CÔNG VĂN SỐ 4862/TCT-CS NGÀY 18 THÁNG 12 NĂM 2008 CỦA TỔNG CỤC THUẾ VỀ VIỆC MIỄN GIẢM THUẾ CHUYỂN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Kính gửi: Cục Thuế tỉnh Quảng Nam

Trả lời Công văn số 3487/CT-TTHT ngày 27/6/2008 của Cục Thuế tỉnh Quảng Nam hỏi về diện tích đất miễn, giảm thuế chuyển quyền sử dụng đất, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:

– Tại Điều 5 Nghị định số 19/2000/NĐ-CP ngày 08/6/2000 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất quy định: “Diện tích đất tính thuế chuyển quyền sử dụng đất là diện tích đất thực tế chuyển quyền ghi trong hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất được uỷ ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh xác nhận đối với đất của hộ gia đình, cá nhân; Sở Địa chính hoặc Sở Địa chính – Nhà đất xác nhận đối với đất của tổ chức.”

– Tại Điều 8, Điều 9 Nghị định số 19/2000/NĐ-CP quy định: “Điều 8. Miễn thuế. Miễn thuế chuyển quyền sử dụng đất đối với những người và những trường hợp sau đây:

1. Hộ gia đình, cá nhân chuyển quyền sử dụng đất để di chuyển đến định cư tại các vùng kinh tế mới, miền núi, hải đảo theo quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền;

2. Người được Nhà nước phong tặng danh hiệu “Ba mẹ Việt Nam anh hùng” có chuyển quyền sử dụng đất;

3. Chuyển quyền sử dụng các loại đất thuộc xã nông thôn ở miền núi, hải đảo theo quy định của Chính phủ;

4. Chuyển đổi đất sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối cho nhau để phù hợp với điều kiện canh tác;

5. Tổ chức kinh tế được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất để đầu tư xây dựng nhà ở để bán, xây dựng kết cấu hạ tầng để chuyển nhượng hoặc cho thuê quyền sử dụng đất gắn với nhà hoặc gắn với kết cấu hạ tầng thì được miễn thuế chuyển quyền sử dụng đất tương ứng với diện tích đã nộp tiền sử dụng đất theo từng dự án.

Continue reading

GIỚI THIỆU LUẬT PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG

PHẦN 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THAM NHŨNG VÀ PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG

I. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG (CHƯƠNG I)

Chương I gồm 10 điều (từ Điều 1 đến Điều 10) quy định về phạm vi điều chỉnh; giải thích từ ngữ; các hành vi tham nhũng, nguyên tắc xử lý tham nhũng: quy định chung về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị và người có chức vụ, quyền hạn cũng như trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, trách nhiệm của cơ quan báo chí trong phòng, chống tham nhũng; trách nhiệm phối hợp của cơ quan Thanh tra, Kiểm toán nhà nước, Điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án và của cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan; quyền và nghĩa vụ của công dân trong phòng, chống tham nhũng; và các hành vi bị nghiêm cấm.

1- Phạm vi điều chỉnh

Điều 1 khoản 1 quy định phạm vi điều chỉnh của Luật Phòng, chống tham nhũng như sau:

“Luật này quy định về phòng ngừa, phát hiện, xử lý người có hành vi tham nhũng và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân trong phòng, chống tham nhũng”.

Như vậy, phạm vi điều chỉnh của Luật Phòng, chống tham nhũng gồm các nội dung chủ yếu là:

– Các biện pháp phòng ngừa tham nhũng;

– Việc phát hiện hành vi tham nhũng;

– Việc xử lý người có hành vi tham nhũng;

– Trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân trong phòng, chống tham nhũng.

