LỰC CẢN TỪ CHÍNH TỪ CHÍNH MỘT SỐ “CÂY ĐA, CÂY ĐỀ”

PHẠM ĐỨC CHÍNH

Tại buổi họp mặt cộng tác viên cuối năm của tạp chí Tia Sáng, sau phát biểu của GS. Hoàng Tụy đánh giá cao việc Bộ KH&CN đã lắng nghe ý kiến đúng đắn và tâm huyết của các nhà khoa học, tiến hành cải cách quản lý NCCB, là phát biểu của một nhà Sinh học, đại ý: Tia Sáng viết hơi quá nhiều về công bố quốc tế. Đành rằng công bố quốc tế của chúng ta yếu, người của chúng tôi công bố quốc tế chung với Nhật là được rồi, cần gì phải là tác giả chính như GS. Phạm Duy Hiển nói. Đề tài giống lúa mới được chuyển giao cho một cơ sở ở Nam Định với giá 10 tỷ đồng vừa rồi có giá trị thực tế rõ ràng, nhưng chẳng có tạp chí quốc tế nào đăng kết quả đó.

Đầu năm mới, sau khi chúc tết nhau, tôi và một lãnh đạo Viện Cơ học (Viện KH&CN VN) có cuộc tranh luận không có hồi kết về hoạt động khoa học vì quan điểm khác nhau. Sau đây là một số luận cứ của anh ấy về chuyện công bố quốc tế:

– Tôi ủng hộ yêu cầu luận án TS phải có bài báo quốc tế. Nếu có quy định của Bộ GD&ĐT tôi sẽ yêu cầu NCS của tôi phải làm việc công bố quốc tế. Còn như hiện nay chưa có quy định này, ta cũng chẳng cần phải đòi hỏi công bố, vì sẽ rất khó và vất vả cho NCS.

Bài báo quốc tế cũng có nhiều loại, có người có cả chục bài vẫn chưa là gì, có người chỉ cần một bài là khẳng định được đẳng cấp (có lẽ hàm ý cái bài báo quốc tế nói trên của anh ấy đủ mạnh bằng cả chục bài của những người khác).

Tôi đi nước ngoài nhiều nên biết rõ rằng, ở phương Tây, nhất là ở Mỹ, các ĐH không hề quan tâm các GS của họ có công bố quốc tế hay không, nhiều hay ít, mà chỉ quan tâm các GS có mang được nhiều đề tài, hợp đồng, và tiền về cho ĐH hay không (ở VN đây là điểm mạnh của anh này vì liên tục chủ trì các đề tài và hợp đồng kinh phí lớn – tôi ở gần nên cũng được nghe ít nhiều chuyện từ chính những người trong cuộc về các đề tài này)

Ngành Sinh học công bố quốc tế dễ: họ chỉ cần tìm ra cái cây cái lá gì mới là công bố quốc tế được. Viện Cơ học công bố quốc tế ít vì công bố quốc tế trong lĩnh vực Cơ học khó hơn.

ISI chỉ là một tổ chức tư nhân, không đủ uy tín đại diện, chỉ thống kê bài tiếng Anh, trong khi có bao tạp chí có uy tín tương đương bằng tiếng Nga, tiếng Pháp thì không được tính đến.

Hàn Quốc và TQ đòi hỏi công bố quốc tế ISI, SCI, nhưng VN ta phải khác. TQ là nước lớn, họ chịu sức ép phải làm tàu vũ trụ, còn ta đâu có phải làm mấy thứ đó. Do vậy, Bộ KH&CN không cần theo gương họ. Ta có con đường riêng của ta, chẳng có nước nào giống nước nào.

Quy định mới về NCCB của Quỹ có một điểm tiến bộ là có quy định rõ ràng, không để các Hội đồng phân phối kinh phí tùy tiện như trước. Tuy nhiên đề tài chỉ cho thời gian quá ngắn 2 năm mà lại đòi hỏi 2 bài báo quốc tế là phi thực tế. Mà tại sao cứ phải đòi hỏi công bố quốc tế? Công bố trong nước cũng được chứ. Và nếu quốc tế được 10 điểm thì bài trong nước cũng phải được 5,6 điểm.

Ngay ở Liên Xô người ta chỉ cần nhấn mạnh cần có bài báo trong nước là đủ. Còn việc hiện nay nhiều người Nga có viết bài cho các tạp chí tiếng Anh, chẳng qua là vì họ muốn kiếm việc ở phương Tây.

Tại sao ta cứ phải yêu cầu công bố quốc tế. Tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc của chúng ta ở đâu. Đã là người VN ta phải công bố trên các tạp chí của VN chúng ta.

