VẤN ĐỀ VIỆT KIỀU

image NGUYỄN NGỌC GIAO

Đt vấn đề

Cách đây 3 tháng (năm 2005 – Civillawinfor), báo Thanh Niên đưa tin về cái chết của bà Lê Thị Trúc, một người Việt Nam mang hộ chiếu Việt Nam và thẻ thường trú tại Mỹ. Bà Trúc bị ung thư nặng, và trong chuyến về nước vừa qua, đã từ trần ngày 11-4-2005. Như ta biết, bình thường, do điều kiện khí hậu và theo quy định của nhà nước, lễ mai táng hoặc hoả táng được tổ chức trong vòng 2 ngày sau ngày từ trần. Trong trường hợp bà Trúc, thân nhân phải mất nhiều thời gian hơn để xin được giấy khai tử và giấy phép hoả táng. Đó cũng là điều dễ hiểu. Sở dĩ tờ báo nói tới việc này là vì, sau khi gia đình đã trình đủ các giấy tờ trên, thì cho đến trưa ngày 18-7, một tuần sau khi bà Trúc từ trần, trung tâm hoả táng vẫn chưa tiến hành cuộc hoả táng : họ cần thêm một “công hàm ngoại giao” của tổng lãnh sự quán Mỹ tại Thành phố Hồ Chí Minh. Cuối cùng, thì buổi chiều 18-7 mọi việc đã tiến hành suôn sẻ, nhờ sự giúp đỡ và can thiệp khẩn trương của báo Thanh Niên, Sở Tư pháp TP, Uỷ ban nhân dân Thành phố, và Phòng xuất nhập cảnh Công an Thành phố. Phòng Quản lý xuất nhập cảnh Công an TP đã cử cán bộ đến trung tâm hoả táng “giải thích rằng bà Trúc là người Việt Nam định cư tại nước ngoài nên chỉ cần có giấy phép cho mai táng là có thể thiêu xác bà chứ không cần phải có công hàm ngoại giao” (Thanh Niên,22-4-2005).

Tôi muốn mở đầu bài tham luận về “vấn đề Việt kiều” bằng câu chuyện trên, không phải vì muốn “ bi kịch hoá vấn đề ”: sinh tử bệnh lão là chuyện tự nhiên của cuộc sống, cái chết của bà Trúc có lẽ cũng sẽ trở thành một trường hợp phổ biến, điều tôi muốn tìm hiểu là sự trục trặc trong 7 ngày đêm sau cái chết của bà. Rõ ràng ở đây không có sự phiền hà, lạm dụng quyền lực hay sự khiếm khuyết của pháp luật để tham nhũng. Ngược lại, qua thông tin của bài báo – và tiên thiên, không thấy có lí do để hoài nghi độ trung thực – chúng ta thấy rõ là trong trường hợp cụ thể này, chính quyền địa phương ở các cấp, từ thành phố xuống xã, ở các ban ngành – tư pháp, công an – đều đã tích cực tìm cách giải quyết và phối hợp hành động để giải quyết. Và sự chần chừ của trung tâm hoả thiêu không xuất phát từ ý muốn làm khó dễ, mà do không muốn để xảy ra chuyện khó dễ về sau này, trong trường hợp có người – nhất là “người ngoài” – đặt câu hỏi : tại sao lại hoả táng một “người nước ngoài” mà không có “công hàm ngoại giao” ? Vậy thì sự trục trặc này từ đâu mà ra ? tại sao nó xảy ra ?

