BÀN VỀ “XÁC ĐỊNH” GIÁ TRỊ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NHÀ NƯỚC

TRẦN ĐẠI BẰNG – Ngân hàng Công thương Việt Nam

Theo kế hoạch cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước (DNNN) của Chính phủ sẽ cổ phần hoá toàn bộ 5 Ngân hàng thương mại Nhà nước (NHTMNN). NHTMNN là NHTM do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của Nhà nước. Như vậy, cổ phần hoá NHTMNN là chuyển các NHTM có 1 chủ sở hữu là Nhà nước thành các NHTM đa chủ sở hữu.
Cổ phần hoá NHTMNN được tiến hành cổ phần hoá theo 2 bước:
Bước 1:
Nâng cao năng lực tài chính NHTMNN theo hướng đạt các chỉ số lành mạnh tài chính theo chuẩn quốc tế.
Bước 2: Thực hiện cổ phần hoá NHTMNN.
Theo Thông tư số 126/2004/TT-BTC ngày 24/12/2004 của Bộ Tài chính, các NHTMNN phải xây dựng các quy trình cổ phần hoá như sau:
+ Xây dựng phương án cổ phần hoá (được phê duyệt)
+ Tổ chức bán cổ phần
+ Hoàn tất việc chuyển doanh nghiệp thành công ty cổ phần
Bài viết này bàn về xác định giá trị NHTMNN trong giai đoạn chuẩn bị cổ phần hoá NHTMNN. Tác giả mong nhận được những ý kiến trao đổi của các bạn đồng nghiệp quan tâm tới vấn đề xác định giá trị doanh nghiệp trong cổ phần hoá NHTMNN.

Continue reading →

Một số rủi ro pháp lý đối với ngân hàng TRONG GIAO DỊCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

CurrencyQuotes_XS[1] NGUYỄN PHƯƠNG LINH – Vietcombank

Sau một loạt các sự kiện quốc tế quan trọng cuối năm 2006, như: Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và tổ chức thành công Hội nghị cấp cao APEC lần thứ 14, Quốc hội Mỹ thông qua dự luật quan hệ thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR) đối với Việt Nam… các doanh nghiệp Việt Nam, trong đó có các ngân hàng thương mại, sẽ có nhiều cơ hội để mở rộng hoạt động kinh doanh trên thị trường quốc tế. Trong bối cảnh hội nhập đó, các ngân hàng thương mại nước ta sẽ phải đối mặt với những khó khăn, thách thức mới.

Hội nhập đồng nghĩa với việc Nhà nước ta phải xóa bỏ chính sách bảo hộ các ngân hàng trong nước và dỡ bỏ các rào cản thương mại đối với các ngân hàng nước ngoài theo lộ trình thực hiện cam kết gia nhập WTO. Từ ngày 01/4/2007, nước ta sẽ cho phép các ngân hàng nước ngoài thành lập ngân hàng con 100% vốn nước ngoài và cho phép các chi nhánh ngân hàng nước ngoài được huy động tiền gửi bằng đồng Việt Nam tại Việt Nam… Lúc đó, các ngân hàng nước ngoài có quyền bình đẳng với các ngân hàng Việt Nam trong quá trình huy động vốn và các hoạt động ngân hàng khác.

Continue reading →

MỘT SỐ RỦI RO PHÁP LÝ ĐỐI VỚI NGÂN HÀNG TRONG GIAO DỊCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

CurrencyQuotes_XS[1] NGUYỄN PHƯƠNG LINH – Vietcombank

Sau một loạt các sự kiện quốc tế quan trọng cuối năm 2006, như: Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và tổ chức thành công Hội nghị cấp cao APEC lần thứ 14, Quốc hội Mỹ thông qua dự luật quan hệ thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR) đối với Việt Nam… các doanh nghiệp Việt Nam, trong đó có các ngân hàng thương mại, sẽ có nhiều cơ hội để mở rộng hoạt động kinh doanh trên thị trường quốc tế. Trong bối cảnh hội nhập đó, các ngân hàng thương mại nước ta sẽ phải đối mặt với những khó khăn, thách thức mới.

