THỊ TRƯỜNG VÀ CON NGƯỜI

030707_fear_greedHỒ QUỐC TUẤN – NCS, Đại học Manchester, Anh

Những khủng hoảng gần đây đều do đạo đức. Lòng tham đã tạo ra những hành động phi đạo đức, dẫn đến khủng hoảng.

Xét lại luận điểm thị trường không hoàn hảo

Gần đây, trong giới học thuật tài chính và giới kinh doanh thực tiễn, người ta đã nghiêm túc xem xét lại luận điểm về thị trường không hoàn hảo trong các vấn đề định giá. Hiểu một cách nào đó, thị trường hoàn hảo là thị trường trong đó người ta có thể bắt chước (replicate) bất kỳ một chiến lược mua bán nào, sản phẩm nào (quyền chọn, cổ phiếu, trái phiếu, chứng khoán từ nợ dưới chuẩn…) từ những sản phẩm cơ bản khác. Bỏ qua các yếu tố kỹ thuật, điều này có nghĩa là gì? Nó có nghĩa người ta có thể phòng ngừa bất kỳ loại rủi ro nào trong tương lai. Ít nhất, trong nhiều mô hình tài chính và bảo hiểm, đây là ý tưởng căn bản về một mô hình của thị trường hoàn hảo.

Đây là luận điểm không mới và cũng không có gì đặc biệt. Tuy nhiên, điều đáng ngạc nhiên là những mô hình tài chính được ứng dụng, vốn tưởng chừng cách xa các mô hình trong sách giáo khoa, cũng bằng cách này hay cách khác, vô tình hay cố ý, dựa trên những giải pháp trong đó giả định rằng tồn tại một thế giới mà trong đó người ta trung lập với rủi ro (risk neutral world), một thế giới mà các rủi ro có thể phòng ngừa được (hedgable).

Với việc giả định những điều trên, người ta chấp thuận một phần nào khái niệm thị trường là hoàn hảo (complete market), nói nôm na, là có đủ “đồ chơi” để phòng ngừa rủi ro. Trong một hội thảo gần đây ở London, người ta đã tranh cãi khá nhiều về chuyện một số mô hình tưởng chừng không giả thiết rằng thị trường là hoàn hảo, cuối cùng lại dùng những kỹ thuật tài chính để giải quyết vấn đề mà cuối cùng kỹ thuật đó lại thừa nhận thị trường là hoàn hảo ở một khía cạnh nào đó. Continue reading

TRANH CHẤP SỞ HỮU TÀI SẢN: MẤT 9 CĂN NHÀ VÌ KHÔNG … HÔN THÚ

NGỌC HÀ – KHÁNH LY

Sau 13 năm chung sống, người đàn ông muốn phủ nhận sạch trơn công sức của người vợ lẽ đối với khối bất động sản mà chỉ mỗi mình ông đứng tên. Khi đến với nhau năm 1988, ông H. và bà B. chỉ có hai bàn tay trắng. Ông là thợ sửa đồng hồ, bà là thợ may, ở nhờ nhà của người quen. Bà B. cũng biết ông H. đã có hai đời vợ và sáu người con. Nhưng vào thời điểm trên thì ông chỉ sống một mình, ông H. nói vậy và bà B. cũng tin như thế.

Không đăng ký kết hôn

Bà B. cho biết ông H. có cưới hỏi bà đàng hoàng. Nhưng do cuộc sống chật vật nên hai người không thể về quê để đăng ký kết hôn. Do không có giấy chứng nhận kết hôn nên khi khai sinh cho đứa con duy nhất của hai người, ông H. phải làm giấy nhận con. Nhờ bạn bè giúp đỡ, ông H. chuyển từ nghề sửa đồng hồ sang buôn bán đồng hồ cũ rồi cả hai chuyển sang làm vỏ đồng hồ vàng và giàu lên từ đó. Khi có tiền, cả hai quay ra làm môi giới đất đai, mua đất nông nghiệp rồi bán lại kiếm lời.

Khi hai người thuê nhà mở điểm kinh doanh, bà B. ở văn phòng tiếp khách, làm giấy tờ, còn ông H. đi ra ngoài giao dịch. Đến năm 2001, khi chia tay nhau thì hai người có chung rất nhiều căn nhà và lô đất. Có căn giá trị lên đến vài tỷ đồng. Bấy giờ, ông H. trở mặt, phủ nhận sạch trơn công sức đóng góp của bà B. trong những nhà, đất trên mà cụ thể là không cho mẹ con bà hưởng thứ gì. Cả căn nhà mẹ con bà B. đang ở cũng bị ông dằn mặt “chỉ cho ở nhờ, khi cần thiết sẽ lấy lại để bán”.