Tôi thấy có hai loại nguyên nhân. Loại thứ nhất : các quy định pháp luật và hành chính chưa đầy đủ, thiếu nhất quán, và cố nhiên chưa theo kịp những chủ trương đề ra trong các nghị quyết (thí dụ Nghị quyết 36 mà chúng ta nghe nói nhiều từ hơn một năm nay). Trên báo chí và trong nhiều cuộc hội nghị, gặp gỡ, nhiều Việt kiều, nhất là những anh chị có dịp về làm việc nhiều và lâu, cũng như những anh chị đã hồi hương, và, nhiều cán bộ các cơ quan hữu quan – trong đó có Uỷ ban về người Việt Nam ở nước ngoài – đã đóng góp nhiều ý kiến nhằm nhanh chóng vượt qua giai đoạn “nghị quyết vẫn chỉ là nghị quyết”, “luật vẫn chỉ là luật”…

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 762/BTC-TCT NGÀY 16/1/2009 CỦA BỘ TÀI CHÍNH HƯỚNG DẪN MỘT SỐ NỘI DUNG VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN

Kính gửi: Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Để góp phần ngăn chặn suy giảm kinh tế, kích thích tăng trưởng, đảm bảo an sinh xã hội, ngày 31/12/2008, Bộ Tài chính đã có công văn số 16181/BTC-TCT hướng dẫn xác định nghĩa vụ thuế đối với một số khoản thu nhập có nguồn gốc phát sinh từ năm 2008 trở về trước. Trong quá trình thực hiện, theo phản ánh của một số Cục thuế có một số vướng mắc, Bộ Tài chính hướng dẫn bổ sung về tính thuế đối với chuyển nhượng bất động sản như sau:

1.Đối với cá nhân chuyển nhượng quyến sử dụng đất, công trình gắn liền với đất đã nộp hồ sơ hợp lệ theo quy định của pháp luật cho cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền trước ngày 01/01/2009, cơ quan thuế đã phát hành Thông báo nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất thì cá nhân chuyển nhượng nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất theo số thuế đã thông báo.

2.Đối với cá nhân chuyển nhượng nhà chung cư:

Trường hợp cá nhân đã có hợp đồng chuyển nhượng nhà chung cư và đã nộp hồ sơ hợp lệ cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trước ngày 01/01/2009 thì không thu thuế TNCN đối với phần giá trị nhà; đối với phần giá trị đất được phân bổ (nếu có) thì thực hiện nộp thuế chuyển quyền sử dụng theo hướng dẫn ở mục trên.

3.Phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản:

Theo quy định của Luật thuế thu nhập cá nhân thuế TNCN đối với thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản được tính theo hai phương pháp:

– Áp dụng thuế suất 2% tính trên giá chuyển nhượng bất động sản;

– Áp dụng thuế suất 25% tính trên thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản;

Để tạo thuận lợi cho người nộp thuế, việc áp dụng tính thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản được tính theo mức thuế suất 2% tính trên giá bất động sản chuyển nhượng ghi trên hợp đồng chuyển nhượng. Trường hợp giá này thấp hơn mức giá do Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định thì thực hiện theo giá do Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố quy định.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 438/TCT-TNCN NGÀY 10/2/2009 CỦA TỔNG CỤC THẾ, BỘ TÀI CHÍNH VỀ CHÍNH SÁCH THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI NGƯỜI TRÚNG THƯỞNG XỔ SỐ, ĐẠI LÝ XỔ SỐ

Kính gửi: Cục thuế tỉnh Đồng Tháp

Vừa qua, Tổng cục Thuế nhận được công văn của Cục thuế tỉnh Đồng Tháp phản ánh vướng mắc chính sách thuế đối với khoản thu nhập của cá nhân trúng thưởng xổ số và đại lý xổ số. Về vấn đề này, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:

1. Thuế TNCN đối với trúng thưởng xổ số.

Tại điểm 6.1, mục II Phần B Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 100/2008/NĐ-CP ngày 08/9/2008 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế thu nhập cá nhân quy định: “Thu nhập tính thuế từ trúng thưởng là phần giá trị giải thưởng vượt trên 10 triệu đồng mà đối tượng nộp thuế nhận được theo từng lần trúng thưởng không phụ thuộc vào số lần nhận tiền thưởng….Đối với trúng thưởng xổ số là toàn bộ giá trị tiền thưởng vượt trên 10 triệu đồng nhận được trong một đợt quay thưởng chưa trừ bất cứ một khoản chi phí nào”.

