ĐIỀU KIỆN ĐỂ VIỆT NAM PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

TRẦN VĂN THỌ

Kinh tế Việt Nam đang đứng trước một khúc ngoặt. Những khó khăn hiện nay như lạm phát ở mức cao, cán cân thanh toán quốc tế và ngân sách thâm hụt nặng có thể được giải quyết tạm thời bằng một số biện pháp mạnh, bằng việc thực thi quyết liệt các biện pháp đó trước nguy cơ bất ổn xã hội. Nhưng ở đây tôi muốn bàn về một vấn đề lâu dài hơn, đó là tính chất của giai đoạn phát triển sắp tới. Nếu chúng ta muốn giai đoạn sắp tới phải là giai đoạn tăng trưởng bền vững (sustained growth) thì hiện nay phải xây dựng những tiền đề về cơ chế, chính sách, chiến lược như thế nào? Tăng trưởng bền vững được thực hiện cũng có nghĩa là những biến động vĩ mô trầm trọng như hiện nay sẽ không xảy ra, do đó vấn đề sắp bàn cũng có liên quan đến những nguyên nhân sâu xa của cuộc khủng hoảng hiện nay.

Từ thập niên 1980 ở Trung Quốc và Việt Nam và từ thập niên 1990 ở Đông Âu, các nền kinh tế kế hoạch tập trung từng bước chuyển sang kinh tế thị trường. Vào đầu thập niên 1990, chiến lược chuyển đổi và các biện pháp cụ thể được Ngân hàng thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế và nhiều chuyên gia Mỹ đúc kết thành ba nội dung chính: Tự do hóa (liberalization) các hoạt động kinh tế kể cả ngoại thương; giá cả, hối suất do thị trường tự do quyết định; ổn định hóa (stabilization) kinh tế vĩ mô, giảm chi tiêu Chính phủ; và tư nhân hóa (privatization) doanh nghiệp quốc doanh. Ba biện pháp này được khuyến khích tiến hành đồng loạt trong thời gian ngắn. Các nhà phân tích gọi đây là Đồng thuận Washington (Washington Consensus).
Nếu cải cách theo Đồng thuận Washington là chiến lược cấp tiến có tính cách liệu pháp shock để cứu chữa ngay căn bệnh của thể chế kinh tế xã hội chủ nghĩa thì cải cách của Trung Quốc và Việt Nam có thể được gọi là tiệm tiến (gradualism, incrementalism) hoặc sự tiếp cận hai đường song song (two-track approach). Nghĩa là tùy theo khu vực kinh tế mà áp dụng biện pháp cải cách khác nhau để giữ ổn định chính trị, xã hội và để không ai bị thiệt trong quá trình cải cách (reforms without losers), như vậy tránh được sự chống đối cải cách của thế lực bảo thủ muốn duy trì quyền lợi đã có. Nói cụ thể, ít nhất là trong giai đoạn đầu, không tư nhân hóa doanh nghiệp quốc doanh, thay vào đó đẩy mạnh phát triển doanh nghiệp phi quốc doanh, kể cả đầu tư từ nước ngoài (FDI).

Continue reading

HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT ĐÁP ỨNG YÊU CẦU XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XHCN

PGS.TS. HÀ HÙNG CƯỜNG – ƯVTWĐ, BỘ TRƯỞNG BỘ TƯ PHÁP

Phóng sự tối 5 tháng 11 năm 2008 của Chương trình thời sự Đài truyền hình Việt Nam đề cập đến những tranh chấp giữa cha và con khi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) mang tên cha, còn Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà (sổ hồng) cho ngôi nhà được xây trên mảnh đất bằng tiền của con đầu tư, nên mang tên con. Con mang sổ hồng đi thế chấp một ngân hàng, bố mang sổ đỏ đi thế chấp một ngân hàng khác. Ngân hàng nào được quyền ưu tiên đối với bất động sản nhà đất này?

