MỘT VÀI HIỂU LẦM TAI HẠI

image NGUYỄN VĂN TUẤN

Đọc bài Lực cản chính từ một số cây đa cây đề của TS. Phạm Đức Chính, điều khiến tôi thực sự lo ngại cho sự phát triển của khoa học và công nghệ vì một số cây đa, cây đề đó đứng đầu ngành, cầm trịch một số khoa học của nước nhà.

Phân tích từng điểm mà tôi nghĩ là ngộ nhận của các vị này có lẽ cần một bài báo nghiêm chỉnh. Ở đây tôi chỉ muốn chỉ ra vài điều thật tai hại trong cách nghĩ của họ.

Về ý kiến cho rằng ở các đại học phương Tây, người ta không quan tâm đến việc giáo sư họ có công bố quốc tế hay không, mà chỉ quan tâm đến thu hút tài trợ, tôi thấy thực tế không đúng như thế. Ở trường tôi, người ta đánh giá giáo sư qua nhiều tiêu chí, trong đó có 4 tiêu chí chính: nghiên cứu khoa học, đào tạo, thu hút tài trợ, và phục vụ cộng đồng khoa học. Nghiên cứu khoa học bao gồm năng suất khoa học qua những công bố quốc tế, vì đây là “đơn vị tiền tệ” của giới khoa bảng. Là giáo sư mà không có công bố quốc tế thì chắc chắn chẳng gây được uy tín nào, thậm chí không thể nào có được chức danh đó.

Ở Mỹ hay các nước phương Tây nói chung, để duyệt xét một đề cương nghiên cứu, người ta căn cứ vào những tiêu chí cụ thể như thành quả khoa học, kinh nghiệm của những người chủ trì dự án, và tính khả thi của đề án. Thành quả khoa học ở đây chính là số lượng và chất lượng nghiên cứu khoa học (thể hiện qua những chỉ số trích dẫn hay chỉ số H). Tài trợ cho nghiên cứu khoa học là một sự đầu tư, cho nên người ta phải xem xét kĩ năng suất của nhóm chủ trì để sao cho số tiền chi ra đem lại hiệu quả cao nhất và an toàn. Thật ra, người ta đã làm phân tích trên Scientometrics cho thấy những ai có nhiều bài báo khoa học và chất lượng cao có xác suất cao nhận được tài trợ cho nghiên cứu. Hệ số tương quan giữa xác suất xin được tài trợ và số lượng và chất lượng bài báo công bố là 0.69. Do đó, công bố quốc tế là một yếu tố để thu hút tài trợ. Nói rằng ở phương Tây người ta chỉ quan tâm đến đề tài mà xem nhẹ công bố quốc tế chẳng những thể hiện sự thiếu hiểu biết về cơ chế tài trợ nghiên cứu khoa học mà còn có phần mâu thuẫn.

Continue reading

PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HIỆU QUẢ

THS. VŨ ÁNH DƯƠNG  – VIAC

Trọng tài được sử dụng rộng rãi trong thương mại quốc tế bởi có nhiều tính ưu việt, đáp ứng được nhu cầu của các doanh nghiệp (DN).

Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp khá phổ biến trên thế giới, nhất là tại những nước có nền kinh tế thị trường phát triển. Thống kê cho thấy, kể từ năm 2001 đến nay, trung bình Toà án Trọng tài quốc tế của Phòng Thương mại quốc tế (ICC) đã thụ lý hơn 500 vụ việc mỗi năm. Các tổ chức trọng tài quốc tế khác cũng tiếp nhận và giải quyết một số lượng vụ việc tương đối lớn.

Tại Việt Nam, tuy mới được hình thành, nhưng trọng tài cũng được khuyến khích sử dụng trong một loạt các luật như Luật Thương mại, Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Bộ luật Hàng hải… Hiện nay, Việt Nam đã có Pháp lệnh Trọng tài thương mại (ban hành năm 2003) là văn bản quy định khá chi tiết về trọng tài, trình tự giải quyết tranh chấp bằng trọng tài.

