AI TIẾP TAY CHO VEDAN GIẾT CHẾT SÔNG THỊ VẢI?

PHẠM ĐÌNH TRỌNG

Không còn chiến tranh bom đạn, chết chóc, trong cuộc sống hòa bình tưởng như êm ả nhưng lại có những cuộc chiến âm thầm song cũng vô cùng khốc liệt, cũng nhiều mất mát đau lòng không kém sự chết chóc trong chiến tranh và những cuộc chiến ấy diễn ra trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Cuộc chiến tham nhũng. Cuộc chiến tội phạm. Cuộc chiến xâm lăng văn hóa. Cuộc chiến gian lận thương mại. Cuộc chiến ô nhiễm môi trường . . . Cuộc chiến nào cũng nhiều mất mát thương tổn và thương tổn lớn nhất, đau lòng nhất là thương tổn về đạo đức con người và đạo đức xã hội. Vì thế cũng có thể gọi những cuộc chiến đó là cuộc chiến đạo đức!
     Cuộc chiến môi trường Vedan nổ ra ngay từ cuối năm đầu tiên Vedan đi vào hoạt động khi tháng 10. 1994 người dân chài lưới trên sông Thị Vải ở huyện Nhơn Trạch, huyện Long Thành tỉnh Đồng Nai và huyện Tân Thành tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu đồng loạt thất thanh lên tiếng về cuộc sống khốn khổ của họ vì cá lớn, cá nhỏ, tôm, cua chết nổi lềnh phềng trên sông Thị Vải, cá sống không còn để đánh bắt! Sản lượng tôm cá thất thu tới 90%! Tháng 12 năm đó Thủ tướng Chính phủ yêu cầu sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường Đồng Nai điều tra, xử lí việc sản xuất gây ô nhiễm nước sông Thị Vải của công ty Vedan. Nếu chỉ là cuộc chiến môi trường, dù đơn vị gây ô nhiễm tinh vi đến đâu, giỏi che giấu đến đâu cũng không thể kéo dài tới mười bốn năm, sông Thị Vải cũng không thể bị ô nhiễm đến mức tàu nước ngoài không chịu qua sông để vào cảng vì nước sông ô nhiễm làm rỉ vỏ tàu! Khởi sự từ cuộc chiến giữa người dân sống trong vùng bị ô nhiễm, giữa cơ quan quản lí nhà nước về môi trường với đơn vị gây ô nhiễm nhanh chóng chuyển sang cuộc chiến trong nội bộ các cơ quan nhà nước, từ cuộc chiến môi trường chuyển sang cuộc chiến đạo đức. Vì thế cuộc chiến ấy mới cam go, dai dẳng và mất mát lớn đến thế!
       Dòng sông nhiều tôm cá, nguồn sống vô tận tự bao đời của người dân hai bên bờ sông Thị Vải nay đã trở thành con sông cạn kiệt sự sống! Tiếng than của người dân càng ngày càng khẩn thiết. Năm 1995, các cơ quan chức năng: Sở khoa học, Công nghệ và Môi trường tỉnh Đồng Nai, Trung tâm Nước và Công nghệ Môi trường thuộc trường Đại học Bách khoa TPHCM, Viện Nghiên cứu Môi trường Thủy sản, bộ Thủy sản, phân viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật liên tục đến Vedan kiểm tra, lấy mẫu nước xét nghiệm. Các báo chí có tiếng nói rộng rãi ở TPHCM: Sài Gòn Giải phóng, Tuổi trẻ, Người Lao động . . . đều lên tiếng về tình trạng nước thải của Vedan gây ô nhiễm trầm trọng sông Thị Vải: Chất thải từ nhà máy có màu đen lan truyền đi khắp cả sông Thị Vải từ thượng nguồn ở Long Thành, Đồng Nai xuống hạ nguồn ở Cần Giờ, TPHCM . . . từ ngày nhà máy bột ngọt Vedan hoạt động đổ chất thải ra sông cũng là lúc tôm cá chết hàng loạt (báo Sài Gòn Giải phóng ngày 21.12.1995)!

