TẬT XẤU CỦA NGƯỜI VIỆT NAM: TRE VIỆT NAM TRONG THẾ KỶ 21

image PHONG DOANH

Đây là lần thứ hai trong cuốn sách nhỏ này tôi lại viết về tre, cây tre Việt Nam. Nói như ai đó, đã ngàn đời nay tre và người là đôi tri kỷ. Tre mọc thành bụi, thành bờ, thành lũy trong mọi làng quê. Nhà thơ Nguyễn Duy trong bài "tre xanh" có câu " thân gầy guộc lá mong manh, mà sao nên lũy, nên thành tre ơi".

Người nông dân hàng năm vào dịp cuối hè xuống ao xúc bùn đổ vào gốc tre để tre giữ màu xanh vĩnh cửu, để tre đẻ thêm những lứa măng cho ấm bụi ấm bờ. Đổi lại, tre giúp người làm nên những ngôi nhà mộc mạc, với những vì kèo, cột chống, tường vách từ tre. Những chiếc đòn gánh tre người nông dân bao đời đã dùng để gánh tất cả nỗi nhọc nhằn trên đôi vai gầy trong suốt cuộc đời làm lúa, cho mỗi năm hai vụ lại gánh hạt vàng về chất đầy các bồ, các thúng bằng tre. Cái cối tre mà trên trái đất này, ngoài nông thôn Việt Nam ra ắt hẳn chẳng còn nơi nào có nữa, là một vật dụng biểu tượng cho sự no ấm hạnh phúc dưới mỗi căn nhà. Nó đứng tĩnh lặng phần lớn thời gian ở xó bếp hay góc hiên nhà, dáng phồn thực trong chiếc váy được làm từ tre, từ nứa. Chiếc cối xay giản dị đó bao đời nay còn là chiếc máy biết hát trong mỗi gia đình, vì mỗi khi nó cất lên lời thì đó là lời của bài ca no ấm, làm rạng rỡ các khuôn mặt nhễ nhại mồ hôi, làm ấm áp lửa rơm hồng trong bếp với hương cơm nồng nàn lan tỏa từ chiếc nồi đang lục bục sôi và lèn chặt căn nhà bằng tiếng cười con trẻ. Chiếc giường tre đơn sơ ấm áp là người bạn tâm tình của mỗi nông dân từ thuở lọt lòng cho đến lúc về cùng tiên tổ. Trong các cuộc chiến giữ nước, giữ làng khỏi các thế lực ngoại xâm, tre vừa là thành lũy, vừa là vũ khí. Người nông dân dùng tre làm gậy tầm vông, hoặc vót tre làm cây chông đánh giặc. Trên trái đất này không biết còn ở đâu có cây gì gắn bó, tận tụy với người như cây tre Việt Nam nữa hay không.

Tre không chỉ quây thành tổ ấm cho mỗi gia đình mà nó còn che trở. Thế gian đã bao lần chao đảo, tre vẫn xanh và giữ cho tâm hồn Việt chẳng bị đổi thay. Một ngàn năm Bắc thuộc, dân tộc Việt vẫn là dân tộc Việt.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 95/VPCP- KGVX NGÀY 06/01/2009 CỦA VĂN PHÒNG CHÍNH PHỦ VỀ QUAN HỆ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

Kính gửi:

– Các Bộ, cơ quan ngang Bộ;
– Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
– Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam.

Xét đề nghị của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh (báo cáo số 87/BC-UBND ngày 11 tháng 8 năm 2008 ) và ý kiến của Bộ Công an (công văn số 1947/BCA-A11 ngày 05 tháng 9 năm 2008 ), Bộ Ngoại giao (công văn số 1026/BNG-LS-m ngày 05 tháng 9 năm 2008 ) và Bộ Tư pháp (công văn số 3195/BTC-HCTP ngày 07 tháng 10 năm 2008 ) về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm có ý kiến như sau:

1. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình, tăng cường thực hiện quản lý nhà nước về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, tiếp tục thực hiện Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10 tháng 7 năm 2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài (Nghị định 68 ) và Nghị định số 69/2006/NĐ-CP ngày 21 tháng 7 năm 2006 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 68 (Nghị định 69).