Tại điểm 1.2.5, mục II Phần D Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 100/2008/NĐ-CP ngày 08/9/2008 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế thu nhập cá nhân quy định: “Tổ chức trả tiền thưởng cho cá nhân trúng thưởng có trách nhiệm khấu trừ thuế thu nhập cá nhân trước khi trả thưởng cho cá nhân trúng thưởng. Căn cứ xác định số thuế khấu trừ là phần giá trị vượt trên 10 triệu đồng nhân (x) với thuế suất 10%”.

Như vậy, trường hợp người nhận tiền thưởng trúng giải đặc biệt là 125 triệu đồng trên 02 tờ vé số trong một đợt quay thưởng sẽ có tổng số tiền trúng thưởng là 250 triệu đồng thì thu nhập tính thuế là giá trị giải thưởng vượt trên 10 triệu đồng mà cá nhân nhận được (240 triệu đồng). Trường hợp cá nhân chia ra 2 lần nhận tiền thưởng thì chỉ được trừ 10 triệu đồng cho lần nhận tiền thưởng đầu tiên.

Continue reading

NGƯỜI TIÊU DÙNG VÀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG

THS. NGUYỄN NGỌC SƠN

Mức độ phát triển và văn minh của một quốc gia không chỉ được đánh giá bằng tốc độ tăng trưởng của GDP, của thu nhập bình quân đầu người mà còn phụ thuộc vào giá trị công bằng và khả năng thực thi của pháp luật. Một nền pháp chế văn minh phải ưu tiên bảo vệ kẻ yếu[1]. Có lẽ vì thế, pháp luật về quyền của người tiêu dùng luôn là một bộ phận không thể thiếu trong hệ thống pháp luật thương mại của các quốc gia phát triển và đã trở thành vấn đề pháp lý quốc tế.

Mức độ phát triển và văn minh của một quốc gia không chỉ được đánh giá bằng tốc độ tăng trưởng của GDP, của thu nhập bình quân đầu người mà còn phụ thuộc vào giá trị công bằng và khả năng thực thi của pháp luật. Một nền pháp chế văn minh phải ưu tiên bảo vệ kẻ yếu[1]. Có lẽ vì thế, pháp luật về quyền của người tiêu dùng luôn là một bộ phận không thể thiếu trong hệ thống pháp luật thương mại của các quốc gia phát triển và đã trở thành vấn đề pháp lý quốc tế.

Tại Việt Nam, với quan niệm người tiêu dùng là chủ thể trong các giao dịch thương mại – dân sự, pháp luật luôn hướng đến việc bảo vệ sự công bằng và duy trì tính minh bạch của các hợp đồng là đối tượng điều chỉnh của Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại … Bảo vệ người tiêu dùng đã thực sự trở thành một lĩnh vực pháp luật độc lập và có vị trí đáng kể trong hệ thống pháp luật thương mại kể từ khi Pháp lệnh về Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (Pháp lệnh) được ban hành năm 1999. Dù các văn bản pháp luật trên đã có hiệu lực, song thực trạng vi phạm quyền của người tiêu dùng ngày càng nghiêm trọng. Các nhà khoa học, các cơ quan có thẩm quyền và các hiệp hội của người tiêu dùng đã có nhiều cố gắng tìm kiếm và phân tích các nguyên nhân của tình trạng trên như sự thờ ơ của người tiêu dùng trong việc sử dụng các công cụ pháp lý để tự bảo vệ, sự lãnh cảm của nhiều công chức và của các cơ quan có trách nhiệm, vai trò mờ nhạt của các tổ chức bảo vệ người tiêu dùng … Như một tất yếu, nguyên nhân quan trọng nhất được quy về cho sự không đồng bộ và thiếu hiệu quả của hệ thống pháp luật. Để giải quyết tình trạng trên, Nhà nước đang cố gắng nâng cấp Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thành Luật Bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng (Luật BVNTD). Chúng tôi cho rằng, việc nâng cấp pháp lệnh thành luật là cần thiết để khẳng định giá trị pháp lý của lĩnh vực pháp luật này. Song nhiệm vụ quan trọng hơn vẫn là pháp luật phải có nội dung hợp lý và xây dựng được thiết chế thực thi hiệu quả. Trong đó, đạo luật đang được xây dựng cần khắc phục những nhược điểm căn bản của các văn bản hiện hành và được đặt vào môi trường pháp lý thuận lợi thì mới có thể phát huy giá trị thực sự.