Ở các viện khác người ta cũng nói với tôi là họ không đồng tình với các bài báo viết về khoa học VN trên báo chí thời gian qua. Một số cán bộ quản lý ở Bộ KH&CN cũng nói với tôi: chúng tôi vẫn luôn ủng hộ các anh đấy chứ, nhưng chính từ trong nội bộ giới khoa học các anh có người cứ cố tình bới chuyện làm vấn đề trở nên to ra…

Và trong cuộc Hội thảo khoa học của Viện Cơ học cuối năm 2008, một Phó Viện trưởng Viện Cơ học lập luận, đại ý:

Bên Toán họ công bố quốc tế là đúng rồi, họ chỉ có mỗi cái việc đó. Nếu không làm được việc đó thì cái Viện Toán phải bị giải tán. Còn Viện Cơ ta làm NCCB phục vụ ứng dụng nên không cần phải công bố quốc tế. Vì nghiên cứu ứng dụng là quan trọng đối với đất nước nên phải được Nhà nước ưu tiên bao cấp và đầu tư kinh phí chứ không phải để tự trang trải kinh phí bởi thị trường (như tinh thần nghị định 115). Ngay cả ở Úc và Nhật Bản, từ cả nghìn nghiên cứu ứng dụng cũng chỉ có một nghiên cứu đem ra được sản phẩm thành công trên thị trường (hàm ý trong số hàng ngàn đề tài nghiên cứu ứng dụng của ta, Bộ KH&CN chỉ cần chỉ ra một đề tài có được kết quả trên thị trường là đạt thành công ngang như quốc tế ?)…

Còn Viện trưởng Viện Cơ học ứng dụng TP. HCM thì trích dẫn ý kiến “khách quan” của một nhà khoa học Việt kiều nổi tiếng có nhiều kinh nghiệm thực tiễn quốc tế (GS Vật lý Trương Văn Tân ở Úc): nghiên cứu cơ bản ở VN để công bố quốc tế các bài báo mang tính chung chung chỉ là theo đuôi nước ngoài, không có ích lợi gì cho VN mà chỉ làm lãng phí tiền thuế của nhân dân. VN ta phải tập trung nghiên cứu ứng dụng.

Không chỉ ở Viện Cơ học mà hiện nay, cán bộ quản lý ở một số viện, cơ quan nghiên cứu có rất nhiều kiểu ngụy biện khác nhau nhằm phản bác lại chủ trương của Bộ KH&CN về cấn có công bố quốc tế, bằng sáng chế trong nghiến cứu, như: nước ngoài họ công bố quốc tế vì lương tháng của họ là 5-10 ngàn USD, còn ở ta chỉ vài triệu VND, đầu tư cơ sở vật chất của họ lại còn gấp hơn nhiều lần nữa. Khi nào kinh tế và cơ sở vật chất của ta bằng được như họ ta sẽ công bố quốc tế. Nghiên cứu để công bố quôc tế và nghiên cứu ứng dụng phục vụ nhu cầu thiết thực của đất nước cái nào quan trọng hơn…

Có thể nói việc đưa các chuẩn mực quốc tế vào hoạt động KH&CN của Việt Nam, đặc biệt là trong các lĩnh vực nghiên cứu ứng dụng- một lĩnh vực chiếm phần lớn ngân sách đầu tư cho KH&CN thật chẳng dễ dàng gì do nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là lực cản từ chính một số nhà quản lý khoa học được coi (hoặc tự coi) là “cây đa, cây đề”.

SOURCE: TẠP CHÍ TIA SÁNG

Trích dẫn từ:

http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=76&CategoryID=3&News=2643

TRANH CHẤP TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG: LẤY BA BÀ, CHẾT RỒI VẪN RỐI

THỤY CHẤU

Vợ lớn kiện giành quyền sở hữu tài sản với con của vợ ba. Sau mỗi phiên xử, phần di sản mà bị đơn được hưởng lại hụt đi. Ông V. lấy cả thảy ba bà vợ vào các năm 1946, 1955, 1963 và sinh được 13 người con (một người đã mất). Bà G. là vợ lớn, chị P. là con của vợ ba. Tháng 11-2000, cho rằng căn nhà nằm trên khoảng 200 m2 đất ở quận Tân Bình là tài sản chung của mình với vợ lớn, ông V. lập di chúc cho chị P. thừa kế phần sở hữu của mình trong khối tài sản trên, tức một nửa nhà đất.