Trọng tài vốn phổ biến và được sử dụng rộng rãi trong thương mại quốc tế bởi có nhiều tính ưu việt, đáp ứng được nhu cầu của các DN. Lợi thế đầu tiên khi DN lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp này là thủ tục tố tụng linh hoạt. Đây là một trong những tiêu chí mà các DN thường quan tâm khi lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp. Luật trọng tài các nước quy định thủ tục tố tụng trọng tài rất đơn giản, chủ yếu dựa trên thỏa thuận của các bên.

Các bên được tự do thỏa thuận về toàn bộ quá trình tố tụng và các hội đồng trọng tài có nghĩa vụ phải thực hiện theo đúng thỏa thuận của các bên. Ví dụ, các bên có thể quyết định số lượng trọng tài viên của hội đồng trọng tài, cách thức chỉ định trọng tài viên, tiêu chuẩn trọng tài viên, thời gian giải quyết vụ tranh chấp, luật áp dụng, ngôn ngữ, địa điểm giải quyết vụ tranh chấp…

Bên cạnh đó, tính trung lập, vô tư khách quan và chuyên nghiệp của hội đồng trọng tài cũng là yếu tố quan trọng để DN có thể tin cẩn lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp này. Với đặc thù là cơ chế giải quyết tranh chấp tư, thẩm quyền được hình thành dựa trên thỏa thuận của các bên, trọng tài luôn nhấn mạnh các tiêu chí vô tư, khách quan và trình độ của các trọng tài viên. Theo Điều 13 Pháp lệnh Trọng tài thương mại, các trọng tài viên có nghĩa vụ “vô tư, khách quan trong việc giải quyết vụ tranh chấp”.
Để đảm bảo tính trung lập và khách quan, một số trung tâm trọng tài đã đưa ra một số giới hạn về tiêu chí quốc tịch trọng tài viên. Theo Quy tắc tố tụng của ICC, trọng tài viên duy nhất hoặc Chủ tịch hội đồng trọng tài phải là người có quốc tịch khác với quốc tịch của các bên tranh chấp (Điều 9 khoản 5).

Continue reading

TRANH CHẤP LAO ĐỘNG: BỊ SA THẢI TRÁI LUẬT

TRÙNG KHÁNH

Biên bản họp xét kỷ luật được lập sau ba tháng kể từ ngày người lao động bị sa thải. Khi xử lý vi phạm bằng hình thức sa thải, công ty đã không trao đổi, thống nhất sự việc với công đoàn cấp cơ sở.

Cách đây năm tháng, anh Đỗ Phú Hóa (phường 7, TP Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu) đã bị công ty nơi anh làm việc ra quyết định sa thải với lý do tham ô gần 500 ngàn đồng.

Bỏ quên 28 lít dầu

Từ tháng 5-2007, anh Hóa là tài xế kiêm công nhân Công ty cổ phần Hàng hải Mermaid Việt Nam (đóng tại Khu công nghiệp Đông Xuyên, TP Vũng Tàu). Ngày 3-9-2008, anh Hóa chuẩn bị xe đi công tác. Nhìn kim xăng đã vơi nửa, anh ước chừng phải đổ thêm khoảng 60 lít dầu diesel. Anh Hóa đã lên văn phòng ký phiếu chi 60 lít dầu và đánh xe tới cửa hàng xăng dầu (nơi anh Hóa và các tài xế khác trong công ty thường ghé) để đổ dầu.

Trong khi nhân viên cây xăng đổ dầu vào xe, anh Hóa nhận được điện thoại nên đứng ra xa để nói chuyện. Khi quay vào, anh thấy nắp bình xăng đã được đóng lại. Nghĩ rằng cây xăng đã đổ đủ số lượng dầu ghi trong phiếu, anh Hóa chạy xe đi.

