CÔNG VĂN SỐ 67/BYT-ATTP NGÀY 05/01/2009 CỦA BỘ Y TẾ VỀ VIỆC ĐĂNG TẢI MỘT SỐ THÔNG TIN KHÔNG CHÍNH XÁC LIÊN QUAN ĐẾN SẢN PHẨM SỮA MELAMINE

Kính gửi:

– Ban Tuyên giáo Trung ương;
– Bộ Thông tin và Truyền thông;
– Tổng Giám đốc các đài phát thanh, truyền hình;
– Tổng biên tập các báo;

Trước hết Bộ Y tế xin gửi lời cảm ơn tới Ban Tuyên giáo TW, Bộ Thông tin và Truyền thông, các Đ/c Tổng Biên tập, Tổng Giám đốc các báo/đài về sự hợp tác, phối hợp trong công tác thông tin, truyền thông về mọi mặt hoạt động của ngành y tế nói chung và công tác bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm nói riêng góp phần tích cực với ngành y tế phục vụ tốt hơn nữa công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân.

Tại các buổi giao ban ngày 13/10/2008 (Báo cáo 1091/BYT-ATTP) và ngày 16/12/2008 (Báo cáo 1282/BC-ATTP), Bộ Y tế đã báo cáo về vụ việc một số sản phẩm sữa bột của Trung Quốc trong thời gian qua bị phát hiện có nhiễm chất Melamine gây nguy hại cho sức khoẻ con người, đặc biệt là gây bệnh sỏi thận ở trẻ em, cũng như các biện pháp cấp bách mà Bộ Y tế, các Bộ ngành liên quan và các địa phương triển khai để phòng ngừa và loại trừ sản phẩm thực phẩm có chứa chất Melamine lưu thông trên thị trường Việt Nam.

Báo cáo 1282/BYT-ATTP, Bộ Y tế khẳng định đến nay thị trường sữa đã ổn định, người tiêu dùng đã yên tâm và tiếp tục sử dụng các sản phẩm sữa an toàn, có chất lượng. Vì vậy, Bộ Y tế đã đề nghị các cơ quan truyền thông không đưa những thông tin một chiều, cá biệt, đặc biệt là đưa đi đưa lại những thông tin đã qua liên quan đến sự việc sữa nhiễm melamine để tránh gây thêm hoang mang cho người tiêu dùng cũng như ảnh hưởng không tốt đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp và người nông dân vùng sản xuất nguyên liệu sữa, đặc biệt là giai đoạn sắp đến Tết nguyên đán Kỷ Sửu 2009.

Tuy nhiên, trong mấy ngày vừa qua một số báo, đài đã đồng loạt đưa tin Bộ Y tế đã không thống nhất trong quá trình xử lý vụ việc malamine, cụ thể là sản phẩm sữa của Hanoimilk được công bố là nhiễm melamine đến nay Thanh tra Bộ Y tế công bố lại không nhiễm melamine nh­ư vậy là tiền hậu bất nhất, gây ảnh hưởng lớn đến uy tín của doanh nghiệp và gây thiệt hại cho nông dân nuôi bò sữa,…về vấn đề này Bộ Y tế có một số ý kiến trao đổi như sau:

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN TÀI SẢN: MÁY BIẾN THẾ RƠI XUỐNG BIỂN

HOÀNG YẾN

Máy biến thế nặng hơn 100 tấn rơi xuống biển mất tăm tích khiến công ty vận chuyển bị kiện đòi bồi thường hơn tám tỷ đồng. Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TP.HCM vừa xử một vụ tranh chấp hợp đồng vận chuyển máy móc khá lạ giữa Công ty cổ phần Cơ điện Thủ Đức (Cơ điện Thủ Đức) và Công ty cổ phần Đại lý liên hiệp vận chuyển (Gemadept).

Làm rơi máy trên biển

Tháng 11-2007, Cơ điện Thủ Đức đã khởi kiện Gemadept ra TAND TP.HCM đòi bồi thường 8,4 tỷ đồng. Theo Cơ điện Thủ Đức, tháng 10-2006, công ty này ký hợp đồng thuê Gemadept vận chuyển một máy biến áp 63 MVA nặng 115 tấn từ TP.HCM ra Hà Nội bằng đường biển với giá 620 triệu đồng. Cùng ngày, Gemadept cũng mua bảo hiểm cho lô hàng với giá trị 8,4 tỷ đồng.

Nửa tháng sau, Cơ điện Thủ Đức nhận được hung tin từ Gemadept rằng máy biến áp xếp trên tàu trong lúc đi từ cảng Sài Gòn ra cảng Hải Phòng đã rơi xuống biển Đà Nẵng. Qua giám định, nguyên nhân máy rơi xuống biển là do lỗi của thuyền viên trong việc xếp hàng, chằng buộc hàng hóa.