Ức quá, bà B. đã kiện ông H. ra tòa với hai yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng và được chia tài sản chung gồm chín căn nhà với tổng giá trị hơn 18 tỷ đồng. Tuy nhiên, điều bà không ngờ đến là toàn bộ tài sản trên đều đứng tên ông H. (nhiều căn đã có “giấy hồng”). Đau hơn nữa, ông H. vẫn chưa xé hôn thú với người vợ đầu tiên. Continue reading

CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TỪ KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WTO ĐẾN NAY

TS. HÀ QUANG NGỌC – Bộ Nội vụ

Gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) là sự cam kết mạnh mẽ về sự phát triển kinh tế thị trường và điều đó đòi hỏi phải có những cải cách mạnh mẽ hơn nữa đối với các thủ tục hành chính, tạo môi trường thông thoáng để các tổ chức, doanh nghiệp và người dân phát triển sản xuất, kinh doanh.

Ngày 7-11-2006, Việt Nam chính thức gia nhập WTO, trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức này. Việc gia nhập WTO cho thấy, Việt Nam đã sẵn sàng cho việc hội nhập hoàn toàn và đầy đủ vào nền kinh tế thế giới, đánh dấu vị thế mới của Việt Nam trên trường quốc tế, đồng thời cũng tạo những điều kiện thuận lợi để Việt Nam đẩy mạnh quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Tuy nhiên, cùng với những thuận lợi có được khi gia nhập WTO, Việt Nam cũng phải đương đầu với nhiều khó khăn, thách thức và phải cam kết thực hiện nhiều quy định mang tính chất ràng buộc của tổ chức này. Ngoài các nội dung thuộc lĩnh vực kinh tế, Việt Nam phải cam kết xóa bỏ những quy định mang tính chất mệnh lệnh, hành chính ảnh hưởng đến kinh tế thị trường; điều chỉnh pháp luật để phù hợp với luật pháp quốc tế; phải công bố các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, lấy ý kiến nhân dân trước khi ban hành tối thiểu là 60 ngày, phải đăng công khai các văn bản pháp luật trên các trang tạp chí điện tử của bộ, ngành, địa phương… Continue reading

TRANH CHẤP BẤT ĐỘNG SẢN LIỀN KỀ: BẾN CÁT (BÌNH DƯƠNG), MỘT BẢN ÁN CẦN PHẢI XEM XÉT LẠI?

KTNT – Đó là bản án dân sự sơ thẩm số 68, ngày 09/10/2007 của Tòa án nhân dân (TAND) huyện Bến Cát. Căn cứ theo các tài liệu liên quan, tháng 11/2005, bà Nguyễn Thị Thơm (trú tại ấp Bàu Hốt, xã Lai Uyên, huyện Bến Cát) xây nhà trên phần đất mua lại của bà Hoàng Thị Đại thì bị ông Huỳnh Trung Hiếu khiếu nại.

Trình bày tại toà sơ thẩm, ông Hiếu cho biết: Khi xây nhà vào năm 2000, ông chừa lại một khoảng đất giáp ranh đất của bà Đại để làm chỗ thoát nước mưa. Khi làm nhà trên đất mua của bà Đại, bà Thơm xây lấn 3,3m2 đất khiến nước mưa tràn vào nhõ, gây nứt tường, không thể ở được nên ông Hiếu đề nghị toà án buộc bị đơn trả lại đất đã lấn chiếm.

Giải quyết vụ kiện, ngày 09/10/2007, TAND huyện Bến Cát ra bản án dân sự sơ thẩm số 68, thừa nhận việc xây cất nhà trên đất quy hoạch lộ giới của bà Thơm là… hợp pháp (!). Theo bản án, ranh giới giữa phần đất của bà Thơm với các hộ xung quanh là một đường thẳng và đoạn kề nhà ông Hiếu trước đây có hàng cây vông làm mốc. Khi cất nhà vào năm 2000, ông Hiếu đã chặt bỏ hàng vông để lấn chiếm phần đất của bà Thơm đã được cấp sổ đỏ nên yêu cầu của nguyên đơn là không thể chấp nhận.