Continue reading

TRANH CHẤP VỀ SỞ HỮU: MUA NHÀ HỢP PHÁP, BỊ CHỦ CŨ CHIẾM LẠI?

MẠNH HƯNG

Tháng 9/2007, ông Nguyễn Văn Thăng ở xã Đồng Nguyên (Từ Sơn – Bắc Ninh) mua một căn nhà hợp pháp, có sự bảo đảm của nhiều cơ quan, chính quyền địa phương. Chưa kịp chuyển về ở, ông Thăng phát hiện ngôi nhà đã bị mẹ đẻ và con trai của chủ cũ chiếm giữ, ở bất hợp pháp.

Ngày 18/9/2007, ông Thăng tham gia phiên đấu giá do Trung tâm bán đấu giá tài sản tỉnh Bắc Ninh tổ chức và đã thắng với giá 306.503.300 đồng khi đặt mua tài sản nhà đất tại thôn Đa Hội (Châu Khê – Từ Sơn) gồm: Tổng diện tích đất 107m2; trên đó có ngôi nhà cấp 3B xây dựng năm 1991, diện tích 77,4m2, cổng sắt, sân gạch… Ông Thăng đã nộp đủ số tiền (Biên lai thu tiền số 08799, người thu tiền là ông Lê Tuấn Giang). Trong lúc chờ bàn giao tài sản, ông Thăng nhận được thông báo của Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao về việc: Hoãn thi hành án trong vòng 90 ngày để xem xét lại bản án, nguyên nhân vì gia đình người thi hành án kháng nghị.

Nhà đất ông Thăng đấu giá trước đây là tài sản của vợ chồng ông Trần Văn Tráng và bà Trần Thị Huệ. Do vợ chồng ly dị và theo phán quyết của Toà án nhân dân huyện Từ Sơn, bà Huệ được hưởng 198 triệu đồng. Bà Huệ có đơn đề nghị thi hành án, theo đúng quy định của pháp luật, Cơ quan thi hành án huyện Từ Sơn đã kê biên, định giá tài sản, uỷ quyền cho Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản Bắc Ninh để bán nhà đất đứng tên anh Tráng, trích một phần tiền trả cho chị Huệ như bản án đã tuyên.

Sau 90 ngày xem xét, nghiên cứu hồ sơ vụ án, Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao nhận thấy bản án hoàn toàn có căn cứ, đúng trình tự pháp luật và đồng ý cho thực thi. Ngày 11/3/2008, đại diện Phòng thi hành án huyện Từ Sơn; Công an huyện Từ Sơn; Viện Kiểm sát nhân dân huyện Từ Sơn; Phòng Tài nguyên – Môi trường huyện Từ Sơn; UBND xã Châu Khê và ông Trưởng thôn Đa Hội đã bàn giao khu đất và ngôi nhà trên cho ông Thăng. Sau khi được bàn giao tài sản, ông Thăng đã thay toàn bộ khóa cửa, khóa cổng và có ý định sửa lại rồi mới chuyển đến ở. Thế nhưng chỉ sau đó vài hôm, khi ông Thăng đưa thợ đến sửa thì thấy toàn bộ khóa cổng, khóa cửa nhà đã bị phá, trong nhà đang có người ở. Người ở trái phép là bà Cường và anh Trần Đức Thọ (mẹ đẻ và con trai ông Trần Văn Tráng, chủ cũ của ngôi nhà).

Continue reading

VẤN ĐỀ QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM

THS. TRỊNH THANH HUYỀN – Ngân hàng Công thương Việt Nam

Từ khi đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường và đặc biệt là kể từ khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên của WTO, vấn đề quản trị doanh nghiệp (DN) đã được đặt ra như một yêu cầu cấp thiết và quan trọng trong sự phát triển chung của nền kinh tế. Quản trị DN tốt đồng nghĩa với khả năng tiếp cận tài chính, đầu tư, nâng cao giá trị tăng trưởng… Các ngân hàng thương mại (NHTM) với đặc thù là các tổ chức kinh doanh “tiền”, có độ rủi ro cao và mức độ ảnh hưởng lớn thì vấn đề quản trị lại càng có ý nghĩa hơn, đặc biệt đối với một nước đang phát triển như Việt Nam, khi ngân hàng là nguồn tài chính bên ngoài cực kỳ quan trọng đối với DN.