Lấn cấn tài sản chung, riêng

Một năm sau đó, ông V. mất. Bà G. liền nộp đơn kiện chị P. ra tòa để đòi sở hữu toàn bộ tài sản. Theo bà, từ khi ông V. “lập phòng nhì” thì vợ chồng bà đã cắt đứt quan hệ tình cảm. Bà không còn dính líu về tài sản với ông. Sau khi xa chồng chín năm, bà đã tự ý chiếm đất để cất nhà trên. Năm 1989, bà được đứng tên chủ quyền phần nhà nằm trên 70 m2 đất, hơn 120 m2 đất còn lại chưa được cấp chủ quyền. Theo bà G., khi căn nhà thuộc sở hữu riêng của bà, ông V. không thể lập di chúc cho con gái.

Sơ thẩm vụ án lần đầu vào tháng 9-2002, TAND quận Tân Bình xác định quan hệ hôn nhân giữa ông V. và vợ lớn chỉ tồn tại trên pháp lý. Thực tế, họ đã đường ai nấy đi. Ông V. lập di chúc khi không có căn cứ chứng minh căn nhà là của chung. Do vậy, chị P. không được thừa hưởng một nửa nhà đất.

Tháng 3-2003, khi xét xử phúc thẩm vụ án, TAND TP.HCM nhận thấy bà G. là vợ lớn nhưng lại đứng tên trong giấy khai sinh với tư cách là mẹ của con bà hai và con bà ba, trong đó có chị P. Vậy là ông V. và bà G. vẫn còn dính líu chứ đâu đã cắt đứt. Hàng năm, ông V. vẫn cùng ba bà vợ về căn nhà này để cúng giỗ ông bà. Quan hệ của họ vẫn tồn tại trên pháp lý. Nhà đất tranh chấp được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân và bà G. không có căn cứ chứng minh đó là tài sản riêng. Vì vậy, di sản của ông V. phải được đem chia thừa kế. Hồ sơ vụ án được trả về TAND quận Tân Bình để xử sơ thẩm lại từ đầu.

Càng chia càng ít

Vụ án được sơ thẩm lần hai vào tháng 3-2004 với kết quả y hệt lần sơ thẩm đầu tiên nên chị P. kháng cáo. Bốn tháng sau, TAND TP.HCM phúc thẩm lần hai và sửa án sơ thẩm. Cấp phúc thẩm xác định chỉ có 70 m2 nhà đất đã được cấp chủ quyền là tài sản chung, phần còn lại thuộc công sức tạo lập của bà G. và con trai ruột. Chị P. hưởng phần di sản của cha theo di chúc là 35 m2 nhà đất, trị giá thành tiền là hơn 56 lượng vàng SJC.

Continue reading →

HỢP TÁC CÔNG – TƯ: KINH NGHIỆM TỪ NƯỚC NGOÀI

ĐỨC THẮNG

Hiện nay, rất nhiều nước trên thế giới đã và đang triển khai thành công hình thức PPP (hợp tác Công – Tư). Các chuyên gia khẳng định rằng Quan hệ đối tác tư nhân nhà nước – PPP hiện đang là một xu hướng trên thế giới và Việt Nam đang nằm trong xu hướng đó. Có thể lấy một số ví dụ điển hình ở một số nước để rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.

Trung Quốc: Mô hình cổ phần

Hình thức ưa thích áp dụng ở Trung Quốc là Chính phủ hợp tác với tư nhân thông qua các công ty cổ phần. Trong những năm qua, rất nhiều dự án giao thông đường bộ đã được thực hiện theo hình thức PPP dưới dạng này. Các hợp đồng thường là gồm các đơn thầu độc lập với quy mô khác nhau. Nguồn tài trợ trong nước có thể huy động thông qua phát hành trái phiếu quốc tế và trong nước và thông qua thị trường dài hạn. Cơ cấu tài trợ của nhiều dự án đường bộ thu phí ở Trung Quốc dựa trên các khoản vay và trái phiếu quốc tế. Ngoài ra, chứng khoán hóa cũng được sử dụng như một cách thức tài trợ dự án. Điều này có nghĩa là một công ty dự án được niêm yết ở Trung Quốc, điều này chỉ xảy ra cho các công ty có lợi nhuận dương thường xuyên trong ít nhất 3 năm, đây là cách duy nhất cho tái tài trợ các dự án. Tuy nhiên, một nguy cơ của dự án là mức phí giao thông ở Trung Quốc khá cao và đang tương đương với nhiều nước phát triển trên thế giới. Điều này dẫn tới hệ quả là các lợi ích kinh tế và tài chính tính toán để hấp dẫn các nhà đầu tư vẫn chưa đạt được do giao thông được định giá quá cao.