Phóng sự tối 1 tháng 12 năm 2008 đưa tin về tranh chấp giữa những người góp vốn mua căn hộ trong chung cư sẽ được xây dựng và chủ đầu tư dự án chung cư. Tranh chấp liên quan đến Điều 39 của Luật Nhà ở năm 2005. Người mua cho rằng chủ đầu tư vi phạm Luật Nhà ở khi huy động vốn của họ ở thời điểm chưa hoàn thành móng mà chỉ mới đóng được cọc móng. Chủ đầu tư cho rằng họ đã làm xong móng và vì vậy có quyền huy động vốn. Pháp luật hiện hành không quy định thế nào là móng nhà, nên không thể có đủ căn cứ pháp lý để xác định vấn đề.

Hai sự kiện nêu trên mà Truyền hình Việt Nam đã đưa không phải là một vài hiện tượng cá biệt và điều này cho thấy hệ thống pháp luật nước ta đang cần phải được tiếp tục hoàn thiện mạnh mẽ hơn để đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN.

1. Nhà nước pháp quyền và những yêu cầu cơ bản đối với hệ thống pháp luật

Nhà nước pháp quyền là một trong những thành tựu của loài người trong việc tổ chức và vận hành xã hội. Những ý tưởng về nhà nước pháp quyền đã có từ lâu trong lịch sử nhân loại và được các nhà khoa học chính trị, luật học, xã hội học, sử học nghiên cứu từ nhiều phương diện khác nhau. Nhà nước pháp quyền được các nhà luật học của nhiều nước định nghĩa bằng những ngôn ngữ và diễn đạt khác nhau, song về bản chất có thể tóm lại như sau: nhà nước pháp quyền là nhà nước thực thi quyền lực của mình dựa trên nền tảng pháp luật được ban hành theo thủ tục hiến định nhằm bảo đảm các quyền tự do, dân chủ của nhân dân và công lý. Như vậy, nếu phân tích đầy đủ khái niệm này từ góc độ pháp luật, có thể thấy rằng một nhà nước pháp quyền phải là nhà nước chịu sự kiểm soát, sự chế ngự của pháp luật trong mọi hoạt động của mình.

Continue reading

NHÌN NHẬN ĐÚNG VỀ CHỈ SỐ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ

LÊ BÌNH

Ngân hàng Deutsche Bank vừa công bố báo cáo đánh giá mức độ hấp dẫn của thị trường chứng khoán Việt Nam, trong đó, đặc biệt quan tâm đến chi phí sử dụng vốn (COE). Theo đó, hiện chi phí sử dụng vốn trong đầu tư chứng khoán tại nước ta ở mức 17% . Đây là mức chi phí sử dụng vốn cao thứ hai trong khu vực châu Á, sau chi phí sử dụng vốn của thị trường chứng khoán Pakistan và cao hơn các nước khác trong khu vực Đông Nam Á.

So sánh với 6 tháng trước, mức chi phí sử dụng vốn này tăng 0,65%, tăng cao thứ hai trong khu vực châu Á, sau Trung Quốc. Bên cạnh đó, chỉ số phần bù rủi ro vốn cổ phần cũng đã tăng lên mức 6,5% chi phí vốn của nhà đầu tư. Với những thông số này nhiều chuyên gia đề nghị cần nhìn nhận đúng về sức hấp dẫn của thị trường chứng khoán nước ta với các nhà đầu tư nước ngoài. Bởi lãi suất mong muốn của nhà đầu tư trên tổng vốn đầu tư tăng lên mức 17% cũng là quá cao trong giai đoạn thị trường chứng khoán nước ta phát triển tốt nhất.