Một ngân hàng yếu kém trong quản trị sẽ không chỉ gây tổn thất cho chính ngân hàng đó, mà còn tạo nên những rủi ro nhất định mang tính dây chuyền cho các đơn vị khác và ngược lại. Rõ ràng, khả năng chống đỡ của ngân hàng càng cao, khả năng hỗ trợ cho khu vực DN sẽ càng lớn. Thời gian tới, khi hàng loạt các ngân hàng ngoại sẽ ồ ạt "đổ bộ" vào Việt Nam, chắc chắn những đòi hỏi về công tác quản trị ngân hàng (QTNH) sẽ càng gay gắt hơn đối với ngân hàng nội.

1. Một số vấn đề cơ bản về quản trị ngân hàng
Thứ nhất, tại sao cần quan tâm đến QTNH
Các NHTM – bản thân chúng cũng là các DN, song là các DN đặc biệt, do vậy hoạt động QTNH không những tác động đến giá trị của ngân hàng và giá vốn của họ mà còn tác động đến giá vốn của các DN và hộ gia đình mà họ cho vay vốn. Công tác tổ chức và quản trị tại ngân hàng sẽ tác động trực tiếp không chỉ đến giá trị của ngân hàng mà còn tới vị thế và uy tín của ngân hàng. Một cách tổng quát, công tác QTNH tác động đến khả năng chấp nhận rủi ro của ngân hàng, là thước đo cho khả năng chống đỡ của ngân hàng trước biến động của nền kinh tế. Không những thế, hoạt động của ngân hàng tác động đến sản lượng của nền kinh tế bởi lẽ các ngân hàng huy động và phân bổ tiết kiệm của xã hội. Đặc biệt ở các nước đang phát triển, khi các ngân hàng là nguồn tài chính bên ngoài rất lớn của DN, QTNH tốt sẽ góp phần thúc đẩy quản trị DN của các DN mà họ cho vay.
Thứ hai, đặc điểm của quản trị DN ở các ngân hàng
Các NHTM là các DN đặc biệt nên hoạt động của các ngân hàng cũng có những “đặc thù” khác với các công ty. đó là: sự không rõ ràng của một số nguồn thông tin tài chính khiến khó đánh giá chất lượng hoạt động và rủi ro; sự đa dạng về các đối tượng thụ hưởng nên khó quản lý; độ rủi ro lớn, nhiều khoản nợ ngắn hạn nên rủi ro trong hoạt động là rất cao và rất dễ dẫn đến phá sản; chịu sự quản lý chặt chẽ với nhiều quy định khắt khe và chi tiết do tầm quan trọng trong hệ thống, nếu đổ vỡ có thể gây ra tổn thất lớn và trên phạm vi rộng. Vì thế, bản thân các ngân hàng cũng phải đưa ra các quy định rất cụ thể, rõ ràng như các hạn chế về hoạt động (sản phẩm, chi nhánh), yêu cầu về đảm bảo an toàn (phân loại tín dụng, dự trữ bắt buộc…).

Continue reading

MÔ HÌNH BỘ TƯ PHÁP THỐNG NHẤT QUẢN LÝ THI HÀNH ÁN TRÊN THẾ GIỚI: MANG LẠI NHIỀU LỢI ÍCH ĐÁNG KỂ

HUỆ CHI

Đó là kinh nghiệm quốc tế mà GS.Rob Allen – Giám đốc Trung tâm quốc tế về nghiên cứu nhà tù (trường King’s College thuộc Đại học London, Anh) – đã khẳng định sau khi nghiên cứu các mô hình quản lý thi hành án (THA), nhất là quản lý hệ thống nhà tù trên thế giới.

