạn, xi măng Nghi Sơn, Đồng Bành, đạm Cà Mau, Ninh Bình…, trong khi người lao động nước ta đang thất nghiệp. Một lượng vốn rất lớn để tạo ra một khối lượng công việc, giá trị sản xuất, doanh thu và thị trường công ăn việc làm của chúng ta trong lĩnh vực này đều do người Trung Quốc thực hiện. Vì thế hậu quả của những tác động và hệ luỵ của nó đối với nền kinh tế, xã hội nước ta là điều tất yếu.

Theo ông Phạm Hùng – Tổng giám đốc Lilama: Hiện chúng ta đang vận dụng một cách cứng nhắc và máy móc Luật Đấu thầu của các nước và ngân hàng tư bản mà chúng ta quên rằng hình thức sở hữu của các nước này so với nước ta đang hoàn toàn khác. Các nhà đầu tư của các nước tư bản là các nhà đầu tư tư nhân. Nhà máy, dự án là sở hữu riêng của họ, trong khi ở nước ta tài sản, của cải, nhà máy, dự án là của Nhà nước. Khi chúng ta chưa đa dạng và thay đổi hình thức sở hữu mà lại áp dụng vội vàng và cứng nhắc Luật Đấu thầu của nước ngoài sẽ làm thiệt hại đến quyền lợi quốc gia, cản trở quá trình công nghiệp hóa và xây dựng các tập đoàn công nghiệp trong nước.

Continue reading

NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM – GIẢI PHÁP NÀO CHO SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

MBA. NGUYỄN KHÁNH TRUNG

Xu thế toàn cầu hoá đang từng giờ, từng ngày tác động nhiều lãnh vực họat động kinh tế xã hội Việt Nam. Sự hội nhập nền kinh tế thế giới càng được nhận thấy rõ qua các chỉ tiêu kinh tế, đầu tư trực tiếp nước ngoài, số lượng công ty, sự phong phú về hàng hoá, dịch vụ, quảng cáo… Sự phát triển của các hệ thống nhượng quyền thương mại bằng cách tận dụng tối ưu các nguồn lực của các nhà nhượng quyềnnhà nhận quyền tại Việt Namcũng không nằm ngoài xu thế này. Trong xu thế đó, vần đề đặt ra là làm sao củng cố vững chắc hệ thống đại lý nhượng quyền trong xu thế cạnh tranh quốc tế như hiện nay?

Để củng cố và phát triển hệ thống nhượng quyền thương mại tại Việt Nam, nhà nhượng quyền Việt Nam cần xây dựng môt hệ thống các qui trình, qui định, giải pháp sao cho hệ thống vừa đảm bảo phát triển hiệu quả trong ngắn hạn và bền vững trong dài hạn. Cụ thể là nâng cao chất lượng chuyển giao và chất lượng quan hệ cho hệ thống nhượng quyền của mình.

Chất lượng chuyển giao là chất lượng của toàn bộ các yếu tố ngắn hạn được chuyển từ nhà nhượng quyền cho nhà nhận quyền từ lúc khởi nghiệp. Chất lượng chuyển giao tập trung nhận diện và nhận định các nhân tố ảnh hưởng đến thành công của nhà nhận quyền trong việc khởi nghiệp, cụ thể là xem xét các tiêu chuẩn tối thiểu cho việc khởi sự và quản lý của nhà nhận quyền cho phù hợp và hiệu quả. Thông thường, các yếu tố này thường được nhà nhượng quyền thể hiện trong hồ sơ nhượng quyền và cụ thể hoá trong hợp đồng nhượng quyền. Trong đó, cả hai bên cam kết thực hiện hàng loạt các cam kết nhằm tối đa hoá lợi ích của hai bên. Chất lượng chuyển giao thường được quan tâm nhất là chất lượng của sản phẩm cung ứng, mô hình kinh doanh, thời gian hoạt động, qui trình đào tạo, vấn đề về cấp phép, thời gian cung cấp hàng hóa – dịch vụ, về quyền phân phối, độc quyền, phí chuyển nhượng, phí vận hành hàng tháng, hiệu quả của các chương trình tiếp thị, kinh doanh và những hỗ trợ khác như vận hành, tài chính, tiếp cận và cung cấp thông tin hệ thống, bí quyết kinh doanh, các qui định bắt buộc nhà nhận quyền tuân theo, thương hiệu, các qui trình kinh doanh, qui trình huấn luyện, khả năng phát triển kinh doanh của nhà nhận quyền, thái độ tham gia huấn luyện, cam kết thanh toán của các nhà nhận quyền, cam kết của nhà nhận quyền về tính đồng nhất và minh bạch trong kinh doanh…

Continue reading