Hội nhập đồng nghĩa với việc Nhà nước ta phải xóa bỏ chính sách bảo hộ các ngân hàng trong nước và dỡ bỏ các rào cản thương mại đối với các ngân hàng nước ngoài theo lộ trình thực hiện cam kết gia nhập WTO. Từ ngày 01/4/2007, nước ta sẽ cho phép các ngân hàng nước ngoài thành lập ngân hàng con 100% vốn nước ngoài và cho phép các chi nhánh ngân hàng nước ngoài được huy động tiền gửi bằng đồng Việt Nam tại Việt Nam… Lúc đó, các ngân hàng nước ngoài có quyền bình đẳng với các ngân hàng Việt Nam trong quá trình huy động vốn và các hoạt động ngân hàng khác.

Continue reading →

TIỀN – MỘT LOẠI TÀI SẢN TRONG QUAN HỆ PHÁP LUẬT DÂN SỰ

TS. BÙI ĐĂNG HIẾU – Đại học Luật Hà Nội

image

Điều 172 Bộ luật Dân sự Việt Nam quy định “Tài sản bao gồm vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyền tài sản”. Theo quy định này thì tiền là một loại tài sản. Tuy nhiên, trong Bộ luật Dân sự Việt Nam lại chưa hề có quy định nào về tiền. Thực tế cho thấy rằng đó là một lỗ hổng rất lớn cần khắc phục của Bộ luật Dân sự Việt Nam. Việc thiếu vắng các quy định đã dẫn tới nhiều cách hiểu khác nhau không thống nhất về bản chất pháp lý của tiền, chưa có sự phân tách giữa góc độ kinh tế và góc độ pháp lý của tiền. Qua bài viết này chúng tôi muốn bàn luận tới một số khía cạnh pháp lý đặc thù của tiền, nhằm giúp cho các nhà lập pháp có được định hướng cụ thể hơn khi xây dựng các quy định pháp lý cho tiền – một trong những loại tài sản.

Trước hết, chúng tôi xin trao đổi đôi chút về lịch sử hình thành nên tiền.

Xưa kia, khi xã hội loài người còn chưa biết đến tiền tệ thì các quan hệ giao lưu hàng hoá được thực hiện thông qua phương thức trao đổi, vật đổi lấy vật. Thử hình dung rằng thời đó, một người khi đang cần một vật cụ thể nào đó thì phải tìm cho được người có vật đó và sẵn sàng chuyển giao nó cho mình. Hơn thế nữa, người kia cũng lại đang phải đang cần vật mà mình đang có và đang không cần, bởi chỉ có vậy thì giao dịch trao đổi mới có thể được diễn ra. Xã hội càng ngày càng phát triển thì việc trao đổi đó ngày càng khó thực hiện hơn và không đáp ứng được nhu cầu giao dịch ngày càng tăng của xã hội.Thực trạng khó khăn đó làm phát sinh đòi hỏi phải tìm ra được một công cụ trao đổi đa năng, hữu hiệu giúp cho việc giao dịch được thực hiện dễ dàng hơn. Công cụ trao đổi đa năng đó phải đáp ứng được ba điều kiện là: 1) Phải có giá trị, mang lại lợi ích nào đó cho con người; 2) Phải mang tính thông dụng, và 3) Dễ dàng tích trữ.

Continue reading →

BẤT ĐỘNG SẢN LIỀN KỀ: VỤ ÁN CÁI CỬA SỔ

HOÀNG VÂN

Vì những chiếc cửa sổ mở không đúng cách mà hai nhà hàng xóm “choảng” nhau!

Trổ cửa sai!