Đảm bảo tính chất dân sự và văn hóa quyền con người

Trong những năm gần đây đã xuất hiện xu thế chuyển trách nhiệm quản lý nhà tù sang Bộ Tư pháp. Trên thế giới, phần lớn các nhà tù và cơ sở giam giữ thuộc quyền quản lý của Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ và/hoặc Bộ Công an, quân đội, Bộ Y tế và các cơ quan giáo dục/phúc lợi xã hội. Theo kinh nghiệm của nhiều nước mà GS.Rob Allen đã đúc kết, nếu nhà tù thuộc quyền kiểm soát của quân đội thì không thể đáp ứng được những yêu cầu phù hợp với các qui tắc quốc tế để bảo vệ mọi quyền pháp lý của con người, cho phép Quốc hội kiểm soát và các tổ chức xã hội dân sự tiếp cận đối với tù nhân và các cơ sở giam giữ. Điều đó có thể xâm hại và làm tổn thương tới tính chất dân sự và văn hóa quyền con người vốn là những yếu tố cần thiết của hệ thống nhà tù dân sự, cũng như có nguy cơ ảnh hưởng đến tính công bằng của quá trình tố tụng hình sự.

GS.Rob Allen cũng thấy rằng, nếu không có sự tách bạch rõ ràng giữa cơ quan quản lý cảnh sát và cơ quan quản lý nhà tù có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng. Nếu nhà tù thuộc kiểm quyền soát của cảnh sát hay trong cùng cơ quan của Chính phủ thì có thể nảy sinh nguy cơ là cán bộ điều tra sử dụng việc giam giữ nghi phạm làm công cụ điều tra hay như một phương tiện để ép buộc người đó phải thú nhận lời buộc tội đối với mình. Điều này có khả năng dẫn đến việc hành hạ, tra tấn hay các hành vi làm hạ thấp nhân phẩm khác.

Trên cơ sở nhìn ra những bất lợi nếu để quân đội hay cảnh sát quản lý hệ thống nhà tù, GS.Rob Allen nhận định, việc giao trách nhiệm về tư pháp hình sự cho Bộ Tư pháp có thể mang lại nhiều lợi ích tích cực hơn. Điều đó thể hiện ở việc, Bộ Tư pháp dường như là mảnh đất màu mỡ hơn cho cải cách chính sách về các lĩnh vực như tố tụng hình sự, đưa ra các hình phạt thay thế cho tù giam và cải thiện điều kiện trong các nhà tù, so với Bộ Công an hay Bộ Nội vụ.

Continue reading

HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN ĐĂNG KÝ VÀ QUẢN LÝ HỘ TỊCH TẠI CÁC CƠ QUAN ĐẠI DIỆN NGOẠI GIAO, CƠ QUAN LÃNH SỰ CỦA VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI

Ngày 31 tháng 12 năm 2008, liên bộ Bộ Tư pháp – Bộ Ngoại giao đã ký ban hành Thông tư liên tịch số 11/2008/TTLT-BTP-BNG hướng dẫn thực hiện quy định của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch tại các Cơ quan đại diện Ngoại giao, Cơ quan Lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài. Thông tư liên tịch này hướng dẫn thực hiện Điều 80 của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch, bao gồm:

Đăng ký khai sinh cho trẻ em sinh ra ở nước ngoài và có quốc tịch Việt Nam theo quy định của Luật quốc tịch Việt Nam;

Đăng ký kết hôn giữa hai bên nam nữ là công dân Việt Nam tạm trú ở nước ngoài;

Đăng ký khai tử cho công dân Việt Nam chết ở nước ngoài;

Đăng ký việc nhận nuôi con nuôi giữa người nhận nuôi là công dân Việt Nam tạm trú ở nước ngoài với trẻ em được nhận làm con nuôi là công dân Việt Nam tạm trú ở nước ngoài;

Đăng ký việc giám hộ giữa công dân Việt Nam với nhau cư trú ở nước ngoài, hoặc giữa công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài với người nước ngoài;

Đăng ký việc nhận cha, mẹ, con giữa người nhận và người được nhận là công dân Việt Nam tạm trú ở nước ngoài;