Dựa vào hợp đồng vận chuyển giữa hai bên, Cơ điện Thủ Đức yêu cầu Gemadept bồi thường tổn thất bằng giá trị bảo hiểm máy biến thế. Tuy nhiên, phía Gemadept cho rằng vào ngày vận chuyển, thời tiết xấu và có bão tại vùng biển Đà Nẵng khiến máy biến thế từ tàu rơi xuống biển. Cạnh đó, theo Bộ luật Hàng hải năm 2005 thì Cơ điện Thủ Đức không có cơ sở đòi bồi thường bởi đã không khai báo số tiền 8,4 tỷ đồng khi bốc hàng và cũng không được ghi vào vận đơn như là giá trị máy biến áp…

Bên vận chuyển có lỗi

Tháng 9-2008, tại phiên xử sơ thẩm của TAND TP.HCM, hai bên vẫn giữ nguyên quan điểm, riêng Gemadept có thêm yêu cầu phản tố.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 16181/BTC-TCT NGÀY 31 THÁNG 12 NĂM 2008 CỦA BỘ TÀI CHÍNH VỀ CHÍNH SÁCH THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN

Kính gửi: Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Ngày 30/9/2008, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 84/2008/TT-BTC hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân và hướng dẫn thi hành Nghị định số 100/2008/NĐ-CP ngày 08/9/2008 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân.

Để đảm bảo việc triển khai Luật thuế TNCN đạt kết quả tốt; Bộ Tài chính hướng dẫn cụ thể một số nội dung sau:

1/ Đối với các khoản thu nhập của cá nhân có nguồn gốc phát sinh từ năm 2008 trở về trước như: khoản chi trả cổ tức, tiền lương, tiền thưởng… nhưng được chi trả vào năm 2009 thì áp dụng các chính sách thuế của năm phát sinh thu nhập, không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN đối với các khoản thu nhập này.

Đối với cá nhân kinh doanh có doanh thu phát sinh trong tháng 12/2008, kê khai vào tháng 01/2009 thực hiện tính, nộp thuế thu nhập doanh nghiệp và quyết toán thuế (nếu nộp thuế theo kê khai) chung vào năm 2008.

2/ Đối với cá nhân chuyển nhượng bất động sản:

a. Đối với cá nhân chuyển nhượng quyền sử dụng đất, công trình gắn liền với đất đã có hợp đồng chuyển nhượng theo quy định của pháp luật trước ngày 31/12/2008 nhưng từ 01/01/2009 chưa nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất và chưa hoàn thành thủ tục chuyển nhượng thì cá nhân thực hiện kê khai nộp thuế TNCN.

Continue reading

CÁC TRƯỜNG HỢP SỬ DỤNG ĐẤT KHÔNG CÓ GIẤY TỜ VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT: NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN QUAN TÂM

LỮ NGỌC BÌNH – Phó chánh thanh tra tỉnh Quảng Ngãi

Tình hình khiếu nại, tranh chấp đất đai đã và đang còn diễn ra hết sức phức tạp ở hầu hết các địa phương trong cả nước, việc xử lý các hành vi vi phạm pháp luật đất đai cũng gặp nhiều khó khăn, vướng mắc mà nguyên nhân chủ yếu là do hệ thống pháp luật về đất đai còn nhiều bất cập, với các quy định còn chưa chặt chẽ và thiếu tính hợp lý. Trong phạm vi bài viết này xin nêu ra một số vướng mắc từ thực tiễn giải quyết các vụ khiếu nại về đất đai thời gian qua.