2. Bộ Tư pháp:

a. Chủ trì, phối hợp với Bộ Ngoại giao, Bộ Công an, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và các cơ quan khác liên quan khẩn trương nghiên cứu, xây dựng: dự thảo văn bản về một số biện pháp tăng cường quản lý việc trẻ em Việt Nam làm con nuôi người nước ngoài, trình Thủ tướng Chính phủ chậm nhất trong quí I năm 2009; dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều quy định về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài của Nghị định 68 và Nghị định 69, trình Chính phủ chậm nhất trong quí II năm 2009;

Continue reading

KỶ LỤC CỦA MỘT LUẬT SƯ GỐC VIỆT

TUYẾT LINHimage

THANHNIEN – Trong số hàng trăm luật sư người gốc Việt tại Mỹ, luật sư trẻ Luân Phan được xem là một trong những người thành công nhất.

Mới đây Luân Phan đã được bầu làm Chủ tịch Hiệp hội Luật sư người Mỹ gốc Việt khu vực Nam California. Trong các năm 2004, 2005 và 2006, anh được bầu là "Ngôi sao đang lên" (Rising Star) của Nam California. Mới đây, Tạp chí Law and  Politics and Los Angeles bầu chọn anh là "Siêu luật sư" (Super Lawyer) năm 2008. Vì đâu anh được tín nhiệm cao như vậy? Đó là tính cách làm việc hết mình đem lại thắng lợi cho thân chủ trong các vụ kiện và đặc biệt, một vụ kiện hồi năm ngoái mà luật sư Luân giúp thân chủ được bồi hoàn khoản tiền 96,4 triệu USD đã trở thành kỳ tích trong giới luật sư ở Los Angeles và làm điển hình để trường luật Loyola – nơi Luân tốt nghiệp – lôi cuốn sinh viên. Câu chuyện được kể lại dưới đây được xem như vụ kiện thắng nhiều tiền nhất cho một nguyên đơn trong lịch sử xử án của tiểu bang California.

Khi bác sĩ và bệnh viện phớt lờ 

Vụ kiện liên quan đến một bé sơ sinh tên là Aidan, đã bị hư não bộ vĩnh viễn mà trách nhiệm thuộc về Bệnh viện Verdugo Hills (VHH) và bác sĩ trị liệu chính Nishibayashi. Aidan chào đời tháng 3.2003, là một đứa trẻ khỏe mạnh. Tuy nhiên, cháu có nguy cơ đối diện với việc phát triển một chứng bệnh gọi là kernicterus (bệnh vàng nhân não) – một chứng bệnh chỉ xảy ra ở trẻ sơ sinh trong vòng từ ngày thứ hai đến ngày thứ tám khi mới chào đời, mà nếu không ngăn chặn thì sẽ làm hư não bộ. Điều đáng nói là trước khi Aidan chào đời 2 năm, tức là từ năm 2001, các cơ quan y tế chính yếu ở Mỹ, kể cả Học viện Nhi khoa (AAP) và Trung tâm Ngăn ngừa và kiểm soát bệnh tật đều đã báo động trên cả nước về nguy cơ bệnh kernicterus tăng cao ở trẻ sơ sinh. Kèm theo lời cảnh báo là hướng dẫn ngăn ngừa bệnh mà AAP đã phổ biến từ năm 1994. Tất cả các bệnh viện đều phải bảo đảm tiến hành các chính sách và biện pháp thích hợp trong việc chẩn đoán, trị liệu để không một trẻ sơ sinh nào mắc phải chứng bệnh hiểm nghèo đó.

Continue reading

KINH NGHIỆM XỬ LÝ ĐÌNH CÔNG TỰ PHÁT

PHẠM QUỐC TUẤN – Văn phòng Luật sư Phuoc & Partner

Bắt đầu một ngày làm việc mới, vừa bước vào công ty, thay cho cảnh những người lao động quen thuộc vào ca, các nhân viên  văn phòng đang làm những công việc thường nhật, là một quang cảnh nhốn nháo, ồn ào.

Một nhóm công nhân tụ tập bên ngoài sân nhà máy, lôi kéo những công nhân khác cùng giương cao biểu ngữ đòi tăng lương, đòi giải quyết bức xúc về giờ làm hay những quyền lợi khác…

Trong vai trò là người lãnh đạo công ty, bạn phải làm gì khi gặp tình huống ấy?

Dấu hiệu của đình công

Thực ra không một cuộc đình công nào xảy ra tự nhiên hay đột ngột, dù đó là doanh nghiệp sản xuất hay cung ứng dịch vụ. Vấn đề là những người trong cuộc có nhận ra nó với những dấu hiệu đặc trưng hay không.