Tuy nhiên, theo các bằng chứng thì sự thật của vấn đề lại hoàn toàn khác. Phần đất của ông Hiếu hình chữ nhật, chiều dài từ nhà bà Thơm lên phía Bắc là 14m, chiều rộng một phía giáp bà Thơm là 6m… là đất đầu tiên ông Ngọ (chồng bà Bon), được cấp sổ đỏ và sau đó sang nhượng qua bà Huệ, ông Bảo rồi đến ông Hiếu. Căn nhà bà Thơm xây năm 2005 có cạnh phía Bắc giáp nhà ông Hiếu, phía Tây Bắc giáp nhà bà Bon là đất ban đầu của ông Sen chuyển nhượng qua bà Liên, bà Đại rồi đến bà Thơm. Ngày 08/12/2005, Hội đồng tư vấn giải quyết tranh chấp giữa hai bên của UBND xã Lai Uyên, có báo cáo, cho biết: Căn cứ sơ đồ địa chính chính quy, phần đất của bà Thơm có cạnh từ nhà ông Hiếu xuống phía Nam chỉ dài 40,7m nhưng thực tế đang sử dụng là 41,15m, thừa 0,45m. Đất nhà ông Hiếu có cạnh từ nhà bà Thơm lên phía Bắc thực tế chỉ 13,45m, thiếu 0,45m. Continue reading

TRANH CHẤP QUYỀN THỪA KẾ: VỤ TRANH CHẤP QUYỀN THỪA KẾ Ở TIỀN GIANG … 10 NĂM CHƯA KẾT THÚC

KTNT – Một di chúc “thiếu căn cứ pháp luật”, “không khách quan và không hợp pháp” từng làm khuynh đảo pháp đình, đưa vụ kiện tranh chấp thừa kế tài sản giữa bà Nguyễn Thị Kim Hoa (ấp Thạnh Yên, xã Thạnh Trị, huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang) và bà Nguyễn Thị Phương Oanh (trú quán 563t/33 Nguyễn Đình Chiểu, phường 2, quận 3, TP. Hồ Chí Minh) kéo dài từ năm 1999 đến nay… Vừa qua, thêm một lần phán quyết từ Bản án số 49/2008/ DSST ngày 26/8/2008 của Tòa sơ thẩm TAND tỉnh Tiền Giang gây nên bức xúc trong dư luận!?

Ngày 28/01/1997, bà Võ Thị Thành lập di chúc, có 2 người làm chứng và chứng thực của UBND xã. Trong di chúc, bà Thành để lại toàn bộ tài sản cho cháu nội là Nguyễn Thị Phương Oanh.

Có trong tay tờ di chúc, ngày 30/3/1999 bà Oanh gửi đơn kiện bà Nguyễn Thị Kim Hoa, yêu cầu cơ quan pháp luật can thiệp để được sở hữu số tài sản theo di chúc. Bất chấp một sự thật là, từ năm 1980, gia đình bà Hoa đã sinh sống ổn định, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế trên thửa đất mà ông bà ngoại Nguyễn Thiện Chơn và Võ Thị Thành để lại.

Do Bản án sơ thẩm số 16/DSST ngày 06/10/1999 của TAND tỉnh Tiền Giang chấp nhận đơn kiện của bà Oanh, coi di chúc là hợp pháp nên ngày 18/10/1999, VKSND tỉnh ra Quyết định số 14/QĐ -KN với nội dung: “Di chúc lập ngày 28/01/1997 về hình thức di chúc được lập bằng văn bản có 2 người làm chứng và có chứng thực của UBND xã nhưng ý chí tự nguyện của bà Võ Thị Thành chưa được bày tỏ như mong muốn của bà vì: Sau ngày lập DC bà Thành lập thêm 2 di chúc nữa vào ngày 28/3/1997 và tháng 5/1997”. Di chúc do ông Nguyễn Thiện Nhơn (con cụ Thành) tự tay viết với nội dung để lại toàn bộ di sản cho con gái ông là Phương Oanh. Theo ông Nhơn khai, di chúc do ông ghi lại toàn bộ ý kiến của mẹ ông trước mặt chính quyền địa phương. Nhưng anh Nguyễn Văn Hiền và Lê Văn Thành (công an ấp) khai: “Khi được mời đến nhà của bà Thành, bản di chúc đã được viết sẵn, đã có chữ ký của bà Thành. Di chúc được đem đến xã xác nhận cùng ngày, Chủ tịch UBND xã Nguyễn Văn Thơi ký xác nhận. Continue reading