Thứ nhất, vấn đề xử lý đất lấn, chiếm xảy ra trước ngày 01/7/2004. Với những quy định hiện hành đã đồng nhất tình trạng sử dụng đất không còn giấy tờ chứng minh căn cứ chiếm dụng do bị thất lạc vì nguyên nhân chiến tranh, thiên tai, hoả hoạn hay rủi ro khác với tình trạng sử dụng đất không có giấy tờ do lấn, chiếm mà có; hoặc nhận chuyển nhượng từ người lấn, chiếm vào chung 01 nhóm để giải quyết là không hợp lý. Cụ thể tại khoản 4 Điều 50, Luật Đất đai quy định “Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này nhưng đất đã sử dụng ổn định từ trước ngày 15/10/1993, nay được Uỷ ban nhân dân xã phường, trị trấn xác nhận là không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt đối với những nơi đã có quy hoạch sử dụng đất thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải nộp tiền sử dụng đất”. Khoản 6, Điều 50 Luật Đất đai cũng quy định: "Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này, nhưng đất đã được sử dụng từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt đối với nơi đã có quy họạch sử dụng đất thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định của Chính phủ”. Điều 14, 15 Nghị định 84/2007/NĐ-CP tiếp tục cụ thể hoá vấn đề này và quy định chỉ không cấp giấy chứng nhận cho các trường hợp tại thời điểm bắt đầu sử dụng đất đã có một trong các hành vi “vi phạm quy hoạch chi tiết xây dựng đã được cơ quan có thẩm quyền xét duyệt và công khai; vi phạm quy hoạch chi tiết mặt bằng xây dựng đã được cơ quan có thẩm quyền xét duyệt và công khai đối với diện tích đất đã giao cho tổ chức, cộng đồng dân cư quản lý; lấn, chiếm hành lang bảo vệ an toàn công trình công cộng đã đựơc công bố, cắm mốc; lấn chiếm lòng, lề đường, vỉa hè đã có chỉ giới xây dựng; lấn chiếm đất sử dụng cho mục đích công cộng, đất chuyên dùng của các tổ chức, đất chưa sử dụng và các trường hợp vi phạm khác đã có văn bản ngăn chặn, nhưng người sử dụng đất vẫn cố tình vi phạm”.

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT: CÓ NHẦM LẪN TRONG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT?

NGUYỄN CHẤN

Về vụ việc khiếu nại của bà Nguyễn Thị Hoa, trú tại tổ 2, phường An Xuân, TX Tam Kỳ (nay là TP Tam Kỳ), ngày 7/5/2003, UBND tỉnh Quảng Nam có Văn bản số 826/UB-NC do Phó chủ tịch Lê Minh Ánh ký, trả lời như sau:

Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam (lúc đó là ông Nguyễn Xuân Phúc, nay là Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ) đã có buổi tiếp bà Nguyễn Thị Hoa tại phòng Tiếp dân tỉnh. Tại buổi tiếp dân, Chủ tịch UBND tỉnh giao Thanh tra tỉnh, Sở Địa chính và UBND TX Tam Kỳ phối hợp với các cơ quan chức năng kiểm tra làm rõ nguồn gốc và quá trình sử dụng 525 m2 đất nông nghiệp được điều chỉnh trong Quyết định 58/QĐ-CTTr ngày 3/12/2002 của Chánh Thanh tra tỉnh… UBND tỉnh trả lời như sau: Diện tích 525 m2 đất nông nghiệp Bà Hoa đang khiếu nại là một phần trong khu đất vườn do hộ bà Nguyễn Thị Thống quản lý, sử dụng từ trước năm 1975; từ năm 1980, hộ bà Thống tiến hành trồng bạch đàn, dừa trên khu đất này. Như vậy, cơ sở để xác định 525 m2 đất nông nghiệp đang khiếu nại có nguồn gốc của hộ bà thống, quá trình sử dụng liên tục từ hộ bà Thống chuyển nhượng sang hộ bà Phượng quản lý, sử dụng (theo hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ ngày 29/2/1992), đến năm 1999 thì phát sinh tranh chấp, khiếu nại. Việc công nhận cho bà Trần Thị Xuân Phượng tiếp tục sử dụng diện tích 525 m2 đất nông nghiệp nói trên theo Quyết định giải quyết đơn số 58/QĐ-CTTr ngày 3.12.2002 của Chánh Thanh tra tỉnh (quyết định giải quyết cuối cùng theo uỷ quyền của Chủ tịch UBND tỉnh) là phù hợp thực tế, đúng quy định của pháp luật”.

Tiếp đó, UBND TP Tam Kỳ đã cấp GCNQSDĐ cho hộ bà Trần Thị Xuân Phượng và chồng kà ông Trần Viết Yên. Vụ việc đã được chính quyền địa phương xử lý đúng quy định của pháp luật và nếu dừng lại ở đây thì không có gì phải bàn. Tuy nhiên, bà Nguyễn Thị Hoa khởi kiện vụ việc ra toà án, yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất nêu trên giữa bà Thống và bà Phượng vô hiệu. Trong hai ngày 25 và 26/PAC/2007, TAND TP Tam Kỳ đã mở phiên toà xét xử vụ kiện này và quyết định “chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – bà Nguyễn Thị Hoa về việc yêu cầu toà án tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ và tài sản gắn trên đất được giao kết giữa bà Nguyễn Thị Thống và vợ chồng ông Trần Viết Yên, bà Trần Thị Xuân Phượng vô hiệu”.

Continue reading