Quy định này thể hiện chủ trương đẩy mạnh phòng ngừa tham nhũng trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng giai đoạn hiện nay của Nhà nước ta, coi đó là một giải pháp có tính chiến lược, căn bản, lâu dài để chủ động ngăn chặn ngay từ đầu nguy cơ tham nhũng, từng bước hạn chế, đẩy lùi nạn tham nhũng. Đây là một điểm mới trong pháp luật về phòng, chống tham nhũng, là một bước đột phá trong tư duy lập pháp về phòng, chống tham nhũng nói riêng và quản lý nhà nước nói chung. Nếu trước kia, nhiệm vụ được ưu tiên hàng đầu theo tinh thần của Pháp lệnh Chống tham nhũng năm 1998 là phát hiện và xử lý tham nhũng thì hiện nay, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 cho thấy, bên cạnh việc tăng cường phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi tham nhũng, công tác phòng ngừa tham nhũng phải được coi là một nhiệm vụ trọng tâm, then chốt.

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY NỢ CÓ THẾ CHẤP: KHI NGÂN HÀNG LỠ TAY

A MA KHƯƠNG

Ngân hàng lỡ bán đất ngoài phạm vi thế chấp để cấn trừ nợ. Giờ tòa không công nhận nên đâm rối… TAND huyện H. (Phú Yên) vừa xử sơ thẩm một vụ lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện này. Vụ án có tình tiết khá hy hữu là ngân hàng chỉ yêu cầu bị cáo đền tổng cộng bảy triệu đồng, tòa lại phán quyết gấp gần 14 lần! Nghịch lý ở chỗ tòa bắt bị cáo trả cho ngân hàng nhiều tiền như thế nhưng ngân hàng lại… không chịu và đang kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm xem lại!

Vay tiền rồi bỏ trốn

Theo hồ sơ, ngày 16-12-1994, Lê Văn Định vay của ngân hàng năm triệu đồng bằng hình thức vay tín chấp. Nửa năm sau, Định thế chấp cho ngân hàng một máy cày, một căn nhà mái ngói tường ván, nền đất có diện tích 6 x 8 m để vay tiếp 25 triệu đồng.

Để tạo điều kiện cho hộ vay có phương tiện sản xuất, ngân hàng đã cho Định mượn lại tài sản thế chấp là chiếc máy cày và chỉ giữ giấy tờ xác định quyền sở hữu máy. Hơn một năm sau, Định đem máy cày bán cho người khác được 35 triệu đồng rồi cùng vợ con bỏ trốn khỏi địa phương, để lại món nợ 30 triệu đồng.

Tháng 7-1997, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H. đã khởi tố Định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa theo Điều 135 BLHS năm 1985, đồng thời ra quyết định truy nã. Sau hơn 11 năm trốn tránh pháp luật, tháng 8-2008, Định đã quay về, ra Công an huyện H. đầu thú.

Ngân hàng chỉ đòi bảy triệu đồng

Tại phiên xử sơ thẩm vừa qua của TAND huyện H., về phần dân sự, đại diện ngân hàng đã đề nghị tòa buộc bị cáo Định có trách nhiệm trả cho ngân hàng bảy triệu đồng tiền gốc và tiền lãi.

Continue reading

BIÊN BẢN HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ CẦN CÓ NHỮNG CHẤN CHỈNH VỀ NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC

NGUYỄN THANH XUÂN

Hòa giải cơ sở là một trong những hình thức quan trọng để giải quyết vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong cộng đồng dân cư nhằm mục đích giữ gìn tình làng, nghĩa xóm, đoàn kết cộng đồng; phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm ở cơ sở thông qua việc phát hiện và giải quyết tận gốc những mâu thuẫn, tranh chấp nhỏ, góp phần ổn định trật tự xã hội ở địa bàn dân cư, tạo điều kiện thuận lợi cho các cấp chính quyền tăng cường công tác quản lý xã hội ở cơ sở. Bên cạnh đó, hòa giải có kết quả sẽ góp phần hạn chế đơn thư khiếu kiện trong nhân dân, giảm bớt tình trạng khiếu nại đến Tòa án nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước, tiết kiệm thời gian và tiền bạc của cơ quan nhà nước và công dân.