Ngày 8-9-2008, công ty đã tổ chức họp để truy cứu trách nhiệm các tài xế làm thất thoát dầu. Anh Hóa và hai tài xế khác cùng điều khiển một chiếc xe được yêu cầu viết bản tường trình. Theo anh Hóa, đến sau này anh mới biết hôm đó nhân viên cây xăng chỉ đổ 32 lít dầu thì bình đầy. Nhân viên ấy đã vào trong ghi phiếu biên nhận dư 28 lít dầu cho anh. Do anh Hóa không biết để chờ lấy phiếu nên cửa hàng vẫn giữ phiếu này. Phía cửa hàng cũng có văn bản xác nhận vụ việc mà qua đó cho thấy anh Hóa đã trình bày đúng sự thật.

Continue reading

NỀN KINH TẾ NHIỀU THÀNH PHẦN VỚI PHÁT HUY CÁC NGUỒN LỰC ĐỂ PHÁT TRIỂN

TRẦN QUANG NHIẾP

1 – Sự cần thiết của nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta

Một trong những thành tựu lớn nhất của gần 18 năm đổi mới ở nước ta là đổi  mới kinh tế, tạo nên những tiềm lực mới cho sự phát triển của đất nước.

Có được thành tựu ấy là do nhiều nguyên nhân, trong đó đổi mới tư duy kinh tế, thực hiện nền kinh tế nhiều thành phần, gắn với thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa là cơ bản nhất.

Một thời chưa xa, chúng ta lúng túng trong nền kinh tế chỉ thừa nhận hai thành phần là quốc doanh và tập thể. Và không ít người cho rằng, chỉ có như vậy mới thực sự là xã hội chủ nghĩa.(!)

Chúng ta không phê phán một cách phi lịch sử, nhưng quan trọng là đã nhận ra những lẽ cần thiết của sự tồn tại hai thành phần kinh tế đó và những hạn chế làm kìm hãm sự phát triển của đất nước khi thực hiện nền kinh tế chỉ có hai thành phần như vậy để từ đó tìm ra cách làm ăn mới phù hợp với quy luật phát triển.

Từ Đại hội VI (1986), Đảng ta đề ra đường lối đổi mới toàn diện trong đó có đổi mới kinh tế, phát triển các thành phần kinh tế với nhiều hình thức rất phong phú, đa dạng và sáng tạo. Nhờ đó, chỉ sau hơn 10 năm, vẫn những con người ấy, cũng những điều kiện tự nhiên ấy, từ một đất nước thiếu ăn quanh năm, trông chờ chủ yếu vào sự viện trợ từ bên ngoài; hàng tiêu dùng khan hiếm, người lao động không có việc làm… đã trở thành một đất nước không những đủ ăn, mà còn có lương thực, thực phẩm dự trữ và đến nay xuất khẩu gạo đứng hàng thứ hai thế giới; nhu cầu tiêu dùng trong nước được thỏa mãn về nhiều mặt, kết cấu hạ tầng phát triển, nền kinh tế – xã hội sôi động, đất nước không ngừng phát triển. Chính nhờ đổi mới cơ chế, chính sách nhằm không ngừng phát triển các thành phần kinh tế, các tiềm năng của xã hội được khai thác, nội lực được phát huy, sức mạnh của bên ngoài được huy động.

Chính sách đối với phát triển các thành phần kinh tế là một bộ phận trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của Đảng và Nhà nước ta. Từ chỗ không thừa nhận kinh tế tư nhân đến chỗ thừa nhận nó; từ chỗ thừa nhận kinh doanh nhỏ ở một số ngành nghề, đến chỗ không hạn chế về quy mô và lĩnh vực mà luật pháp không cấm. Từ chỗ cho làm, đến chỗ được làm, mỗi lần thay đổi tư duy như vậy là một lần nhận thức của chúng ta được mở rộng, sâu thêm và kinh tế tư nhân cùng các thành phần kinh tế phát triển. Những biến đổi như vậy đã thúc đẩy các thành phần kinh tế đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm tạo cơ hội cho những chủ thể kinh tế, các doanh nhân mới năng động, sáng tạo, dám nghĩ dám làm, dám chịu trách nhiệm với mình và với đất nước.

Continue reading