Khi làm nhà, gia đình ông Đ. (Từ Liêm, Hà Nội) đã trổ mười cửa sổ nhìn thẳng sang phía nhà anh S. hàng xóm. Thấy việc trổ cửa không đúng quy cách (phải cách ranh giới đất với nhà bên cạnh ít nhất hai m), anh S. đã… thắc mắc. Tuy nhiên, nhà vẫn cứ được xây lên và cửa sổ vẫn được mở.

Vụ việc sau đó được đưa ra TAND huyện Từ Liêm để nhờ tòa giải quyết… Năm 2003, xử vụ án tòa đã tuyên buộc gia đình ông Đ. phải xây bít mười cửa sổ này lại để không ảnh hưởng nhà hàng xóm…

Continue reading →

BÀ RỊA – VŨNG TÀU: CÓ TRANH CHẤP HAY KHÔNG CÓ TRANH CHẤP RANH ĐẤT?

HÀ THÁI

Tòa án hai cấp đều tuyên hủy hợp đồng với lý do đất mua bán có tranh chấp. Nhưng người trong cuộc thì lắc đầu: “Chúng tôi có tranh chấp gì đâu”!

Vướng xác nhận ở phường

Giữa năm 2005, ông T. (phường Rạch Dừa, TP Vũng Tàu) bán nhà, đất diện tích trên 200 m2 cho ông M. với giá 110 lượng vàng SJC. Ông M. đồng ý và đặt cọc 50 lượng. Tuy nhiên sau đó, diện tích đất của ông T. được cấp tăng gần gấp đôi nên hai bên thương lượng lại… Việc này được một ủy ban phường làm “trọng tài” xác nhận hai bên mua bán toàn bộ diện tích được cấp lại với giá khác và người mua chỉ phải thanh toán 85 lượng nữa vì trước đó đã chi… 50 lượng rồi!

Hai bên đã ra phường Rạch Dừa để “chứng thực hợp đồng chuyển nhượng” mới nhưng không được. Ông M. đoán nguyên nhân là do phía người bán đang có tranh chấp ranh giới đất với người khác. Thấy đi lại hoài không xong, vụ việc lùng nhùng chẳng kết quả, phía ông M. đã kiện hủy hợp đồng và lấy lại 50 lượng vàng đã đặt cọc. Ông T. nghe chuyện giật mình, vội vàng yêu cầu tiếp tục hợp đồng như đã thương lượng, còn nếu không ông sẽ được phần tiền cọc!

Tòa: Hủy hợp đồng

Cuối tháng 8, TAND TP Vũng Tàu đưa vụ án ra xử, tuyên hủy hợp đồng mua bán giữa hai bên, buộc ông T. trả lại cho người mua tiền đặt cọc. Theo tòa, phường Rạch Dừa xác định đất của ông T. và nhà lân cận chưa thống nhất được ranh giới…

Continue reading →

BẤT ĐỘNG SẢN LIỀN KỀ: ĐÒI CƯA KÈO NHÀ HÀNG XÓM

NGUYÊN TRƯỜNG

Cho rằng 20 cây đòn tay nhà ông hàng xóm lấn khoảng 20 cm sang khoảng không của mình, một người dân đã khởi kiện đòi cưa bỏ…

TAND thị xã Bến Tre đã đình chỉ vụ tranh chấp khoảng không giữa ông Phạm Văn Tám, ngụ phường 2 với hàng xóm vì “xét thấy tranh chấp giữa các đương sự đã giải quyết bằng một bản án khác”. Tuy nhiên, ông Tám phản đối rằng ông kiện một đằng, tòa lại đình chỉ một nẻo và kháng cáo.

Tố qua, kiện lại

Năm 2005, ông Tám dỡ căn nhà cũ mặt tiền đường, định xây mới khang trang hơn để phục vụ việc làm ăn. Nhà cũ dỡ xong, vật liệu đã kéo về, giấy phép xây dựng cũng nằm trong tay nhưng giờ chót ông lại gặp trục trặc. Số là ông hàng xóm nhà liền vách đã gửi đơn yêu cầu cơ quan chức năng rút “giấy đỏ” cùng giấy phép xây dựng của ông Tám vì cho rằng mình bị ông Tám lấn đất.