Dưới đây là một số những dấu hiệu mà nhà quản lý cần lưu tâm:

Hầu hết các cuộc đình công xảy ra đều bắt nguồn từ những bức xúc có thật của người lao động về một chính sách mà theo họ là chưa hợp lý, chưa phù hợp với thực tế hay ít ra là chưa công bằng trong nội bộ doanh nghiệp.

Ban đầu những bức xúc, bất đồng này chỉ là suy nghĩ của một nhóm nhỏ người lao động, nhưng theo “tâm lý lan truyền” nên không lâu sau đó, phần lớn công nhân trong phân xưởng, nhà máy biết về việc này và dù muốn hay không, bất đồng sẽ dễ có nguy cơ bùng phát thành một cuộc đình công khi có một “mồi lửa” thích hợp và đúng lúc.

Có nhiều trường hợp, lãnh đạo công ty đã nhận thấy hay được thông báo về tình hình này nhưng lại đánh giá không đúng về mức độ nghiêm trọng của sự việc vì nghĩ rằng mình làm đúng quy định của pháp luật. Vì thế các doanh nghiệp thường phản ứng chậm, đồng thời cách giải quyết cũng mang tính áp đặt hơn là tìm hiểu sâu nguyên nhân để từ đó có một giải pháp toàn diện.

Có những trường hợp việc áp dụng các quy định cũ không giải quyết hiệu quả vấn đề mà còn gây thêm bất đồng giữa hai bên, đôi khi làm cho vấn đề thêm nghiêm trọng, chỉ chờ giọt nước cuối cùng là tràn ly.

Trước khi cuộc đình công bắt đầu, thông qua người đại diện, những tín hiệu “cảnh báo” thông thường sẽ được gửi tới người sử dụng lao động để xem phản ứng hay chờ đợi các giải pháp tích cực cho những vấn đề mà một nhóm người lao động quan tâm. Việc doanh nghiệp phản ứng kịp thời khi nhận được những cảnh báo này đôi khi giúp cho việc đình công không xảy ra.

Tuy nhiên, đối với những doanh nghiệp lớn có số lượng công nhân lên đến vài trăm hay hàng ngàn, trong đó những nguyên tắc làm việc đã được xác định và được chỉ đạo từ công ty mẹ thì những áp lực kiểu như thế sẽ không làm thay đổi được quan điểm của người sử dụng lao động.

Continue reading

CƠ QUAN THI HÀNH ÁN CHỨNG MINH NHƯ THẾ NÀO TRONG HỒ SƠ XÉT MIỄN, GIẢM THI HÀNH ÁN CÁC KHOẢN THU CHO NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

NGUYỄN PHƯỚC HUY – Thi hành án dân sự huyện Duy Xuyên – Quảng nam

Việc miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với các khoản thu nộp ngân sách nhà nước được quy định trong các điều 61, 62 và 63 Luật thi hành án dân sự (Luật THADS) và Nghị quyết số 24/2008/QH12 ngày 14/11/2008 về thi hành Luật Thi hành án dân sự (Nghị quyết về thi hành Luật THADS). Song việc nhận thức và áp dụng quy định này rất cần quan tâm một cách toàn diện. Ở đây chúng tôi xin nêu ra một vài ý từ nhận thức của mình để bạn đọc tham khảo. Trong đó đề cập về trách nhiệm trong lập thủ tục, xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án và nhận thức về khái niệm không có có tài sản để thi hành án (trong Luật THADS); hoặc không có điều kiện thi hành án (trong Nghị quyết về thi hành Luật THADS).

Theo các điều luật này xác định trách nhiệm lập thủ tục là chủ yếu là cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện đang tổ chức việc thi hành án. Đối với việc thi hành các khoản thu cho ngân sách nhà nước có giá trị không quá 500.000 đồng (Năm trăm ngàn đồng) thì phối hợp với Viện kiểm sát cùng cấp lập danh sách, hoặc hồ sơ về các khoản án phí và khoản tiền phạt theo Điều 61 của Luật THADS đề nghị Toà án cấp huyện nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở giải quyết và ra quyết định cuối cùng.

Về thủ tục, theo Điều 62 Luật THADS, hồ sơ xem xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án theo Điều 61, bao gồm năm loại văn bản. Trong đó nổi lên yêu cầu cơ quan thi hành án chứng minh điều kiện được xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án của người phải thi hành án, từ Biên bản xác minh được thực hiện trong thời hạn không quá 03 tháng trước khi đề nghị xét miễn, giảm và tài liệu khác chứng minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án.