Continue reading

NGÂN HÀNG VIỆT NAM VÀ NHỮNG VƯỚNG MẮC VỀ THỂ CHẾ PHÁP LÝ

TÁC GIẢ CHƯA XÁC ĐỊNH 

Sau hai năm gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới ( WTO), các ngành, các lĩnh vực trong nền kinh tế nước ta đều có những thay đổi. Ngân hàng Việt Nam cũng có những thay đổi về quản lý, về điều hành chính sách tiền tệ. Song, Ngân hàng Việt Nam vẫn đang ở tình thế "gà mắc tóc" trong tiến trình hội nhập. Nguyên nhân cơ bản của tình trạng đó là những vướng mắc lớn về thể chế pháp lý đã tồn tại từ lâu nhưng vẫn chưa được tháo gỡ.

NHỮNG VƯỚNG MẮC LỚN

Theo Điều 483, Bản cam kết Việt Nam gia nhập WTO, từ ngày 01/4/2007, các ngân hàng thương mại (NHTM) nước ngoài được mở NHTM 100% vốn nước ngoài (còn gọi là ngân hàng con) tại Việt Nam, với điều kiện tính đến cuối năm trước, ngân hàng mẹ có tài sản 20 tỷ USD. NHTM nước ngoài được mở chi nhánh tại Việt Nam, ngân hàng mẹ có tổng tài sản là 10 tỷ USD và cấp vốn cho chi nhánh tại Việt Nam ít nhất 15 triệu USD; NHTM nước ngoài góp với NHTM Việt Nam để hình thành ngân hàng liên doanh, NHTM nước ngoài góp vốn không quá 50% vốn điều lệ; NHTM nước ngoài được mua cổ phần NHTM cổ phần của Việt Nam, tối đa không quá 30% vốn điều lệ. Ngày 28/2/2006, Chính phủ ban hành Nghị định 22/2006/NĐ-CP để quy định chi tiết việc thực hiện nội dung nêu trên.

Tuy nhiên, khó có thể thực hiện đúng nội dung đã cam kết nêu trên thông qua một Nghị định của Chính phủ. Muốn thực hiện những điều Việt Nam cam kết gia nhập WTO, đòi hỏi Nhà nước CHXHCN Việt Nam thay đổi một số điều không còn phù hợp với thông lệ quốc tế của Luật Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam.

Trước hết là địa vị pháp lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Kỳ họp thứ 3, Quốc hội khoá IX thông qua việc sửa đổi, bổ sung một số điều Luật NHNN Việt Nam, nhưng không phù hợp với thông lệ quốc tế, cụ thể là:

Khoản 1, Điều 1, Luật NHNN Việt Nam, quy định: "Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sau đây gọi là Ngân hàng Nhà nước) là cơ quan của Chính phủ và là Ngân hàng Trung ương của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam". Theo thông lệ quốc tế, Ngân hàng Trung ương (NHTW) hoạt động độc lập với Chính phủ, nhiệm vụ chính là ổn định giá trị tiền tệ. Chính phủ điều hành ngân sách quốc gia và không được can thiệp vào việc phát hành tiền. NHTW của nhiều nước trực thuộc Quốc hội. Ngược lại, ở nước ta, Chính phủ có Hội đồng giám sát tài chính-tiền tệ, Thống đốc NHNN chỉ là cấp phó. Do đó, khi lạm phát cao hoặc thiểu phát, không thể quy trách nhiệm cho Thống đốc NHNN Việt Nam. Hơn nữa, Thống đốc NHNN lại là một Bộ trưởng, thành viên của Chính phủ nên có trách nhiệm thực hiện những Nghị quyết của Chính phủ và Quyết định của Thủ tướng, trong đó, có những vấn đề không được làm nếu Ngân hàng Nhà nước là một NHTW thực sự.

Continue reading

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TẠI CÔNG TY LIÊN DOANH NHÃ QUÁN: TÒA ÁN HAY TRỌNG TÀI?

CHÍNH DŨNG

Công ty Liên doanh Nhã Quán (đóng tại xã Bình Chuẩn – Thuận An – Bình Dương) được UBND tỉnh Bình Dương cấp Giấy phép đầu tư số 208 (ngày 9/8/2002), trên cơ sở liên doanh giữa Công ty TNHH Trường Sanh và ông Kuo Chi Sheng (quốc tịch Đài Loan – Trung Quốc). Trước khi được cấp giấy phép, Giám đốc Công ty TNHH Trường Sanh (bà Tôn Hải Đường) và ông Kuo Chi Sheng ký một bản hợp đồng thành lập Công ty liên doanh Nhã Quán gồm 16 điều khoản.

Thẩm quyền có quyền đóng cửa nhà máy, đuổi công nhân (?)

Theo bản hợp đồng này, Công ty Nhã Quán là liên doanh chuyên sản xuất và gia công mộc mỹ nghệ với tổng vốn đầu tư 1,5 triệu USD, vốn pháp định gần 653.000 USD, trong đó Công ty Trường Sanh góp 22% bằng nhà xưởng, máy móc; phía Đài Loan (ông Kuo Chi Sheng) góp 78% bằng tiền mặt. Sau khi hoàn thành mọi nghĩa vụ tài chính, các bên cùng chia lợi nhuận và chịu rủi ro theo tỷ lệ góp vốn.Tranh chấp giữa các bên có liên quan, hoặc phát sinh từ hợp đồng, trước hết được giải quyết thông qua thương lượng và hoà giải. Trong trường hợp các bên tranh chấp không thoả thuận được với nhau thì sẽ được đưa ra Trung tâm Trọng tài Quốc tế thuộc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam giải quyết. Quyết định của Trung tâm Trọng tài Quốc tế là quyết định cuối cùng.

Cam kết là vậy nhưng khi xảy ra tranh chấp vào cuối năm 2007, phía Công ty Trường Sanh không đồng ý cùng ông Kuo Chi Sheng đưa vụ việc ra Trung tâm Trọng tài Quốc tế giải quyết mà khởi kiện ra TAND tỉnh Bình Dương. Rốt cuộc, vụ tranh chấp này có đến hai nơi cùng thụ lý giải quyết là Trung tâm Trọng tài quốc tế và TAND tỉnh Bình Dương. Thậm chí, vào các ngày 5/3, 1/4 và 3/4/2008, TAND tỉnh Bình Dương lần lượt ra 3 quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Điều 108 và 115 Bộ luật Dân sự, kê biên toàn bộ tài sản của Công ty liên doanh Nhã Quán theo yêu cầu của Công ty Trường Sanh; buộc doanh nghiệp phải ngừng sản xuất kinh doanh, công nhân rời khỏi nhà máy, rồi giao toàn bộ tài sản cho Công ty Bảo vệ Việt Sinh quản lý… Do ra quyết định vượt quá thẩm quyền, ngay sau đó, TAND tỉnh Bình Dương đã lần lượt huỷ bỏ các quyết định kê biên trên.

Continue reading