Về nguyên tắc, đất đang tranh chấp thì chưa được xây dựng nên ông Tám phải chờ. Mấy tháng sau, ông hàng xóm tự động rút đơn khiếu nại nhưng ông Tám vẫn không xây nhà được vì cứ rục rịch xây là bị bên kia chửi bới. Bực mình, ông Tám khởi kiện, cho rằng chính mình mới là người bị ông hàng xóm lấn đất.

Continue reading →

NHỮNG NGƯỜI MẸ KHÔNG BIẾT CHA CỦA CON MÌNH

T. HÒA – HƯƠNG VŨ

image Kỷ lục nhất trong các vụ án giám định gen để xác định cha con chính là trường hợp của cháu Lê Thị G., 13 tuổi, ở Hà Tây. Kết quả xét nghiệm AND, cả 13 người đàn ông G. khai có quan hệ đều không phải cha đứa bé trong bụng G. Khi được thông báo kết quả, G. hồn nhiên khai tiếp người thứ… 14 tình nghi là cha đẻ đứa con mình.

Một buổi chiều mưa tầm tã, các cán bộ của Trung tâm Giám định pháp y – sinh vật của Viện Khoa học hình sự Bộ Công an thấy có một cô gái trẻ nhưng trông lam lũ, vất vả bế theo đứa con nhỏ đến lấy mẫu để giám định gen theo yêu cầu của cơ quan điều tra.

Thoạt đầu, các cán bộ của Trung tâm không nghĩ đây là mẹ của cháu bé, vì cô gái gầy nhỏ hơn nhiều so với cái tuổi 17 của mình. Nước mắt hoà lẫn nước mưa, bà mẹ trẻ này kể rằng hồi nhỏ từng sống với mẹ và bố dượng tại quận Thanh Xuân (Hà Nội). Cô là nạn nhân bị xâm hại tình dục của chính ông bố dượng từ năm cô mới 13, 14 tuổi. 16 tuổi, cô có thai.

Mặc cảm, xấu hổ, cô bỏ về quê với ông bà ở Ba Vì (Hà Tây). Ở đây, cô đã gặp một người đàn ông nghèo nhưng tốt bụng. Họ nên vợ nên chồng. Khi đứa con ra đời, người chồng tính ra ngày tháng chẳng phải con của mình. Anh gặng hỏi thì được vợ sụt sịt kể cho nghe về quãng đời cay đắng tuổi thơ. Căm hận kẻ hại cuộc đời vợ, anh chồng đã đưa vợ ra cơ quan Công an tố cáo ông bố dượng đốn mạt.

Continue reading →

CẦN BẢO ĐẢM QUYỀN LỢI CHO NGÂN HÀNG KHI CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

PHÒNG XÂY DỰNG PHÁP LUẬT – VỤ PHÁP CHẾ – NHNN VIỆT NAM

Ngày 26/6/2007, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 109/2007/NĐ-CP về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần, thay thế Nghị định số 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần. Nghị định số 109/2007/NĐ-CP được xây dựng trên cơ sở kế thừa các quy định của Nghị định số 187/2004/NĐ-CP, đồng thời sửa đổi, bổ sung thêm nhiều nội dung mới để phù hợp hơn với thực tế hiện nay.

Một trong những nội dung sửa đổi, bổ sung của Nghị định số 109/2007/NĐ-CP có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của các bên có liên quan, trong đó có các ngân hàng là quy định về việc chuyển giao nghĩa vụ từ doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hoá sang công ty cổ phần.