Theo chúng tôi nếu đặt trên quan điểm xem việc miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án, như Điều 61 Luật THADS, hay Nghị quyết về thi hành Luật THADS, là một giải pháp nhằm giảm lượng án tồn đọng, do người phải thi hành án không có tài sản, hoặc không có điều kiện thi hành án (bộc lộ sự bất khả thi của các Bản án, quyết định của Toà án) thì cần  xác định rõ và đề cao trách nhiệm của cả cơ quan Thi hành án, Viện kiểm sát nhân dân và Toà án nhân dân cấp huyện. Miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với người phải thi hành án theo đề nghị của cơ quan Thi hành án, hoặc Viện kiểm sát nhân dân; chứ không thể hiểu miễn, giảm thi hành án để tính thành tích cho cơ quan Thi hành án, hoặc cho Viện kiểm sát nhân dân. Cơ quan Thi hành án là tổ chức chịu trách nhiệm tổ chức thi hành, Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng giám sát việc thi hành án, Toà án nhân dân quyết định miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án mà Toà án nhân dân đã phán quyết. Điều đó đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ và chấp hành đầy đủ quy định về nội dung, thủ tục, thời hạn, trình tự giải quyết trong pháp luật hiện hành.

Continue reading

HỦY ÁN VÌ NHỮNG SAI SÓT LẶT VẶT

HOÀNG LAM

Nhầm tên thẩm phán, quên mời phiên dịch, bỏ qua trưng cầu giám định… nên nhiều bản án bị hủy. Trong một vụ án, người tham gia tố tụng phải trải qua nhiều thủ tục tiêu tốn thời gian đi lại, công sức cũng như hao tổn về kinh tế. Nhiều vụ án kéo dài có khi hàng mấy năm trời. Thế nhưng trong nhiều trường hợp, cấp giám đốc thẩm buộc phải hủy bản án của tòa cấp dưới chỉ vì những sai sót không đáng có.

Tố tụng hớ hênh

Hôm ấy, Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TP.HCM xử vụ đánh bạc và tổ chức đánh bạc. Các tài liệu trong hồ sơ vụ án, biên bản nghị án lẫn biên bản phiên tòa đều ghi chủ tọa là thẩm phán Hoàng Văn Trung. Thế mà chẳng hiểu sao bản án phúc thẩm lại ghi chủ tọa là thẩm phán Tô Chánh Trung. Chưa hết, một bị cáo trong vụ án bị tuyên phạt 18 tháng tù (cho hưởng án treo) nhưng lại không rõ tội gì.

Vài ngày sau, cấp phúc thẩm ra quyết định đính chính rằng chủ tọa chính xác là thẩm phán Hoàng Văn Trung, còn bị cáo kia thì phạm tội đánh bạc. Tuy nhiên, cấp giám đốc thẩm không chịu đính chính này mà buộc tòa cấp dưới sửa sai bằng cách xét xử phúc thẩm lại vì đây là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

Ngoài nhầm tên thẩm phán, có tòa còn giải quyết sai đơn kháng cáo. Cuối năm 2006, cấp giám đốc thẩm cũng đã hủy bản án của Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TP Hà Nội xét xử một vụ cướp tài sản. Vụ án này được sơ thẩm vào ngày 26-12-2003. Bị cáo kháng cáo vào ngày 5-1-2004.

Vậy mà cấp phúc thẩm lại bảo đơn kháng cáo là ngày 2-10-2003, tức trước cả thời điểm xét xử sơ thẩm (!?). Ngộ nữa là đơn kháng cáo này không có trong hồ sơ vụ án. Theo hội đồng giám đốc thẩm, đáng lẽ cần xem xét đơn kháng cáo hợp pháp ghi ngày 5-1-2004, cấp phúc thẩm lại lấy ở đâu ra đơn kháng cáo không có thật và xem xét nó (!).

Anh N. (tỉnh Hậu Giang) có mâu thuẫn với một người nước ngoài. Nhằm lúc ông này đang ngồi ở bờ ao để cho vịt ăn, N. cầm dao tiến đến chém trúng sườn bên trái và chân trái của ông, gây thương tích 12%. Theo khoản 1 Điều 61 Bộ luật Tố tụng hình sự, cơ quan tiến hành tố tụng phải yêu cầu người phiên dịch cho người bị hại vì ông này không biết tiếng Việt. Tuy nhiên, cả cấp sơ lẫn phúc thẩm đều không làm điều đó mà lại chấp nhận cho vợ của người bị hại (là người Việt Nam) phiên dịch cho chồng. Thế là phải hủy án!

Continue reading