Hàn Quốc: Nhất quán hóa chính sách

Hàn Quốc bắt đầu chương trình PPP của mình từ năm 1994 với Luật Thúc đẩy tư nhân đầu tư vốn cho toàn xã hội. Chương trình này nhằm xây dựng một chính sách nhất quán trong các lĩnh vực khác nhau. Sau luật này, có khoảng 100 dự án hạ tầng được thực hiện theo hình thức PPP. Tuy nhiên trong 4 năm đầu chỉ có 42 dự án được hoàn thành. Do sự thành công hạn chế, Chính phủ Hàn Quốc đã phải ban hành Luật PPP mới vào tháng 2/1998. Luật này đã cải thiện hình thức các hợp đồng, cách thức xử lý các dự án đơn lẻ, đồng thời quy định nghiên cứu khả thi bắt buộc, hệ thống hỗ trợ rủi ro khác nhau và thiết lập hẳn một trung tâm PPP mang tên PICKO. Ngoài ra, Hàn Quốc còn khuyến khích sự phát triển của PPP bằng việc miễn giảm cả thuế VAT. Trong nhiều hợp đồng, có thể đàm phán, Chính phủ có thể bảo lãnh doanh thu lên tới 90%, điều này khiến cho khu vực tư nhân hầu như không có rủi ro doanh thu mà phần rủi ro này được chuyển sang phần lớn cho Chính phủ. Chính vì vậy, tốc độ phát triển của các dự án PPP tăng lên nhanh chóng.

Continue reading →

BẢO ĐẢM AN NINH KINH TẾ TRONG GIAI ĐOẠN KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU

PHẠM MINH CHÍNH – Bộ Công an

Cơn bão tài chính toàn cầu năm 2008 đã “quét” qua nhiều quốc gia và châu lục, không những làm sụp đổ nhiều tổ chức tài chính lớn, nhỏ với hàng trăm năm tuổi, mà còn kéo theo quy mô phá sản cấp quốc gia (Iceland). Song cơn bão này chưa hề có dấu hiệu suy giảm, và không ai biết nó còn kéo dài bao lâu, không ai có thể lường hết được sức công phá của nó. Nhanh chóng thực thi một số biện pháp nhằm bảo đảm an ninh kinh tế trong giai đoạn này là việc thực sự cấp bách đối với mỗi quốc gia hiện nay.

I- Bản chất của khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008

1- Diễn biến khủng hoảng tài chính

Mười năm sau cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ châu Á, thế giới lại đứng trước một cuộc khủng hoảng tài chính mà mức độ nghiêm trọng và khả năng tàn phá lớn hơn gấp nhiều lần. Xuất phát từ khủng hoảng nợ dưới chuẩn của Mỹ, do những chính sách tín dụng dễ dãi của các ngân hàng và tổ chức đầu tư bất động sản, thông qua mối quan hệ kinh doanh chằng chịt của hệ thống ngân hàng thời đại toàn cầu hoá, cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 đã nhanh chóng lan rộng ra nhiều lĩnh vực và khu vực trên toàn thế giới.

Cả thế giới bàng hoàng khi hàng loạt các định chế tài chính lớn lần lượt sụp đổ, tiêu biểu nhất là sự phá sản của Lehman Brothers, ngân hàng mà chỉ một năm trước đó còn được đánh giá là ngân hàng đầu tư bất động sản tốt nhất nước Mỹ. Tiếp đó là các tên tuổi như Bradford and Bingley (Anh), Hypo Real Estate (Đức), Fortis (Bỉ), Dexia (Pháp), Yamamoto Life (Nhật Bản)… Tính tới cuối tháng 11 năm 2008, số ngân hàng thương mại phá sản ở Mỹ đã lên tới 22 (trong đó đứng đầu danh sách những thể chế tài chính xấu số này là Washington Mutual với tổng tài sản 307 tỉ USD), và chưa có dấu hiệu dừng lại. Số ngân hàng nằm trong danh sách “có vấn đề”(1) vẫn tăng không ngừng, đạt tới con số 171 trong quý III/2008, mức cao nhất kể từ năm 1995.

Dưới tác động của khủng hoảng tài chính, các hoạt động thương mại, đầu tư, tiêu dùng của mỗi quốc gia đều sụt giảm mạnh, nguy cơ suy thoái kinh tế đang đe dọa. Thậm chí, nhiều nước đang lâm vào tình trạng phá sản cấp quốc gia.