1. Quy định về việc chuyển giao nghĩa vụ từ doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hoá sang công ty cổ phần- những điểm bất cập

Đối với việc chuyển giao nghĩa vụ từ doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hoá sang công ty cổ phần, Nghị định số 187/2004/NĐ-CP có quy định chung mang tính nguyên tắc đó là công ty cổ phần có nghĩa vụ kế thừa mọi quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của công ty nhà nước trước khi cổ phần hoá (khoản 2 Điều 8 Nghị định số 187/2004/NĐ-CP).

Continue reading →

RÀ SOÁT CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ, CHỐNG TRỢ CẤP, TRỢ CẤP VÀ CẠNH TRANH VỚI CÁC CAM KẾT CỦA VIỆT NAM TRONG WTO

TS. NGUYỄN THỊ THU TRANG – Ban Pháp chế VCCI

I/ RÀ SOÁT CÁC QUY ĐỊNH VỀ CHÔNG BÁN PHÁ GIÁ – CHỐNG TRỢ CẤP

I.1. Cam kết WTO của Việt Nam về các biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp

Về vấn đề chống bán phá giá, chống trợ cấp của Việt Nam đối với hàng hoá nước ngoài nhập khẩu, các cam kết và nghĩa vụ liên quan của Việt Nam trong WTO tập trung trong các nhóm quy định sau:

(i) Cam kết gia nhập của Việt Nam về vấn đề liên quan: bao gồm các Đoạn 251, 252, 253, 254 và 255 Báo cáo của Ban Công tác về việc gia nhập WTO của Việt Nam;

(ii) Hiệp định về chống bán phá giá của WTO; và

(iii) Hiệp định về trợ cấp và biện pháp đối kháng của WTO.

Theo đúng nguyên tắc áp dụng giữa các nhóm quy định trong WTO (chủ yếu là giữa các Hiệp định chung của tổ chức này với các cam kết gia nhập cụ thể), các quy định thuộc nhóm (i) được ưu tiên áp dụng so với các tiêu chí (ii) và (iii).

Continue reading →

LUẬT MẪU VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI (WTO)

LUẬT MẪU

VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI (WTO)

Phòng Xây dựng Quy định

Tổ chức Thương mại Thế giới

Trung tâm William Rappard

Rue de Lausanne 154

CH-1211 Geneva 21

Thuỵ sĩ

Mục lục

PHẦN I: CÁC ĐỊNH NGHĨA VÀ CÁC NGUYÊN TẮC

Điều 1- Các định nghĩa

Điều 2 – Các nguyên tắc

Continue reading →

ĐỂ CÁC TẬP ĐOÀN NHÀ NƯỚC THỰC SỰ LÀM NÒNG CỐT TRONG ĐIỀU TIẾT NỀN KINH TẾ

NHÂN DÂN – Từ năm 2004 đến nay, nhiều tập đoàn kinh tế (TÐKT) lớn được thí điểm thành lập và hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực. Các tổng công ty Nhà nước (TCTNN) được sắp xếp, cổ phần hóa, trở thành lực lượng nòng cốt, giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, với tỷ trọng chiếm khoảng 40% GDP. Bên cạnh những thành tựu lớn đã đạt được, hoạt động sản xuất kinh doanh của các TÐ, TCTNN thời gian qua bộc lộ nhiều hạn chế.
image Sau hơn ba năm hoạt động trong cơ chế quản lý tài chính mới, các TÐKT được tập trung nguồn lực và được giao thực hiện thêm một số quyền của chủ sở hữu như TÐ công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam được giao đại diện chủ sở hữu TCT khoáng sản, thực hiện thăm dò trữ lượng quặng bô-xít; các TÐ dầu khí Việt Nam, TÐKT Vinashin… được phép tiếp nhận thêm các doanh nghiệp của các địa phương để tăng thành viên; TÐ cao-su Việt Nam được giao quản lý quỹ đất của các doanh nghiệp thành viên để bảo đảm thống nhất sử dụng có hiệu quả đất trồng cây cao-su; một số TÐ được giao quyết định thành lập các TCT trực thuộc…