Đăng ký việc thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính, bổ sung hộ tịch, điều chỉnh hộ tịch cho công dân Việt Nam đã đăng ký tại Cơ quan đại diện Việt Nam hoặc đã đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài và đã ghi chú vào sổ hộ tịch tại Cơ quan đại diện Việt Nam;

Thực hiện việc ghi vào sổ các thay đổi hộ tịch khác của công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài, bao gồm: xác định cha, mẹ, con; thay đổi quốc tịch; ly hôn; huỷ việc kết hôn trái pháp luật; chấm dứt việc nuôi con nuôi;

Continue reading

MỘT THÔN “CÕNG” 4 NHÀ MÁY: DÂN PHẢN ĐỐI … TỈNH LỜ VÀ QUA MẶT BỘ

NAM TRẦN

Xu thế “trải thảm đỏ” thu hút đầu tư đã và đang góp phần giúp nhiều vùng quê thay da đổi thịt. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có không ít làng quê bị “bội thực” đầu tư, trong khi đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp. Chuyện một thôn “cõng” 4 nhà máy xi măng đang diễn ra tại thôn Bồng Lạng, xã Thanh Nghị (Thanh Liêm – Hà Nam) là một ví dụ…

Thôn Bồng Lạng có diện tích vỏn vẹn 1,1km2 nhưng từ năm 2003 đến nay đã có tới 4 dự án xây dựng nhà máy xi măng được phê duyệt, gồm: Hoàng Long, Thanh Liêm, Tràng An, Xuân Thành. Nhiều người đặt câu hỏi, liệu đây có phải là những “dự án hành dân”?

“Quần ngư tranh thực"

Chiều cuối năm, chúng tôi tới thôn Bồng Lạng khi những chiếc xe tải chở đầy vật liệu xây dựng ra vào tấp nập làm xáo xác cả vùng quê vốn yên bình. Từ trên cao nhìn xuống, Bồng Lạng không giống như một khu dân cư mà bị xé lẻ bởi những dự án xây dựng nhà máy xi măng.

Cách đây không lâu, người dân trong thôn còn hồ hởi mỗi khi nhắc tới các dự án xi măng. Họ vui, bởi đây là cơ hội để hàng ngàn lao động có việc làm, không phải treo mình trên những sườn núi cao đầy hiểm nguy rình rập để khai thác đá. Thế nhưng, xét đến cùng, Bồng Lạng cũng chỉ như “miếng thịt” đang bị “xẻ mồi” nên người dân có những nỗi lo không dễ giải quyết.

Gặp chúng tôi, ông Đinh Ngọc Thập, Trưởng thôn Bồng Lạng than thở: “Hỏi người hết ruộng ấy à, tôi chứ còn ai?”. Theo ông, không chỉ có 4 nhà máy xi măng lấy đất, mà có tới gần chục doanh nghiệp, đơn vị thi nhau xà xẻo đất nông nghiệp để xây dựng. Nào là đất thi công cầu Bồng Lạng, nào là cây xăng, trạm thu phí, cơ sở sản xuất khoáng chất thức ăn chăn nuôi, sửa chữa ô tô… nhưng nhiều nhất vẫn là đất dành cho sản xuất xi măng.

Thôn Bồng Lạng có khoảng 153ha đất sản xuất. Khi thi công cầu Bồng Lạng qua sông Đáy năm 2000, bà con đã mất 2,4ha đất nông nghiệp. Tiếp đến là cây xăng, trạm thu phí, công ty sản xuất vật liệu xây dựng… đều cần mặt bằng từ đất nông nghiệp. Từ năm 2002, Công ty cổ phần Xi măng Hoàng Long lấy hơn 11ha đất xây dựng nhà máy, Công ty cổ phần Xi măng Thanh Liêm “ăn” gần 40ha, Công ty Xi măng Tràng An lấy 32ha và mới đây là Công ty Xi măng Xuân Thành cũng chiếm phần. Nhiều người ở Bồng Lạng xót xa gọi thôn mình là mảnh đất “quần ngư tranh thực”.

Continue reading