Những phản ứng bị động và lúng túng của nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế cho thấy sự bất ngờ của thế giới trước cuộc khủng hoảng và tầm ảnh hưởng của nó. Sức tàn phá của “cơn sóng thần” tài chính đến từ Mỹ mạnh đến mức không một quốc gia nào có thể tự mình giải quyết cuộc khủng hoảng, mà đòi hỏi phải có sự chung tay của cộng đồng quốc tế. Khủng hoảng tài chính và cách giải quyết hậu quả đang trở thành chương trình nghị sự hàng đầu trên thế giới hiện nay.

2- Bản chất của cuộc khủng hoảng

Qua việc phân tích 3 nguyên nhân, đồng thời cũng là những đặc trưng như sau, có thể thấy được bản chất, sức tàn phá khủng khiếp của cơn bão tài chính tới an ninh kinh tế, chính trị và ổn định xã hội của các quốc gia trên thế giới.

Continue reading →

ĐỔI MỚI HỆ THỐNG TỔ CHỨC TÒA ÁN: ĐỂ CỦNG CỐ NỀN TƯ PHÁP “GẦN DÂN”

HUY ANH

Nghị quyết 49-NQ/TW (ngày 2/6/2005) của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã đề ra phương hướng, nguyên tắc xây dựng, hoàn thiện tổ chức và hoạt động của tòa án nhân dân (TAND) là “Tổ chức hệ thống tòa án theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính”. Đổi mới hệ thống TA ở Việt Nam là cần thiết, nhất là trước những yêu cầu của thời kỳ hội nhập và quá trình toàn cầu hóa.

3 hay 4 cấp là phù hợp?

Ở nước ta, hệ thống TAND đang được tổ chức theo các cấp hành chính: cấp huyện, tỉnh (trong quân đội là cấp khu vực, cấp quân khu) và TANDTC (ở TƯ). Tuy nhiên, theo PGS.TS.Nguyễn Đăng Dung (Đại học Quốc gia Hà Nội), mô hình tổ chức hiện nay dường như đã bộc lộ những điểm không còn phù hợp với vị trí, vai trò của hệ thống cơ quan này khi TA không phải là cấp xét xử cuối cùng. Bởi nếu có khiếu nại về bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TA thì trách nhiệm giải quyết lại là Quốc hội. Việc xây dựng, cơ cấu lại tổ chức TAND theo cấp xét xử sẽ giải quyết được những vướng mắc đang góp phần gây cản trở cho hoạt động xét xử.

Đa số ý kiến đại diện các cơ quan tư pháp, tỉnh/ thành ủy địa phương cho rằng cần tổ chức hệ thống tòa án khu vực thành 04 cấp (Tòa Sơ thẩm khu vực, Tòa Phúc thẩm, Tòa Thượng thẩm và TATC) sẽ không tạo ra nhiều sự xáo trộn, là một bước đi phù hợp với thực tiễn của Việt Nam.

Đồng quan điểm này, TS.Nguyễn Sơn (Chánh án TAND TP.Hà Nội) cho rằng, tổ chức hệ thống TAND theo 3 cấp xét xử, mỗi cấp TA có một thẩm quyền xét xử theo trình tự tố tụng tại TA (sơ thẩm, phúc thẩm) mà không phụ thuộc vào đơn vị hành chính cấp huyện và tỉnh (TANDTC sẽ có thẩm quyền giám đốc thẩm và tái thẩm) là chưa thể thực hiện được. Vì thực tế TA cấp huyện chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ khi được tăng thẩm quyền. Và nếu theo mô hình này, TANDTC vẫn phải “gánh vác” trách nhiệm giám đốc thẩm, tái thẩm, chứ không hề được “giảm tải” để tập trung cho công tác tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, nghiên cứu, phát triển án lệ. Vì thế, TS.Sơn thấy rằng nên tổ chức hệ thống TAND theo 4 cấp (sơ thẩm, phúc thẩm, thượng thẩm và TANDTC) để chuyển thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm những bản án, quyết định của các TA cấp dưới từ TANDTC sang tòa thượng thẩm.

LS.Nguyễn Trọng Tỵ (Chủ nhiệm Đoàn LS TP.Hà Nội) cũng thấy việc tổ chức hệ thống TA theo 4 cấp sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho người dân nhiều hơn khi tiếp cận công lý. Ông cũng thấy rằng, nên tổ chức tòa thượng thẩm theo vùng (như Tây Nam Bộ, Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ…), chứ không nên tổ chức xét xử lưu động như các Tòa phúc thẩm của TANDTC hiện nay.

Continue reading →