Continue reading →

LÝ LỊCH TƯ PHÁP DOANH NGHIỆP – SỰ CẦN THIẾT CỦA HỘI NHẬP

BÁO THƯƠNG MẠI – Các văn kiện của Đảng, Nhà nước không những qui định rõ về sự đa dạng trong các thành phần kinh tế mà còn thông thoáng trong việc thành lập Doanh nghiệp. Chính từ sự “dễ dãi” đó nên hàng năm cả nước có đến hàng vạn DN được thành lập mới, thay tên đổi chủ, chuyển đổi hình thức sở hữu…
Đó là điều cần thiết, tuy nhiên trong thực tế cũng bộc lộ nhiều bất cập về phiá quản lí nhà nước khi bên cạnh mặt tích cực thì lắm người lợi dụng cơ chế mở này để lập DN nhằm mua bán hoá đơn, DN bị phát hiện vi phạm pháp luật ở địa phương này chuyển sang địa phương khác thành lập DN; thậm chí có Việt kiều ở nước ngoài bị nước sở tại truy nã vẫn ngang nhiên về nước lập DN cho đến khi bị phát hiện…
Theo Dự luật “Lí lịch tư pháp” mà Uỷ ban Tư pháp Quốc hội đang tổ chức lấy ý kiến vào những ngày đầu tháng 3/2008 dù còn khá nhiều điều cần chỉnh sửa nhưng ý kiến của nhiều chuyên gia cho rằng thể hiện sự tiến bộ về việc xây dựng một nhà nước pháp quyền, đánh dấu bước tiến lớn của nước ta trong phát triển nền kinh tế thị trường cũng như hội nhập kinh tế quốc tế. Điều đó được cụ thể hoá bằng việc hoàn thiện thể chế quản lí lí lịch tư pháp cá nhân theo hai cấp (trung ương và địa phương).

Continue reading →

CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC – DƯỚI GÓC NHÌN PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI BỀN VỮNG

PGS.TS. TÔ HUY RỨA

Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là một trong những hướng quan trọng của quá trình cải cách doanh nghiệp nhà nước – bộ phận không thể thiếu trong thành phần kinh tế nhà nước. Trong đổi mới kinh tế, một vấn đề lớn được đặt ra là phải phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất và từng bước xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất. Để giải phóng lực lượng sản xuất, tất yếu phải phát triển mạnh mẽ nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, chuyển sang cơ chế thị trường và xây dựng thể chế kinh tế thị trường, đa dạng hóa các hình thức sở hữu, trong đó kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo. Muốn vậy, phải đổi mới mạnh mẽ các doanh nghiệp nhà nước. Theo hướng đó, sau nhiều năm tìm tòi và thử nghiệm trong thực tế, Đảng ta đã lựa chọn cổ phần hóa như một phương thức có hiệu quả để đổi mới các doanh nghiệp nhà nước như các Nghị quyết 3 và Nghị quyết 9 của Ban Chấp hành Trung ương khóa IX đã chỉ rõ.

Cho đến nay, với sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ và tinh thần chủ động trong thực hiện của các cấp, các ngành, từ trung ương tới địa phương, tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đã thu được những thành tựu bước đầu đáng khích lệ, đủ để chứng minh tính đúng đắn của sự lựa chọn đó. Tuy nhiên, trong xã hội cũng như trong tư tưởng, nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên vẫn còn có những băn khoăn, lo lắng. Dựa vào những khiếm khuyết thực tế ở một số doanh nghiệp đã cổ phần hóa, có ý kiến lo lắng rằng, đó là cơ hội cho tình trạng chiếm đoạt tài sản của Nhà nước, là một hình thức tránh né thuật ngữ “tư nhân hóa”, là sự thủ tiêu hoặc làm suy yếu vai trò điều tiết nền kinh tế của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,…

Continue reading →

TĂNG CƯỜNG BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA NGƯỜI GỬI TIỀN

TS. NGUYỄN THỊ KIM OANH & THS. LÊ VIỆT NGA

image Chính sách bảo hiểm tiền gửi (BHTG) triển khai ở Việt Nam thời gian qua đã thực sự đi vào cuộc sống, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền.