Hơn nữa, trên thị trường chứng khoán thế giới, COE không chỉ là tính toán đơn thuần về chi phí vốn của thị trường mà khi xếp cạnh các nước khác nó trở thành một thước đo đánh giá lợi thế so sánh của thị trường này so với thị trường khác. COE cũng thể hiện kỳ vọng tối thiểu của nhà đầu tư chứng khoán khi đầu tư vào cổ phiếu để bù đắp lại những rủi ro của thị trường. Nghĩa là dù nhà đầu tư nước ngoài có kỳ vọng mức lợi nhuận cao đối với thị trường chứng khoán nước ta vẫn không thể yên tâm. Do yếu tố này chịu ảnh hưởng của tâm lý nhà đầu tư và phụ thuộc vào nhiều yếu tố bên ngoài như tăng trưởng kinh tế, các chính sách của Chính phủ, xu hướng đầu tư… Và trong mỗi thời điểm khác nhau của nền kinh tế thế giới, CEO có ý nghĩa tương đối khác nhau. Trong thời kỳ tăng trưởng mạnh của nền kinh tế thế giới, thị trường mới nổi trở thành điểm đến hẫp dẫn của nhà đầu tư vì tiềm năng của thị trường này thường được đánh giá là đủ để bù đắp những rủi ro thể hiện trong chi phí vốn. Tuy nhiên, khi kinh tế thế giới suy giảm, các thị trường này sẽ bị ảnh hưởng mạnh.

Continue reading

THUA KIỆN NHƯNG KHÔNG KHỎI NỘP ÁN PHÍ

THỤY CHÂU

Cùng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và cùng thua kiện nhưng người phải nộp án phí, người không. Theo Điều 131 Bộ luật Tố tụng dân sự, đương sự phải chịu án phí sơ thẩm nếu yêu cầu của họ không được tòa án chấp nhận, trừ trường hợp họ được miễn hoặc không phải nộp án phí. Nhưng khi giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất, nhiều tòa án lại thiếu đồng nhất trong việc xác định nghĩa vụ nộp án phí cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (tạm gọi là người có liên quan).

Nơi buộc nộp

Bà Huỳnh Thị Xuân Hoa (xã Phước Lộc, huyện Nhà Bè, TP.HCM) đại diện cho cả hộ gia đình đứng tên trên “giấy đỏ”. Năm 2007, vợ chồng bà N. kiện đòi hộ bà Hoa giao trả gần 1.500 m2 đất. Năm người con của vợ chồng bà Hoa tham gia vụ kiện với tư cách người có liên quan trong vụ án. Họ có cùng ý kiến với cha mẹ, tức không đồng ý trả đất cho nguyên đơn.

Tháng 8-2008, TAND huyện Nhà Bè mở phiên xử sơ thẩm và tuyên buộc hộ bà Hoa phải trả đất. Khi tính án phí, cấp sơ thẩm buộc vợ chồng bà Hoa cùng năm người con liên đới nộp hơn 22 triệu đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Năm 2007, ông L. gửi đơn kiện ông P. tại TAND quận Phú Nhuận với hai yêu cầu là ông P. phải trả 4 m2 đất trên đường Nguyễn Đình Chính (quận Phú Nhuận) và bồi thường thiệt hại do việc xây dựng nhà gây ra. Giá trị thành tiền của hai yêu cầu này là 330 triệu đồng. Được xác định là người có liên quan trong vụ án, vợ ông L. cũng có yêu cầu tương tự chồng mình. Sơ thẩm vụ án hồi tháng 1-2008, TAND quận Phú Nhuận chỉ chấp nhận cho vợ chồng ông L. hưởng gần 20 triệu đồng tiền bồi thường; phần còn lại tòa bác hết. Về án phí sơ thẩm, hai vợ chồng phải cùng nhau nộp hơn 14 triệu đồng.

Nơi không thu

Giống như vợ ông L., bà N. cũng là người có liên quan trong vụ tranh chấp mà chồng mình là bị đơn và một công ty cổ phần kinh doanh nhà là nguyên đơn. Năm 2006, công ty này kiện đòi bị đơn trả hơn 4.000 m2 đất tọa lạc tại huyện Bến Cát (Bình Dương), đồng thời tháo dỡ toàn bộ tài sản trên đất. Sát cánh cùng chồng, bà N. khẳng định lời trình bày của chồng tại tòa chính xác 100%. Bà và chồng chỉ đồng ý di dời nếu công ty có phương án hỗ trợ thỏa đáng để vợ chồng bà tái định cư.

Continue reading