Hiện nay, văn bản pháp lý quy định công tác hòa giải cơ sở được ban hành ngày một hoàn thiện. Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở năm 1999 và Nghị định 160/1999/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở là hai văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao quy định đầy đủ và đồng bộ các vấn đề về tổ chức và hoạt động hòa giải cơ sở. Các văn bản pháp lý này quy định cụ thể phạm vi, chủ thể, phương hướng cũng như trình tự, thủ tục, kết quả của một cuộc hòa giải cơ sở những vụ việc được tiến hành hòa giải cũng như những vụ việc không được tiến hành hòa giải. Qua các quy định của các văn bản luật về công tác hòa giải đã phát sinh nhiều vướng mắc về kết quả của một cuộc hòa giải cơ sở dẫn đến khó khăn cho công dân thực hiện quyền khiếu kiện của mình đến các cơ quan có thẩm quyền. Theo quy định của pháp lệnh hòa giải và nghị định hướng dẫn thì trình tự, thủ tục của một cuộc hòa giải cơ sở không tiến hành theo một trình tự, thủ tục bắt buộc hoặc một khuôn mẫu thống nhất. Tùy tính chất vụ việc, điều kiện thực tiễn, quan hệ gia đình, xã hội… của các bên mâu thuẫn, tranh chấp mà các tổ viên tổ hòa giải có thể lựa chọn, sử dụng các hình thức, biện pháp hòa giải theo trình tự thích hợp. Và kết quả của hoạt động hòa giải cơ sở là sự thỏa thuận tự nguyện của các bên để chấm dứt bất đồng trong vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ phù hợp với quy định của pháp luật. Quan trọng hơn hết kết quả hòa giải là vụ việc được giải quyết bằng thỏa thuận miệng hoặc có thể ghi thành biên bản nếu các bên mâu thuẫn, tranh chấp yêu cầu. Từ quy định trên đã phát sinh nhiều vướng mắc trong việc đi đến kết quả của một cuộc hòa giải cơ sở.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 4870/TCT-TNCN NGÀY 19 THÁNG 12 NĂM 2008 CỦA TỔNG CỤC THUẾ VỀ CHÍNH SÁCH THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI CÁ NHÂN LÀM VIỆC TẠI KHU KINH TẾ

Kính gửi: Cục thuế tỉnh Quảng Ngãi

Trả lời công văn số 2623 CT/-TNCN ngày 30/9/2008 của Cục thuế tỉnh Quảng Ngãi về việc chính sách thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao (gọi tắt là thuế TNCN) làm việc tại khu kinh tế (KKT) Dung Quất, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:

1. Căn cứ điều 1, chương I Quyết định số 50/2005/QĐ-TTg ngày 11/3/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập và ban hành quy chế hoạt động KKT Dung Quất quy định: “quy chế này quy định hoạt động, một số chính sách và quản lý nhà nước đối với KKT Dung Quất; quyền và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài có hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ và các doanh nghiệp có đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng tại KKT”

Căn cứ điểm 2, mục I và điểm 1.2, mục II Thông tư số 119/2005/TT-BTC ngày 22/12/2005 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ tài chính áp dụng tại Khu kinh tế Dung Quất quy định: “Đối tượng áp dụng Thông tư này là: + Các nhà đầu tư trong và ngoài nước thuộc các thành phần kinh tế hoạt động theo quy định của Luật DNNN, Luật Doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã, các hộ kinh doanh cá thể và các cá nhân hành nghề độc lập; + Các tổ chức và cá nhân nước ngoài bao gồm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, nhà đầu tư nước ngoài, nhà đầu tư nước ngoài tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh, người Việt nam định cư ở nước ngoài hoạt động theo các hình thức quy định tại Luật đầu tư nước ngoài tại Việt nam và nhà đầu tư nước ngoài kinh doanh không theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam”.

“Người lao động (kể cả người Việt Nam và người nước ngoài) làm việc tại khu kinh tế Dung Quất được giảm 50% số thuế thu nhập phải nộp đối với người có thu nhập cao”.

Continue reading