Mặc dầu vậy, cùng với sự phát triển dịch vụ ngân hàng trong những năm qua, các quy định điều chỉnh việc bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền đề cập tại Nghị định số 89/1999/NĐ-CP trước đây đã bộc lộ bất cập. Ngày 24/8/2005, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 109/2005/NĐ-CP về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 89 về BHTG. Theo đó, quyền lợi của các đối tác tham gia trực tiếp trong chính sách BHTG đã được quan tâm nhiều hơn, đặc biệt là quyền lợi của người gửi tiền.

Bên cạnh việc nâng hạn mức chi trả BHTG từ 30 triệu lên 50 triệu đồng cho một người gửi tiền, Nghị định đã mở rộng đối tượng gửi tiền được bảo hiểm và quy định rõ hơn thông tin về việc tổ chức huy động tiền gửi có tham gia BHTG hay không tới người gửi tiền. Xung quanh vấn đề quyền lợi của người gửi tiền, bài viết này trao đổi cùng bạn đọc 3 khía cạnh có liên quan và mong muốn được quan tâm.

Continue reading →

BẢO VỆ QUYỀN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

PGS.TS. ĐINH NGỌC VƯỢNG

Bên cạnh quan hệ giữa các nhà sản xuất với nhau, quan hệ kinh tế chủ yếu trong xã hội là quan hệ giữa người tiêu dùng (NTD) và nhà sản xuất, kinh doanh, phân phối hàng hoá, dịch vụ. Tuy là số đông, nhưng NTD không được tổ chức lại nên họ khó có sức mạnh, tiếng nói đơn lẻ của họ cũng rất ít được lắng nghe. So với những nhà sản xuất, những nhà chuyên môn, thì ở những lĩnh vực nhất định, NTD kém hiểu biết hơn. Bởi vậy, trong mối quan hệ giữa họ với các nhà sản xuất kinh doanh, NTD luôn đứng ở thế yếu và chịu nhiều thiệt thòi. Có người nói rằng, quyền của NTD Việt Nam hiện nay được bảo vệ kém nhất trên thế giới. Nói như vậy có phần chua xót nhưng lại phản ánh đúng hiện trạng.

1. Thực trạng vấn đề bảo vệ quyền của NTD

1.1 Từ góc độ pháp luật và trách nhiệm các cơ quan nhà nước

Nghị quyết số N /RES/39/248 ngày 16 tháng 4 năm 1985 của Đ ại hội đồng Liên Hợp Quốc đã đưa ra các nguyên tắc bảo vệ NTD, đó là: a) Bảo vệ an toàn cho NTD, không làm tổn hại sức khỏe NTD; b) Khuyến khích và bảo vệ lợi ích kinh tế của NTD; c) NTD có quyền tiếp cận thông tin để có sự lựa chọn có ý thức phù hợp với nhu cầu cá nhân; d) Giáo dục NTD; đ) Quy định thủ tục có hiệu quả cho việc giải quyết khiếu nại của NTD; e) NTD tự do lập tổ chức, nhóm và các tổ chức đó có quyền bày tỏ quan điểm của mình trong quá trình thông qua các quyết định liên quan đến lợi ích của NTD.

Continue reading →

DỰ ÁN LUẬT BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC: E BỒI THƯỜNG KHÔNG XUỂ

  TRỌNG MẠNH

image Vẫn kiến nghị cấp giấy chứng nhận cho người bị oan, sai. Với tình hình cán bộ, công chức còn nhiều bất cập như hiện nay, sợ sẽ bồi thường không xuể.

