BÙI NGUYỄN
Trên cơ sở cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 1992, Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2005 đã quy định một cách tương đối đầy đủ, toàn diện (toàn bộ Phần II với 117 Điều) các vấn đề về quyền sở hữu. Tuy nhiên, khi đi vào cuộc sống cũng như trong mối tương quan với các đạo luật khác của hệ thống quốc luật, những quy định về quyền sở hữu trong BLDS năm 2005 cũng bắt đầu cho thấy không ít bất cập. Trong buổi “Tọa đàm về sở hữu trong pháp luật dân sự của một số nước Châu Âu – Sửa đổi BLDS Việt Nam năm 2005” diễn ra mới đây, các chuyên gia pháp lý đã dành khá nhiều thời lượng để “điểm mặt, chỉ tên” những bất cập này, cũng như cách thức để hóa giải chúng.
Quyền của người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản – có cần cụ thể hơn?
Chế định về quyền sở hữu không chỉ tập trung ở địa vị pháp lý và các quyền chủ thể của chủ sở hữu vì như vậy quyền sở hữu chỉ được nhìn nhận ở phạm vi hẹp. Do đó, trong chế định về quyền sở hữu còn có cả các quy định về quyền của người không phải chủ sở hữu đối với tài sản trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt. Trong BLDS Việt Nam năm 2005, quyền này đã được thể hiện qua nội dung Điều 173. Theo đó, người không phải là chủ sở hữu tài sản chỉ có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản không thuộc quyền sở hữu của mình theo thỏa thuận với chủ sở hữu tài sản đó hoặc theo quy định của pháp luật và các quyền của người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản bao gồm: quyền sử dụng đất; quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề và các quyền khác theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật.
Tại buổi Tọa đàm, các chuyên gia pháp lý cho rằng việc quy định rõ ràng và đầy đủ hơn về quyền của người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản đã cho thấy BLDS năm 2005 đã có sự hoàn thiện nhất định so với BLDS năm 1995, tương đồng với các vật quyền theo quy định của nhiều nước trên thế giới. Tuy nhiên, vẫn không tránh khỏi một số bật cập như: tính chưa cụ thể (ví dụ BLDS năm 2005 mới chỉ liệt kê về quyền sử dụng đất mà chưa phân chia nhỏ quyền này thành các loại quyền cụ thể như quyền sử dụng đất bề mặt, quyền sử dụng đất để xây công trình ngầm…); tính chưa đầy đủ (hiện nay trong pháp luật tuy có quy định về việc sử dụng đất để xây công trình ngầm, nhưng khái niệm thế nào là công trình ngầm và việc sử dụng đất để xây dựng công trình ngầm, cũng như mối quan hệ giữa quyền đối với công trình trên mặt đất với quyền đối với công trình ngầm chưa được luật điều chỉnh)…
Filed under: LÝ LUẬN CHUNG | Leave a comment »














Các quy định của pháp luật được dẫn chiếu trong các bài viết được đăng trên Trang Thông tin này có thể còn hiệu lực, không còn hiệu lực hoặc chỉ là dự thảo quy phạm pháp luật. Rất mong các bạn khi khai thác thông tin cần cẩn trọng với nội dung của từng bài viết - SO SÁNH VÀ PHẢN BIỆN KHOA HỌC LÀ BẢN LĨNH CỦA NGƯỜI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC.


Các bạn thân mến, vì lý do thời gian tôi đã và đang chậm hồi đáp nhiều vấn đề được nêu trên trang thông tin. Rất mong các bạn thông cảm vì sự chậm trễ này. Qua đây, hy vọng các bạn cùng trao đổi và chia sẻ kiến thức nhiều hơn nữa vì lợi ích chung của cộng đồng nghiên cứu Luật học.
Civillawinfor đã nhận được sự chấp thuận chính thức của Giáo sư Trần Hữu Dũng, quản trị Tạp chí Thời đại mới, Ban Biên tập Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, Viên Triết học Viện hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, trang thông tin chungta.com về việc sử dụng lại các bài viết. Để bảo vệ bản quyền cho cơ quan phát hành và các tác giả, đề nghị các bạn khi khai thác thông tin cần nêu rõ nguồn trích, tên tác giả, không biên tập lại nội dung bài viết. Riêng các bài viết thuộc Tạp chí Thời đại mới, các bạn nghiên cứu bài viết trực tiếp trên trang thông tin, không in bài viết thành văn bản, không phổ biến dưới mục đích thương mại.