Nếu như trước đây, Nghị quyết 388 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội chỉ bồi thường thiệt hại do oan thì nay dự luật đã mở rộng theo hướng nhà nước phải bồi thường cả do sai trong tố tụng hình sự nữa”. Ông Dương Đăng Huệ, Vụ trưởng Vụ Pháp luật dân sự-kinh tế (Bộ Tư pháp), nêu quan điểm như trên tại hội thảo lấy ý kiến dự án Luật Bồi thường nhà nước do Bộ Tư pháp phối hợp với chi nhánh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tại TP.HCM tổ chức vào ngày 23/6/2008.

Sai cũng phải bồi thường

Theo ông Huệ, pháp luật hiện hành còn hạn chế các hành vi nhà nước phải bồi thường. Vì vậy, dự luật cần mở rộng phạm vi trách nhiệm bồi thường của nhà nước, nhất là trong hoạt động tố tụng hình sự.

Continue reading →

BỒI THƯỜNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP KHÔNG DỄ

NGỌC HÀ

image Phần 1: Tính giá kiểu nào?

Nhà nước tính theo giá trị sinh lợi của đất. Người mua đất và người bán đất lại tính luôn cơ hội được chuyển mục đích sử dụng thành đất ở hạ tầng cơ sở trong tương lai.

Chiều 10-6, UBND TP đã họp sơ bộ về dự thảo của Sở Tài chính đề nghị hỗ trợ thêm 10% giá đất ở liền kề cho dân bị thu hồi đất nông nghiệp. Vấn đề chưa được gút chứng tỏ dự kiến tăng mức bồi thường để đẩy nhanh tiến độ các dự án không đơn giản.

Nếu kiến nghị trên được Bộ Tài chính thông qua, giá bồi thường hỗ trợ đất nông nghiệp sẽ tăng gấp nhiều lần so với giá hiện tại.

Nhiều dự án “chết đứng”

Dự án mở rộng Trung tâm Y tế huyện Hóc Môn (thị trấn Hóc Môn) đã được UBND huyện này tính toán từ đầu năm 2007. Sau khi khảo sát giá đất và tình hình thị trường, huyện đề xuất giá bồi thường đất nông nghiệp là 700.000 đồng/m2. Cho rằng giá do huyện đề xuất không có cơ sở khoa học, UBND TP yêu cầu phải thuê đơn vị thẩm định giá. Trung tâm Thẩm định giá của Sở Tài chính đã định giá đất của khu vực này khoảng 223.000 đồng/m2.

Continue reading →

5 HỦ TỤC TÀN BẠO NHẤT VỚI PHỤ NỮ TRÊN THẾ GIỚI

vectorsedge-eyeloveyouBLUE Pravda – Công bằng vẫn điều xa lạ với nhiều cô gái trên khắp thế giới ngày nay. Họ đang bị hành hạ, tra tấn bởi các hủ tục đáng sợ. Dưới đây là 5 hủ tục kinh hoàng nhất.

5. Honor Killing (Giết vì danh dự)

Giết vì danh dự là hành vi giết người do một gia đình thực hiện đối với cô gái mà gia đình (hoặc họ hàng, cộng đồng) tin rằng cô ta đã làm mất phẩm giá của họ. Một phụ nữ thường bị trừng trị như vậy khi: từ chối một cuộc hôn nhân sắp đặt, là nạn nhân của một vụ hiếp dâm, tìm cách ly dị (ngay cả khi có người chồng ngược đãi), hoặc ngoại tình.

UNICEF thông báo chỉ riêng ở Ấn Độ, hơn 5.000 cô dâu đã bị giết mỗi năm do của hồi môn bị chê là ít. Trong năm 2004, tục giết vì danh dự đã xảy ra ở nhiều quốc gia khác nhau, như Albania, Bangladesh, Brazil, Canada, Đan Mạch, Ecuador, Đức, Ấn Độ, Iraq, Israel, Italy, Pakistan, Saudi Arabia, Thụy Điển, Uganda, Anh và Mỹ.

Continue reading →